Việt Văn Mới
Việt Văn Mới

Du lịch Xứ sở của Triệu Voi (Lán Xạng)

– Vùng đất mới vươn lên trong khu vực Đông Nam châu Á.


I- Đặc điểm tình hình ba nước Đông Dương :

Việt Nam – Lào – Campuchia là ba nước Đông Dương có chung dòng sông Mê Công và dãy Trường Sơn hùng vĩ chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam đã từng nổi tiếng trong thời kỳ thuộc địa của Pháp đồng thời trong cuộc chiến tranh giải phóng giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước thời kỳ chống Mỹ cứu nước.của ba dân tộc có mối quan hệ hữu nghị khắng khít thắm đậm tình nghĩa anh em lâu dài.

Nếu ngày xưa, ba nước Đông Dương cùng chịu chung số phận bị thực dân Pháp xâm lược và cai trị gần 80 năm (từ năm 1858 tới năm 1975) thì ngày nay ba nước liền biên giới, liền sông núi đã gắn bó với nhau trong khối Asean.

Tên nước: Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Thủ đô: Viêng-Chăn (Pháp:Vientiane).

Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp Trung Quốc 416 km đường biên; Tây Bắc giáp Mi-an-ma 230 km; Tây Nam giáp Thái Lan 1.730 km; Nam giáp Căm-pu-chia 492 km và phía Đông giáp Việt Nam 2.067 km đường biên.

Diện tích: 236.800 km 2. Dân số: 5.821.998 (tính đến tháng 7/2007), nữ chiếm 50,2%.

Lào có 68 bộ tộc chia làm 3 hệ chính là Lào Lùm (sống ở đồng bằng) chiếm 65% dân số; Lào Thâng (sống ở lưng chừng núi) chiếm 22% và Lào Xủng (sống vùng núi cao) chiếm 13% dân số.

Địa lý hành chính: Lào có 16 tỉnh, 1 thành phố (Thủ đô Viêng-chăn)

Khí hậu: Lục địa, chia làm hai mùa là mùa khô (từ tháng 11 đến tháng

6) có độ nóng cao do gió Tây thổi từ Ấn Động Dương sang tràn quan Việt Nam, nên gọi gió Lào và mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 11).

Tôn giáo: Đạo Phật chiếm 85%, được xem là Quốc giáo.

Ngôn ngữ: Tiếng Lào thuộc hệ Môn-Khơ me, có quan hệ với ngôn ngữ Khmer và Thái Lan.

II- Đôi nét về lịch sử :

Trước thế kỷ 14, lịch sử Lào không được ghi chép rõ ràng, chủ yếu là theo truyền thuyết, theo đó thì vào khoảng thế kỷ thứ 7 (năm 658) "Khun Lo" lập nước tại Mường-xoa (Luông Pha-bang – Pháp : Luang Prabang ngày nay). Sáu người em của Khun Lo chia nhau cai trị các tiểu vương quốc lân cận.

Vào thế kỷ thứ 14 (năm 1353) Vua Phà Ngừm thống nhất các Tiểu vương quốc (Hủa-phăn, Mương-phương, Viêng chăn, Chăm-pa-xắc...) thành Vương quốc Lạn-xạng (Triệu voi) bao gồm diện tích hiện nay và vùng I-xản (18 tỉnh Đông Bắc Thái Lan) cùng một phần tỉnh Stung-treng (Đông Bắc Căm-pu-chia). Vua Phà-ngừm đã xây dựng chế độ phong kiến tập trung, đây là thời kỳ rực rỡ nhất của lịch sử phong kiến Lào. Đầu năm 2003, lần đầu tiên Lào tổ chức lễ kỷ niệm vua Phà Ngừm.

Giữa thế kỷ 16, vào thời Vua Xệt-tha-thi-lát đã rời đô từ Luông pha-bang về Viêng chăn (1556). Cũng vào thời kỳ này (1559-1571) Vương quốc Lạn-xạng bị Miến Điện xâm lược 3 lần. Nhân dân Lào kiên cường nổi dậy khởi nghĩa chống ách thống trị của Miến Điện và đến năm 1581 giành lại độc lập. Sau đó dưới thời Vua Xu-li-nha-vông-xả, đất nước Lạn-xạng được khôi phục về mọi mặt. Sau khi Vua Xu-li-nha-vông-xả mất, các thế lực phong kiến nổi lên tranh giành chính quyền. Năm 1713 Lạn-xạng bị chia thành 3 vương quốc là Luông Pha-bang (miền Bắc), Viêng chăn (miền Trung) và Chăm-pa-xắc (miền Nam).

Năm 1778 Xiêm đưa quân sang đánh Lào. Năm 1779 đất nước Lào Lạn-xạng trở thành thuộc địa của phong kiến Xiêm. Nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Vua A-nụ đã vùng lên chống lại ách đô hộ của phong kiến Xiêm và bị nước này chiếm đóng 18 tỉnh nằm phía tây sông Mê Công.

Từ 1893-1945, Pháp đô hộ Lào. Trong thời kỳ này đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới sự lãnh đạo của Phò Ca đuộc, Ông Kẹo, Côm-ma-đắm, Chậu-phạ-pắt-chay nhưng đều thất bại. Đáng chú ý là năm 1892, sau cuộc chiến tranh Pháp-Xiêm, Pháp đã ký một hiệp ước bất bình đẳng gây thiệt hại cho Lào là cắt vùng I-xản (các tỉnh Đông Bắc Thái lan hiện nay bao gồm 18 tỉnh) cho Thái lan, lấy sông Mê-công làm biên giới.

Ngày 12/10/1945, nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Lào It-xala đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền và tuyên bố độc lập. Từ 1953-1974, tiến hành kháng chiến chống Mỹ. Thời kỳ này có 3 lần hòa hợp dân tộc (lần thứ nhất: 18/11/1957; lần thứ hai: 23/06/1962; lần thứ ba: 5/04/1974). Ngày 2/12/1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhân dân Lào lật đổ chế độ Quân chủ lập hiến. Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào ra đời.

III-Tham quan du lịch các di tích :

Cùng chung quốc giáo với Thái Lan, Campuchia nên khi tham quan du lịch Lào các tổ chức “tua” đều thiết kế tham quan các di tích của hệ thống chùa, trong đó nhiều chùa cổ xưa nổi tiếng thường gắn với lịch sử phát triển đất nước.

Từ Việt Nam đi tua sang Lào thường theo ba tuyến đường giao thông đường bộ :

1-Phía Tây Nam Bộ : từ Thành phố Hồ Chí Minh theo đường QL 13 qua Bình Dương tới Bình Phước theo đường QL 14 (đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa) qua Campuchia dọc theo phía đông sông Mê Công lên miền Nam Lào qua thác Khône thuộc tỉnh Strung Treng hoặc lên Tây Ninh qua cửa khẩu Xa Mát (gần Trung ương cục miền Nam trong thời chống Mỹ) sang Campuchia thuộc tỉnh Komphong Thom, Kompong Cham (thành phố có nhiều dân tộc Chăm định cư từ thời kỳ vong quốc thế kỷ 17) lên Strung Treng sang Nam Lào.

2-Phía Tây miền Trung Việt Nam : Từ Đông Hà (Quảng Trị) theo đường 9 qua cửa khầu Lao Bảo tới Thakhet, theo đường 13 tới thủ đô Viêng-Chăn.

3-Phía Tây miền Trung Việt Nam : từ Đồng Hới (Quảng Bình) theo đường 12 và từ Vinh (Nghệ An) theo đường 8 sang Lào.

Ngày nay, tua du lịch đất nước Triệu Voi thường được tổ chức đi theo tuyến thứ 2, xuất phát từ thành phố Đông Hà (Quảng Trị). Muốn tới Đông Hà du khách từ thành phố Hồ Chí Minh thường đáp máy bay tới thanh phố Đà Nẵng để rút bớt thời gian du lịch trong nước, dành nhiều ngày đêm sống trên đất nước bạn.

Nhưng từ Đà Nẵng đi đường bộ tới Đông Hà, du khách đã trải qua rất nhiều di tích lịch sử - văn hóa có một bề dày rất đáng tự hào của dân tộc Việt Nam. Thành phố Đà Nẵng (người Pháp gọi Tourane) gần kề với phố cổ Hội An (người Pháp gọi Faifo) đều có một quá trình lịch sử mở rộng đất nước và giao thương với thế giới vô cùng kỳ thú. Bên cạnh đó còn có danh lam thắng cảnh Non Nước – Ngũ Hành Sơn kỳ bí. Không xa lắm, du khách nước ngoài vô cùng thích thú với di tích cổ đền tháp có kiến trúc nghệ mỹ thuật đặc biệt của Ấn giáo (Hinduism) Mỹ Sơn và kinh đô phế tích Trà Kiệu – thành phố Sư tử (Simhapura) với chùa cổ Phật giáo Đồng Dương (Indrapura) của dân tộc Chăm từ thế kỷ thứ 6 - 8.

Đà Nẵng ngày xưa ngăn cách với Huế - Thừa Thiên bởi đèo Hải Vân trên dãy núi Bạch Mã có độ cao như Đà Lạt mà ngày nay có đường hầm đèo Hải Vân dài hơn 5 km đã rút ngắn thời gian vượt đèo hơn 5 giờ. Thành phố Huế có cố đô Huế của triều đình nhà Nguyễn từ năm 1802 tới năm 1945 hiện nay là di sản thế giới được UNESCO công nhận cùng với Mỹ Sơn. Chính nhà Nguyễn đã dày công mở đất phương Nam từ đèo Ngang tỉnh Quảng Bình trở vào kéo dài tới mũi Cà Mau và giáp giới với Campuchia tại Hà Tiên. Trước khi tới lập nghiệp mở nước, chúa Nguyễn Hoàng đã định cư ban đầu ở Ái Tử (tỉnh Quảng Trị) còn gọi Dinh Cát sau khi nghe theo lời sấm chỉ dẫn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm :”Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Hoành sơn một dãy có thể dung thân muôn đời).

Quảng Trị ngày nay có di tích Thành cổ ghi dấu cuộc chiến đẫm máu vào mùa hè lửa đỏ năm 1972 diễn ra giữa quân đội miền Bắc và miền Nam dữ dội gấp nhiều lần so với cuộc phân tranh gần một thế kỷ giữa Trịnh – Nguyễn hồi thế kỷ 16-17 mà chúa Trịnh muốn ngăn chận bước tiến về Nam của chúa Nguyễn. Nhưng lịch sử mở nước của dân Việt anh hùng luôn theo hướng thuận chiều từ Bắc vào Nam. Xưa nhà Nguyễn đã tiến về Nam đề thống nhất đất nước liền dải từ Nam Quan tới Cà Mau mặc dù có một thời gian ngừng lại do sự kiện ra đời của ba anh em nhà Tây Sơn chiếm giữ đất nước trong một thời gian ngắn chỉ vài năm để giải quyết họ Trịnh vua Lê ở miền Bắc đồng thời “dạy” cho triều đình phong kiến Mãn Thanh trước khi tiêu vong một bài học cái tội đi xâm chiếm nước bạn, ỷ lớn nuốt bé!

Sự can thiệp của Mỹ đã tạo thêm khó khăn một thời cho chính quyền dân chủ mới VNDCCH ở miền Bắc (chấm dứt triều đình phong kiến nhà Nguyễn) chi viện miền Nam trong hai mươi năm (1955-1975) nhưng cuối cùng chiến thắng chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam đã thành công đề thống nhất đất nước một lần nữa, cách nhau trên 300 năm đem lại hòa bình vĩnh viễn cho Việt Nam và hội nhập vào thế giới trong thời kỳ mới. Trong hai mươi năm chống Mỹ cứu nước, quân dân miền Bắc phải mở thêm hai con đường chi viện cho miền Nam nổi tiến một thời : đường mòn Hồ Chí Minh vượt Trường Sơn, dài và rộng nằm bên này và bên kia Trường Sơn có lúc phải mượn đường vượt qua đất nước Lào và Campuchia anh em, đường Hồ Chí Minh trên biển song song đã đưa nhiều cán bộ tập kết và súng đạn về Nam làm nên chiến thắng vĩ đại giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975.

Vùng đất miền Trung nằm dọc theo dãy Trường Sơn là lưng vai của hai nước Việt – Lào mang một dấu ấn lịch sử trong tinh thần đoàn kết gắn bó của ba nước Đông Dương xưa và nay.

Ngày nay, ba nước Đông Dương còn mở rộng giao thương và đoàn kết hữu nghị với hai nước Thái Lan và Myanmar tạo ra một khối năm nước trong ASEAN gồm 10 nước có một thế và lực mà nhiều nước trên thế giới không thể nào có thông qua con sông Mê Công chạy dài từ Bắc xuống Nam làm cốt lõi cho năm nước Đông Dương mở rộng.

Có du lịch đất nước Triệu Voi ngày nay, chúng ta mới thấy rõ sự đổi mới của đường 9 Nam Lào trên đất nước Việt Nam tới đất nước Lào từ bờ biển Đông chạy dài tới bờ Đông sông Mê Công, qua đó nhận diện rõ nét sự phát triển của thành phố Đông Hà, Cam Lộ, Dakrong, Làng Vây, Khe Sanh và Lao Bảo (phía Việt Nam) thanh bình nằm hai bên cánh gà của cung đường 9 Nam Lào lộng lẫy xuyên rừng băng qua đỉnh Trường Sơn lộng gió với nắng sớm mưa chiều xinh đẹp hình như không còn bóng dáng của ngày xưa đầy chinh chiến và chết chóc. Từ cửa khẩu Lao Bảo – Đen Sa Vẵn, chúng ta bắt đầu vượt biên giới hai nước để sang đất nước Triệu Voi, nơi đây còn có tên Vành đai Thiên đàng.

Rời đường 9 Nam Lào, đoàn tới thành phố Thaket có nhiều ngôi nhà cổ mang kiểu dáng kiến trúc lãng mạn Pháp cổ - nằm bên dòng sông Mê Kông mà bờ bên kia là thành phố Nakhon Phanom của Thái Lan. Nơi đây, vào năm 1929, nhà hoạt động cách mạng Nguyễn Ái Quốc từ tới đây trước khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương 3/2/1930 ở Quảng Châu (Trung Quốc) nay là Đảng Cộng sản Việt Nam trong vài ngày nhưng đã để lại nhiều chứng tích lịch sử quan trọng còn lưu giữ tới ngày nay. Nhân dân ba nước Trung Quốc, Thái Lan và Lào đều có đài tưởng niệm và nhà trưng bày dành nhiều trang trọng cho vị lãnh tụ danh nhân lịch sử thế giới Hồ Chí Minh.

Cuộc hành trình của đoàn còn tiếp tục viếng thăm thủ đô Viêng Chăn để chiêm ngưỡng các công trình lich sử - văn hóa như tham quan Vườn Tượng Phật với hàng trăm tượng Phật huyền bí pha trộn hai tôn giáo Phật và Hindu nằm trong vườn cây âm u bên dòng sông Mê Kông mà đối diện kia cũng có ngôi vườn thứ hai tương tự nhưng hoàng tráng hơn thuộc tỉnh Nong Khai (Thái Lan) do cùng một nhà sư sáng tạo sau ngày du học Ấn Độ trở về, chùa vàng Thát Luỗng (có lưu giữ xá lợi Phật) có năm sinh cùng với thủ đô Viêng Chăn (1560), Khải hoàn môn Patuxay, chùa Sisaket cổ kính xây dựng từ năm 1818 lưu giữ trên 6 ngàn tượng Phật và nhiều kinh sách cổ viết bằng trên lá cọ, chùa Ho Pha Keo là ngôi đền tiền triều phong kiến Láng Xạn của vương quốc Lào có kiến trúc đặc sắc với nghệ thuật cao, nơi lưu giữ Ngọc lục báo vật quốc gia cổ của Phật nhưng nay không còn do bị quân Xiêm cướp đưa về Băng Cóc cất giữ tới nay.

Chùa đền này trở thành một bảo tàng có nhiều tượng Phật điêu khắc đầy vẻ huyền bí và có lối kiến trúc mang đậm nét nghệ thuật Lào, khác với Thái Lan và Campuchia. Đoàn còn tham quan và mua sắm ở cửa hàng miễn thuế nơi cửa khẩu Viêng Chăm – Nong Khai do vợ chồng một thương gia họ Đào gốc ở Vinh (Việt Nam) sang làm ăn từ thời trước cách mạng tháng Tám 1945 và nay trở thành nhà doanh nghiệp lão thành (trên 80 tuổi) giàu nhất nước Lào (có cửa hàng miễn thuế ở các tỉnh thành lớn và cửa khẩu) rất có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, trong đó có sản xuất nhiều mặt hàng nổi tiếng thế giới như trà, cà phê Đào Hương (có tiếng như cà phê Trung Nguyên). Đoàn có nhiều dịp ngắm nhìn toàn cảnh sông Mê Kông ở thành phố Savanakhet Hạ Lào quê hương của Chủ tịch Cayxỏn Phumihan, Thaket Trung Lào và thủ đô Viêng Chăn.

Từ một quá khứ đau thương do đất nước và dân tộc bị thực dân xâm lược chia cắt mà ngày nay, con người Lào đã trở nên trầm lặng, phong cách lối sống giản dị, chậm rãi, không đua đòi, tranh cãi nhưng lịch sự, lễ phép và mến khách. Cả thủ đô nhiều xe ô tô giao thông trên đường phố như vậy mà không có tiếng còi, không kẹt xe và không tai nạn.

Trong 6 ngày đi lại nhiều tỉnh thành và thủ đô Viêng Chăn có chiều dài trên 450 km từ Nam lên Bắc qua Trung hầu như không trông thấy một bóng dáng nào anh bộ đội hay một cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước và trật tự giao thông.

Với đất nước và con người khiếm tốn, dễ thương như vậy nên rất có nhiều quốc gia láng diềng trợ giúp để đưa đất nước triệu voi hòa nhập vào khu vực và thế giới, làm xóa nhòa nỗi đau thương, hận thù ám ảnh qua nhiều năm tháng của một vương quốc được lập quốc từ thế kỷ 16 sau công nguyên.