Việt Văn Mới
Việt Văn Mới







RỪNG XANH MÁU ĐỎ





Hắn chưa già nhưng cũng không còn trẻ, ở cái tuổi bốn mươi bốn mấy không ai bảo hắn hồi xuân như phái nữ để có thể làm những công việc của trẻ trai nhưng hắn đã làm được và làm thuần thục nữa là khác. Bơi qua những đoạn sông mùa lũ sóng nước gầm gào hung hãn, chặt những cây to bằng cái rìu bén ngót hay bắt những con voi rừng về thuần dưỡng để kéo gỗ. Hắn là tay thợ rừng cừ khôi.

Theo chân hắn là thằng bé gầy gò nhưng rắn chắc, nước da đen nhỉn màu gỗ lim. Là cháu ngoại của người hàng xóm không còn cha lẫn mẹ. Nó giúp hắn mang cơm nước mỗi lần lên núi bằng cái ba lô cũ kỹ đã rách lỗ chỗ mà nó nhặt được đâu đó, cùng với một cuộn mây chỉ đã ngâm nước cho mềm và cái xà gạc đeo lủng lẳng trên vai.

Hắn trang bị cho mình cái nỏ lớn có cánh bằng tre sống lâu năm trên núi cao dài gần một sải tay, còn thằng bé cũng cái nỏ như thế nhưng nhỏ hơn. Thân nỏ làm bằng gỗ hồng bì, rắn chắc, ít cong vênh nhưng khá nhẹ. Dây nỏ làm từ dây gai, tẩm nước lá thé rồi tuốt cho bóng bằng vải bao bố cho săn nhẵn và có màu đen sẫm. Tên để bắn lấy từ lóng tre đực và phải dài hơn tầm căng của cánh nỏ, lớn cỡ cán bút bi, mũi vót nhọn đôi khi bịt đồng. Tên phải chuốt thật thẳng, có cánh làm bằng lá khô ở đằng đuôi giữ cho tên bay đúng hướng.

Khi nghe tiếng gãy của cành cây khô hay thấy bụi lá chao đảo khác thường, tay hắn hơi giơ lên là thằng bé đi sau phải dừng lại, giữ nguyên trạng và không được nhúc nhích. Hắn lom khom tiến về phía đó bằng những bước chân nhẹ như gió, dây cung đã cài vào lẫy, tên đã đợi trên khe sẵn sàng lao vào con vật nào xấu số.

Bởi vì mũi tên không thể làm cho con vật chết ngay được nên chúng thừa sức cao chạy xa bay, như thế sẽ là công cốc. Hắn tẩm những mũi tên của mình bằng nhựa cây sát cá, nọc độc rắn rít, bò cạp và nước dãi của một loại ốc sên cực độc. Chỉ cần mũi tên găm qua khỏi da con vật, nọc độc sẽ làm cho nó tê liệt ngã lăn ra là hắn và thằng bé có mặt đúng lúc trói gô con vật lại, hay bồi thêm một cú như trời giáng vào đầu bằng sống lưng lưỡi sà gạt và chọc tiết con vật bỏ đi là xong.

- Sáng nay mày giở theo món gì ? - Hắn hỏi thằng bé.

- Thì vẫn khô nục nướng và muối ớt.

- Đã mươi bữa nay chả tóm được con chuột, con cheo nào. Mày để ý xem có bụi đót nào đang héo lá.

- Để làm gì hả chú ?

- Kiếm con nu về nấu giả cầy. Ngon bá cháy mày ơi.

- Nó ở dưới tít hang sâu, làm sao mà tóm được hả chú ?

- Ừ nhỉ, mình đâu có cuốc xẻng gì, mà cũng chẳng có nước để múc đổ xuống.

Mặt trời đứng bóng, họ dừng lại bên bờ suối tắm mát rồi lấy cơm ra ăn. Khẩu phần của mỗi người là một nắm cơm gói trong lá chuối và một con cá khô nướng.

- Mày đem cơm cho tao hoài mà tao chưa có cái gì trả lại mày, ngại quá.

- Có gì đâu mà ngại hả chú, nhà ông cháu cũng còn kha khá lúa.

- Ngại chớ sao không, ông bà ngoại mày già cả rồi.

- Đận trước, chú chia cho cháu cái đùi heo rừng to tướng. Nhín ăn, mua được mấy chục cân gạo đấy.

- Nhưng là mồ hôi nước mắt của mày mà. Hôm ấy tao thấy mày khiêng nó không muốn nổi. Tao thương mày quá, tính chia cho mày nhiều hơn nhưng tao phải dành tiền trả nợ.

- Nếu không có chú thì làm sao cháu có, còn nợ chú trả hết chưa ?

- Còn, nhưng không nhiều.

- Thế là ổn rồi. Chiều nay cháu đãi chú món chuột đồng quay lu chú nhé. Món này nhắm rượu cũng bá…tước lắm.

- Ha..ha…Mày chế biến từ ngữ cũng thấm thía đấy. Coi như tao phục mày.

- Cháu chưa thành người lớn mà chú.

- Cứ gì phải là người lớn mới được nể phục hả mày. Ngược lại, có khi còn đáng tởm hơn nhiều.

- Chú nghỉ trưa đi. Cháu đi kiếm dấu chân xem có “ ông bà “ nào xuống uống nước không chú nhé.

Hắn không trả lời, chỉ gật đầu. Hắn hiểu thằng bé đang nói đến con hươu, con heo…là những loài thú không bị cấm săn bắn nhưng cũng không loại trừ nai, gấu, cọp, beo…

Hắn lấy cái ba lô làm gối, kẹt đá làm phòng, cát làm chiếu và đắp bằng cái nỏ ngang người. Hắn ngủ tư thế ấy nhiều năm rồi nên thành quen, tư thế ấy đủ nhanh để ứng phó với mọi tình huống.

Giấc ngủ đã giúp cho sức khoẻ hắn hoàn phục, còn thằng bé thì đang mải mê câu cá bống núi bằng cái que trúc và sợi dây mắc mèo tước nhỏ ra và gút một đầu lại làm lưỡi câu. Cá bống tạp ăn thấy nút gút đong đưa là táp liền và cứ thế nó giật lia lịa. Khi cá kịp định thần tính há mồm ra để trốn thoát thì đã bị hất văng lên bờ rồi. Nó không vội đi nhặt chúng, bởi nó biết cá gặp cát nóng bám đầy mình thì chẳng còn sức đâu mà lê tới mép nước. Khi hắn ra suối rửa ráy mặt mũi cũng là lúc thằng bé dừng câu. Tính ra, giấc ngủ của hắn bằng cả ký lô cá bống chứ chẳng ít.

- Có thấy gì không ?

- Đi chú, ông gấu thì phải, bàn chân dài và có vuốt nhọn.

Hắn lẽo đẽo theo sau thằng bé lên phía thượng nguồn. Qua khỏi thác nước cao dòng sông bỗng hiền hoà, yên ắng. Rừng như mở ra bởi hai bờ cát trắng như hai con lộ rộng thênh thang. Rừng thưa quá, rất lý tưởng cho bầy thú hoang xuống sông uống nước và quan sát nhưng không có chỗ cho chú cháu hắn ẩn nấp, mai phục. Một vài tẳng đá mồ côi đứng chơ chỏng đây đó kịp biếu cho hắn một ý tưởng không tồi. Hắn hoa mắt bởi đủ loại dấu chân thú, đa phần là loài ăn cỏ, măng hay khoai củ. Hắn nghĩ, thú ăn thịt cũng lởn vởn quanh đây thôi.

- Giỏi lắm, nhưng phải về, chiều rồi. Giờ này chúng không khát nước nữa đâu.

Thằng bé không nói cũng chẳng gật đầu. Nó luôn làm theo mệnh lệnh hắn, như hắn là chúa tể sơn lâm vô cùng uy dũng. Hơn nữa, từ ngày cha mẹ nó mất, hắn là chỗ dựa tinh thần không thể thiếu của nó bởi ông bà ngoại nó đã già quanh năm chỉ biết quanh quẩn bên luống cải, vồng khoai.

Còn bạn bè, trang lứa nó ư. Có, nhưng không nhiều. Vả lại, ai cũng lo cho cuộc sống của riêng mình, ruộng rẫy nhà mình. Mà ruộng rẫy thì xa tít, cách nhà có khi hai, ba xà gạc nên dân làng thường ngủ lại rẫy cuối tuần mới về một lần. Đó là cách tính của thằng bé, một xà gạc tương ứng với khoảng thời gian đã đi mà bả vai đeo nó chịu đựng được, khi mỏi quá hay đau quá thì chuyển xà gạc qua vai khác và được tính là hai. Đó là cách tính khá trừu tượng, nhưng người già đoán được chiều dài của một xà gạc là bao nhiêu.

Về đến nhà, hắn bảo thằng bé ngày mai nghỉ, mốt đi sớm. Thằng bé do dự hồi lâu mới dám thưa thật với hắn :

- Mai cháu phải về quê với người chú họ để làm lại mồ mả cha mẹ.

- Chú mày vô rồi à. Dở thật, hôm nay không kiếm được gì để đãi ông ấy.

- Có chuột quay lu rồi, cũng không tệ lắm.

- Ừ, không tệ.

- Chú qua uống với chú cháu vài ly nhé.

- Sao lại không, nhưng mày phải cho tao góp rượu đấy.

- Nhà cũng có rượu, nhưng tuỳ chú.

Chuột đồng mùa này mập dữ, trụng nước sôi truốt lông vèo vèo. Thui lại trên lửa cho thịt da săn chắc và hết mùi tanh rồi chặt đầu, mổ bụng lấy bộ lòng ra bỏ đi. Ướp với ngũ vị hương, tỏi hành tím băm nhỏ, nước tương, bột ngọt và cốc rượu mai quế lộ nhỏ cùng một muỗng mật ong, một muỗng nước cốt chanh để khi nướng da có màu nâu vàng và giòn. Ngay cả món nấu dân dã nhất như Lá giang nấu với chuột đồng, nửa đêm thức dậy nhớ chồng đi xa là cách nói ví cho món ăn bổ dưỡng này, đồng thời cũng là lời tâm sự kín đáo của nỗi nhớ niềm thương khi mà người vợ phải khắc khoải đợi chờ cũng đủ làm cho ai đó mê mẩn.

Sáng hôm sau, hắn bắt tay vào làm cục đá giả bằng vỏ bao xi măng lộn lại.

- Phải chi có thằng bé ở đây thì hay biết mấy, nhờ nó ngắm nghía xem có giống tảng đá trong tự nhiên không ? Có phát hiện gì khi mình nấp trong đó không ? - Hắn càu nhàu.

Hắn chui vào tảng đá giả khoét nhiều lỗ nhỏ ngang tầm mắt để quan sát bên ngoài. Tảng đá giả khá lớn so với thân hình hắn nhưng lại bé quá so với cánh nỏ dài ngót sải tay.

- Không sao, để nó dưới đất cũng được, mình thừa khả năng ngắm trúng đích qua mấy cái lỗ be bé này. - Hắn nói với chính mình.

Hắn rạch hai đường chữ U để thò đôi cánh tay ra.

- Kiếm đâu ra màu áo trùng với màu bao xi măng này nhỉ. Dễ thôi, làm hai cánh tay bằng vật liệu ấy rồi vò cho nhàu đi là được, khi cử động không phát ra tiếng là ổn. - Hắn lại lải nhải một mình.

- Tao muốn truyền đạt cho chú mày sáng kiến của tao nhưng tiếc quá. Có thể không có lần thứ hai đâu. - Hắn tự nói gở.

Hắn chuẩn bị cơm gạo cho chuyến săn dài ngày bởi hắn nghĩ đến con thú to. Hắn sẽ xẻ thịt nó ra hong khô rồi tải về dần. Hắn không cần lều bạt hay chăn mền, chỉ cần con dao thật bén và cái xà gạc thì hắn sẽ làm xong mọi chuyện. Lửa, không thể không có lửa. Hắn chuẩn bị mấy hộp diêm mới gói trong túi ni lông phòng hờ mưa rừng bất chợt. Hắn háo hức như một cuộc hẹn hò. Hắn lên đường khi đã tính toán kỹ lưỡng, hắn sẽ đến đó trước chín giờ sáng để kịp dựng lại tảng đá giả và ngồi vào mai phục. Hắn biết lũ thú sẽ xuống sông uống nước khi đã ăn no hay mệt mỏi do đói và lúc trời trưa nóng bức. Hắn cũng không quên thoa nước bả trà khắp người để lũ thú không ngửi thấy hơi người dẫu hắn thừa khôn để chọn phục nơi cuối gió.

Cái gì đến tất phải đến. Con gấu ngựa phục phịch như con lừa chửa lọ dọ bò xuống mép sông. Không biết nó có phát hiện ra điều gì khác thường không nhưng đi vài bước là dừng lại. Rướn cổ lên, hai tay quào quào vào khoảng không như hăm he ai đó, mắt long sòng sọc vào từng gốc cây, tảng đá. Khi không thấy gì khả nghi nó mới tiếp tục bước đi. Cứ thế, đi rồi dừng lại quan sát, rồi đi. Hắn nghĩ loài vật cũng có giác quan thứ sáu như hắn, có khi còn nhạy cảm hơn nhiều. Nhờ một giác quan nào đó mà lũ kiến nhận biết và di chuyển lên cao trước khi trời đổ mưa lớn vài ba ngày. Giác quan đó cũng có ở nhiều loài khác nữa, giúp chúng biết trước núi lửa phun trào mà cao chạy xa bay. Giác quan đó con người không có. “ Trái đất này còn quá nhiều điều bí ẩn, con người thật sự đúng chưa khi tự cho mình là thông minh nhất.” Hắn bĩu môi.

Con gấu đã dừng lại nơi mép nước, nó nhìn đàn cá bơi nhởn nhơ mà thèm thuồng. Nó đói. Nó biết nó không thể tóm được một con cá nào bởi nước khá sâu và lũ cá cũng không dại gì tới gần nơi nó đứng. Nó ngắm cá hay ngắm bộ mặt xấu xí của mình qua tấm gương sông.

Rồi khi no nê bằng những chán chường, nó uể oải uống từng ngụm nước sông nhạt thếch. Khi cái bụng không còn càu nhàu nữa, con gấu lên bờ nằm lăn ra tắm cát.

Cơ hội vàng cho hắn đã đến. Hắn ngắm thật chính xác nơi gần tim nhất khi con gấu quay mình qua phía dòng sông để lộ mảng hông bên trái hơ hớ. Phựt. Mũi tên bịt đồng lao vút đi. Hắn vùng dậy hất tảng đá giả ra sau, tra tiếp một mũi tên nữa rồi bắn trực diện vào ngực con thú.

Con thú hầu như không phản ứng gì, tiếp nhận hai mũi tên bằng thứ cảm giác tê tê dại dại. Tay cầm xà gạc, hắn nhào tới bổ vào đầu con gấu một cú mạnh như trời giáng.

Chẳng thể nào cựa quậy nếu nhác bổ trúng giữa đầu, oái ăm thay lưỡi hái thần chết chỉ lấy đi một phần ba khuôn mặt của con thú. Không chết ngay được, lại bừng tỉnh, con gấu tát hắn bằng tất cả sức lực còn lại. Một mảng sườn bên trái của hắn gãy vụn, ổ bụng rách toang hoác, ruột đổ ra ào ào, máu chảy lênh láng. Cú tát hất hắn văng xa mấy mét, nằm bất động như một đống bầy nhầy. Con gấu cũng không thể nào ngồi dậy nổi, vết thương quá nặng, máu ra nhiều nó dần lịm đi.

Không biết hắn còn có thể nhận ra là mọi nọc độc của các loại côn trùng không giết chết được gấu. Cụ thể là nọc của cả đàn ong vò vẽ cũng không làm gì được gấu khi gấu xé tổ ong ra thưởng thức mật và trứng ong non.

Còn hắn làm sao chịu được vài cú chích của loài ong này. Hắn có thể đúng nếu nghĩ chất độc trong mũi tên sẽ làm tê liệt hệ thần kinh trung ương của con gấu trong chốc lát, rồi khi mật gấu tiết ra hoá giải thì các loại độc tố kia có là gì. Con gấu chết bởi nhát bổ của hắn khi mật hoá giải độc tố của mũi tên không nhanh. Hắn chết do con gấu kịp bừng tỉnh khi cú chặt rất mạnh nhưng không hiểm.

Nghiệt ngã quá, rừng thiêng khe khắt quá.

Mấy tuần rồi, cả làng này vẫn yên ắng thanh bình, đâu ai hay biết gì về chuyện hắn bỏ xác nơi rừng xanh. Đến khi thằng bé trở về, mang quà quê qua biếu hắn thì phát hiện ra màn nhện đã giăng đầy trước cửa. Nhiều ngày rồi hắn không về nhà. Thằng bé nghĩ ngay đến những dấu chân gấu to đùng in sâu trên bãi cát dọc thềm sông. Lúc này dân làng mới nhận được thông tin không lành. Họ túa lên núi, mang theo gậy gộc và đuốc ngay lúc trời đã xế chiều.

Thằng bé khóc, vừa chạy dẫn đường vừa khóc. Nó khóc thật lòng, mắt nó đỏ hoe. Nó khóc như ngày nào khóc cha mẹ nó khi cha mẹ nó lìa đời. Nó không nghĩ như ai đó là hắn còn sống và đang ngồi nướng thịt trên bờ sông có nhiều dấu chân thú dữ. Nó thương cuộc đời hẩm hiu của hắn, mạnh bạo nhưng hiền từ, nghèo nhưng trong sạch. Nó thương hắn không mảnh tình rách vá vai. Thương túp lều ọp ẹp của hắn không đủ sức chống chọi với một cơn gió dữ. Nó thương hắn như thương mình.

Rồi khi dân làng gặp được hai bộ xương trắng hếu một của hắn, một của con gấu do các loại thú ăn thịt đã đánh chén từ trước để lại và lốm đốm mùi xác vữa đây đó cũng là lúc thằng bé quỳ phủ phục bên hài cốt hắn khóc than.

Nó ôm bộ xương hắn như ôm người thân. Người ta kịp lôi nó ra xa để hành lễ theo nghi thức của dân làng. Bảy ngọn đuốc được thắp quanh cốt hắn. Không có rượu người ta dùng nước sông rửa sạch cốt rồi dùng lá chuối rừng gói lại mang về. Người ta cũng không quên mang bộ xương gấu về theo.

Đám tang hắn có đông đủ dân làng, người ta an táng hắn ngay giữa túp lều xiêu vẹo của hắn. Trên tường treo tên, nỏ, xà gạc và cuộn dây mây từng oanh liệt một thời. Đó là toàn bộ tài sản mà hắn có. Dưới chân mộ hắn người ta cẩn thận dựng lại bộ xương gấu trong tư thế hầu. Mâm rượu thịt đã được dân làng dâng lên, chiêng cồng đã nổi, thằng bé xin phép ông bà cho nó để tang hắn. Dân làng còn chần chừ thì ông bà nó vừa kịp khoan dung :

- Nó đã đội tang cha mẹ nó rồi, cho nó đội tang cho chú ấy cũng được, chú sẽ ấm lòng nơi suối vàng. Còn chúng tôi con cái, dâu rể, cháu chắt nhiều mà…

Tháng ba mùa con ong đi hoa, chim ruồi cũng rộn ràng tranh phần mật thiên nhiên hiếu hỷ. Thằng bé tháo khăn tang quấn lên đầu bộ xương gấu rồi ra về, lòng nó nặng trĩu buồn đau. Có lẽ nó đã thấm thía câu ngạn ngữ “ ăn của rừng rưng rưng nước mắt “ mà ông cha ta từng trải nghiệm và đúc kết nên lời, khuyên nhủ đời sau không dấn thân vào chốn nguy nan vất vả kia.

Với nó, từ bỏ công việc đi săn là cả một sự đánh đố với cuộc sống không chỉ giữa no và đói, giữa giàu và nghèo mà là mạng sống. Mạng sống mới là tất cả, không có mạng sống thì còn làm được gì.

Người ta chỉ hy sinh mạng sống của mình cho đất nước, cho giống nòi, cho người thân chứ không ai đem mạng sống của mình ra đánh đố với dăm cân thịt rừng chỉ để thoả tính phàm ăn của kẻ lắm bạc nhiều tiền.

Nó yêu nghề lắm, chưa bao giờ nó có ý định xa nghề nhưng hôm nay thì khác. Mọi sự đã thay đổi, thần tượng của nó đã sụp đổ, người thân của nó đã không còn. Nó quyết từ giã cái nghề cướp cạn này, dẫu chỉ cướp đi những sản vật tầm thường, bé nhỏ của núi rừng nhưng cái giá phải trả thì quá đắt : mạng sống.

Tạo hoá đã rất công bằng khi không cho ai đó quyền lấy thiên nhiên làm của riêng mình. Nó cũng không thể là ngoại lệ.

_____________________________
(*) Cây xà gạc có phần lưỡi hơi cong, phần cán được làm bằng củ gốc và thân tre già, dài chừng 1 m, ruột rỗng nhỏ đút vừa ngón tay cái.