TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).






BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN -1. E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - 1. E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 7









Mời bạn mở nhạc để nghe
Có Phải Muà Thu Hà Nội




















THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN


Chân thành cảm tạ anh Thế Phong đã cho phép đăng tải.
Từ Vũ


lá thư E-mail 7
_________________


Lá thư ngỏ gửi Ô. Khai Trí ,
soạn giả TUYỂN TẬP THƠ TÌNH
VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI CHỌN LỌC
1114 trang, khổ 14x19cm,
NXB Thanh Niên, Hà Nội 1998.
Ngày 1.9.1998




“Mến gửi anh Thế Phong,

“Thật là một niềm vui lớn đến với tôi khi nhận được thư hồi âm với lời lẽ dịu dàng và đầy cảm tình, vì đối với tôi, không gì quí hơn là tình bạn. Ông Rigaud có nói "Ai có được một người bạn thân là có một kho tàng lớn". Tôi đã để mất và bây giờ nhận lại được kho tàng. Đó là một niềm vui lớn … (… )

Ô. KHAI TRÍ

Nhớ lại năm 1996, tháng 9 tây, Thằng Phải Gió đi đưa đám tang nhạc sĩ Lê Thương, khi ấy đang quàn ở đường Bùi Viện. Đây đó, nhà thơ Nguyễn Hải Phương, Hoàng Hương Trang, Kiên Giang - Hà Huy Hà, Thượng Sỹ, Giang Kim, Ông Khai Trí đi xe đạp đến, nhe răng, nhưng không phải cười, hỏi:
- Thằng Phải Gió, anh có sách mới ra sao không tặng tôi?
Tự dưng, Thằng Phải Gió nổi quạu, nhìn bản mặt đáng ghét, lời nói xấc xược không phải lối. Thân, hẳn chưa nhiều, làm sao người viết sách mỗi lần in xong phải gửi đến, hoặc chỉ để nhận sách tặng một đôi lần như Ô. Khai Trí đã quá nhiều. Bèn hỏi lại:
- Ông là cái đếch gì, mỗi khi tôi có sách ra, phải nhớ tặng ông?.
Văn nghệ sĩ cũ của Sài Gòn, họ già rồi, nhưng không hiểu sao thính tai vậy, Thượng Sỹ gần 90, nói lớn:
- Thôi, anh bị phạt rồi, không tặng sách thì thôi, sao nặng lời với bạn vậy?
- Thưa, chữ nghĩa Việt vốn là khó. Cầm bút như anh, trên dưới sáu chục - như tôi trên dưới bốn mươi. Chưa dám nói là hiểu rõ nghĩa và chữ được viết ra, gọi là sách vở. Thế này, nhà Ngự sử văn đàn nhé, biết nhau chưa phải là quen - chỉ quen nhau mới biết - có sinh chưa chắc sống, những đứa trẻ sinh ra mà chưa được sống với đời, như bạn bè mà Ngự sử vừa ra tiếng, ông này với tôi mới là bè - nếu đã bạn hẳn còn phải nghĩ lại!…. Có anh hồn nhạc sĩ tiền phong tân nhạc đây, ông Lê Thương chỉ tin bè, bị mất cắp cuốn bản thảo Danh Từ Âm Nhạc cho cháu chắt, chít chít Tống Giang - Nếu Tống Ngọc Hạp này là hậu duệ đời rất xa thuộc giòng họ 108 vị Lương Sơn Bạc xưa.
Trời chưa mưa, bỗng tối sầm trên mặt ông Ô.Khai Trí. Mỗi anh chị em văn nghệ cũ buông lời can cho câu chuyện bị đánh loãng đi. Đám tang đưa đến nhà thờ Huyện Sĩ linh mục cha xứ làm phép theo nghi thức Thiên chúa giáo La mã. Rất nhiều vòng hoa tang dựng bên ngoài nhà thờ. Có cả một số nhà báo đến tham dự, hoặc là người nhà, tôi không rõ. Có một anh đeo máy ảnh, mặc áo kiểu như phi công xưa, áo lưới phía ngoài áo bay, đây là áo lưới ngoài áo sơ mi. Những chiếc túi ở áo lưới, nào sổ tay, phim, bút máy đủ loại dắt trên túi áo đầy. Chẳng cần anh phải ngồi viết bài, như tôi đang thấy chữ nghĩa đang vây quanh dầy đặc áo phóng viên. Anh lại phía tôi, hỏi với giọng làm quen và khai thác tư liệu nghề nghiệp:
- Bác đây lúc nãy nói với cụ Ngự sử văn đàn về chữ và nghĩa. Bác nói từng cầm bút cũng hơn đời cháu bây giờ. Xin bác có thể cho phép cháu chụp một tấm ảnh bác đi đưa tang nhạc sĩ, và hỏi vài câu được không?.
- Chẳng có gì cho phép hay không cho phép. Nghề cầm bút bốn mươi năm nhưng 20 năm gián đoạn làm nghề phụ xe như anh thấy vừa rồi hai chiếc xe bus đưa tang đây, anh lái xe tên Hoàng ra mời bố thuốc lá. Bởi xưa kia tôi với anh có thời gian cùng ở đội 1, Công ty xe khách thành, 190 Hùng Vương, quận 5.
- Bác nói chỗ ngoại kiều mua đất đang xây nhà cao tầng gọi là Thuận Kiều Plaza đấy phải không?.
- Đúng.
Anh chụp ảnh xong, chưa đợi tôi nói, anh cầm bút ghi những điều sắp sửa thốt thành lời của tôi.
- Tuổi bác ngoài 60, như thế là khỏe.
- Cũng nhờ có hai mươi năm làm nghề xe, như vừa nói với anh. Anh cho tôi điều kiện này, nếu đồng ý, tôi trả lời.
- Coi tôi một người xưa có cầm bút, nay phụ cho người cầm vô lăng. Tên tôi Đổ Xập Tường. Bởi tên cha sinh mẹ đẻ là Tường. Dân miền Nam thường gọi là Xập Tường, họ Đỗ - bởi miền Nam gọi Đỗ là Đổ, khác với dân Thanh Nghệ, Đỗ là Đậu. Giả thử tôi sinh ở Thanh, cha mẹ tôi khai sinh là Đậu Xập Tường, bạn bè miền Nam sẽ gọi tôi là Đậu Leo Tường, chứ không là Đổ Xập Tường.
- Bác nói hơi dài dòng, nhưng cháu đồng ý để tên như bác yêu cầu, nếu bài được Tổng biên tập duyệt. Sao bác gọi nhạc sĩ Lê Thương có bè, mà không bạn với Tống Ngọc Hạp?. Cháu có nghe ông bố cháu nói quen tên ông này, cũng là nhạc sĩ phải không bác?.
- Đúng, sau này ông lọt vào Báp tít Ân điển với tên khác là Trần Bửu Đức, sáng tác thánh ca in trong tập Phúc Âm Ca.
- Cháu nghe tên Hội Thánh rất lạ, có giống Tin Lành, Cơ đốc phục lâm không?.
- Tin lành thì được, Cơ đốc cũng đúng nhưng không Phục Lâm.
- Có lần tôi hỏi nhạc sĩ Lê Thương về việc ông bị đánh cắp bản thảo. Ông đáp rất dịu dàng: "Lúc đầu tôi cũng bực nhưng chuyện đã lỡ, chẳng làm gì được. Ông có nghe nhạc của Nguyễn Thiện Tơ bao giờ không nhỉ?". Tôi đáp "Không, nhưng biết mà chưa quen tên. Ông này ở lại Hà Nội năm 1954". Ông Lê Thương đáp: “Đúng, người tình đầu tiên tưởng là bạn đời của tôi, ai ngờ ông ấy tài hơn tôi, lấy được người đó làm vợ ông”.
Một buổi rất tình cờ trước 1975 vài năm, tôi đến đón nhạc phụ tôi học thần học ở viện Báp Tít Thần Học trên đường Nguyễn Huy Lượng, đối diện Bệnh viện Ung bướu bây giờ. Khoảng bốn rưỡi chiều, tôi đang ngồi, một bác từ trong biệt thự đi ra hỏi:
- Cậu đến viện thần học đón ai?.
- Dạ thưa bác, bố vợ tôi.
- Tên bố vợ cậu là gì?.
- Nguyễn Quốc Bảo ở Hội thánh Báp tít Trung tín Đà Lạt.
- Ông giáo Bảo sắp ra, còn họp với mấy giáo sĩ. Cậu có là tín hữu Hội thánh Báp tít Ân điển không?.
- Chỉ có vợ tôi là hội viên, còn tôi, không.
- Hèn nào cậu không biết tôi là phải?.
- Tôi chưa biết bác, nhưng bác có thể cho tôi được hân hạnh biết phương danh bác không?.
- Tôi là nhạc sĩ Trần Bửu Đức, tác giả nhiều bài Thánh Ca, trong Phúc âm ca()
- Thưa bác, tôi đưa vợ đi nhóm, tập hát thánh ca, tôi thấy phương danh bác in trong sách nhạc.
- Cậu nhận thấy nhạc thánh ca của tôi trội hơn hết không?.
- Thưa chưa. Nhưng nếu nhạc của ông Trần Bửu Đức nào đó hay, được nhiều người biết, hẳn không thể tác giả lại phải tự khai rằng nhạc thánh ca đó hay.
- Cậu ăn nói nghe tàm tạm được. Cậu nên tin Chúa, để hát nhạc thánh ca của tôi. Sao vợ cậu là tín hữu Hội thánh Báp tít mà cậu lại chưa?. Phải gọi người tin Chúa là tín hữu, chứ không phải hội viên. Cậu nên tin Chúa đi, không vợ cậu sẽ mang ách với kẻ chẳng tin (). Tôi muốn biết mục sư nào làm chủ hôn khi vợ cậu tin Chúa, còn cậu thì chưa?.
- Thưa bác, dễ. Mục sư Mỹ Roberston ở Đà lạt làm chủ hôn. Tôi lấy vợ vào ngày 30 tháng 01 năm 1966. Tối hôm trước, mục sư Mỹ mời tôi đến Trần Bình Trọng Đà Lạt, dặn tôi học thuộc mấy câu Kinh thánh, thế là được. Bác có biết bà Betty Merell không?. Bà này nói rằng: "…Một là cô Khê dắt được một người về với Chúa; Hai là Chúa mất đi một tín hữu trung tín…".
- Bà này tôi biết, Chủ tịch Âm Nhạc của Hội thánh Báp tít Ân điển. Chính bà mời tôi làm nhạc thánh ca, còn nói nhạc của ông (tức là tôi) ăn trùm loại nhạc thánh ca mới sáng tác hầu việc Chúa sau này.
- Bây giờ tôi hỏi câu này, xin bác chỉ giáo. Đúng, không sao; sai, xin bác tha thứ.
- Cậu cứ hỏi?
- Bác có phải là nhạc sĩ xưa có tên Tống Ngọc Hạp?.
- Sao biết?
- Người ta kể lại, ông nhạc sĩ này rất giỏi, đẹp trai, còn là đạo diễn. Nữ diễn viên điện ảnh ở đường Ngô Đức Kế tên là Thu Trang rất mê ông ta – hay ngược lại – Nhưng người hàng phố thấy ông ta thường đến dãy phố này hoài hoài, mắt ngó lên lầu một. Sau cô đi Pháp, ổng theo và mang cả bản thảo cuốn sách của một nhạc sĩ tài ba khác coi như của mình.
- Láo, rồi sao?
- Ông nhạc sĩ họ Tống xóa tên Lê Thương, cũng không thèm sửa một chữ nào, chỉ ký tên Tống Ngọc Hạp vào đưa cho nhà xuất bản Minh Tân in ở Pháp.
- Cậu ăn nói láo lếu. Nếu là Tống Ngọc Hạp như cậu nói, tôi không tha, còn truy tố cậu ra tòa về tội danh phỉ báng vô cớ.
- Thế bác không phải Tống Ngọc Hạp?
- Tôi là nhạc sĩ Trần Bửu Đức.
- Trả lời tôi lúc nãy, khi hỏi có phải là nhạc sĩ Tống Ngọc Hạp, thì bác trả lời bằng câu vừa đáp vừa hỏi: sao biết?, có nghĩa đúng bác, và có thể không phải bác; khi chính bác thấy không có lợi.
- Cậu lý luận cũng khá, giống như con tôi vậy. Nhưng nếu tôi nhận thì sao?
- Tôi hỏi thực, bác có đánh thó bản thảo của nhạc sĩ Lê Thương, rồi đưa cho bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà in không?. Là con cái Chúa, dầu bác ăn cắp, bác khai tội trước Chúa, hứa sẽ không làm như vậy nữa, bác sẽ được Chúa phiếu sạch tội.
- Thế ra cậu là tín hữu đấng Christ?. Trước khi đó, cậu có từng ăn cắp không?.
- Có, tôi xoáy tiền của bạn đến hai lần, với hai người khác nhau. Một là nhà triệu phú Trần Hoài, ông này nổi tiếng viết văn, viết báo ký đại danh Trần Phoóng, sau trông coi tạp chí Văn. Còn người kia, một sinh viên văn khoa, học theo lối auditeur libre ở Đại học Văn khoa, thời giáo sư Thục, chủ nhiệm báo làm Khoa trưởng.
- Cậu lầm rồi, tôi chưa bao giờ là Tống Ngọc Hạp. Lát nữa, bố cậu ra đây, tôi sẽ nói với ông ta có con rể mất dạy cần phải dạy dỗ lại. Tôi với bố cậu là bạn tri kỷ. Cậu muốn được tha tội, quì gối xuống xin lỗi, tôi tha.
- Quì gối xin bác tha lỗi; nếu tôi có lỗi thật. Tôi sẽ làm điều này khi bác cũng dám nhận lỗi. Bởi bác sáng tác thánh ca cho tín hữu Báp tít tôn vinh danh Chúa – nhạc sĩ tài danh như Trần Bửu Đức, hậu thân Tống Ngọc Hạp đạo bản thảo của Lê Thương, lại không nhận tội?. Bây giờ hãy nhận tội trước tôi – trừ Chúa, có ai biết đâu?.
Bố vợ tôi vừa bước ra, ông lôi tôi sềnh sệch theo. Và ông phân bua với bố tôi, nếu không nể ông – thằng trời đánh này không những no đòn, còn phải ra tòa trả lời tội phỉ báng, vu cáo, đặt điều cho người khác mà người ta không hề có.

Nhà báo cảm ơn, giữa lúc này, Ô. Khai Trí mặt hầm hầm nhìn tôi. Kẻ thù hiện tại của tôi, không phải nhạc sĩ nào đó – chính người đang dắt xe đạp đi sau đám tang.

Cách hai hôm sau, hay ba gì đó – thư đề ngày 22 tháng 9 năm 96, ngày 24 tháng 9, tôi nhận được lá thư viết trên khổ giấy 21x33, viết với giọng của một người giận tôi hết nhẽ; đưa ra lập luận kiểu Dale Carnegie. Như không làm cho bạn mình mất mặt chỗ đông người; chỉ nên phê bình bạn mình chỗ vắng, mới đạt hiệu quả. Bởi ông còn là người xuất bản mua lại Loại sách Học làm người của Phạm Văn Tươi bán; sau khi nhà phát hành Đắc Lực của Phạm Văn Tươi và Nguyễn Văn Hợi bị lỗ, căn nhà ở 16 Sabourain mất dạng từ đấy (). Ông kể lại chuyện tham dự đám cưới con út tôi với danh xưng Ông Nguyễn Văn Trương (tên thật nguyên văn), ông rất bất mãn, khi tất cả mọi người đều gọi Ô.Khai Trí. Ông chưa bao giờ sử dụng tên thật kia, bực mình nhưng vẫn tham dự đám cưới như không có gì xảy ra. Còn nhiều điều ông xỉ vả; tôi gửi thư này cho Hoàng Xuân Việt, một người vừa là bạn ông, vừa bạn tôi giữ – học giả viết rất nhiều sách. Học làm người. Phía sau lá thư của Ô. Khai Trí, tôi thuật lại câu chuyện này. Lấy lời của Khổng Tử với hàng chữ thuật nhi bất tác – nhưng trong thuật có tác; như để bêu xấu, cho nư cơn giận.
Xưa, tuy chưa xa lắm, chuyện của thế kỷ này ấy mà. Thập niên năm mươi, một người quê ở Tăng Nhơn Phú xuống Sài gòn làm ăn với chiếc xe đạp. Sau mua được một đôi gánh đầy sách cũ đem bán dạo. Sách của các nhà giầu muốn tống đi cho sạch nhà cửa; hoặc cô sen, cậu bồi quét dọn đem tống khứ đi của nợ trong nhà, chẳng chủ nào kết tội làm gì, lại có đồng ra đồng vào. Cậu mua được nhiều mối như vậy; chẳng mấy lúc khách hàng sinh viên, học sinh, thầy thông, ký dạo qua Bonard thấy, vây quanh xem sạp sách lưu động. Người này mua cuốn này, ông kia cuốn khác. Có những cuốn sách nếu nằm trên hiệu giá gấp mười lần hơn cậu bán ở đây. Tiếng lành đồn xa, càng ngày càng bán được nhiều; cuối ngày đếm tiền, lòng cậu hứng khởi mừng thầm. Lập gia đình, vợ cậu là con nhà khá giả, tuy người Bắc; nhưng vây cánh nhà vợ đông. Cậu phất lên vài năm sau, bên vợ cũng cho vay mượn; nhường lại một căn phố mặt tiền khai thác bán sách cũ. Sẵn có niềm đam mê từ nhỏ về sách vở, như cậu thú nhận với báo chí đến phỏng vấn khi thành đạt; số vốn nhỏ nhoi kia đã tạo dựng cho cậu một cơ ngơi lớn bậc nhất ở Sài gòn. Cậu thuê biết bao nhiêu nhân viên nữ bán sách, mặc áo dài màu xanh thiên thanh, vợ ngồi két, mặt rất lạnh lùng; nhưng bà đảm đang, lại giầu. Cậu chủ từng được ân huệ nhập sách vào giai đoạn thập niên 50, một đồng ăn 17 quan giá ưu đãi; cậu ra ngoại quốc giao dịch. Nay Hong Kong, mai Paris; có lần cậu sang cả bên Ý tham dự Triển lãm sách quốc tế. Như bài viết về cậu, được Tổng Thống Ý đích thân tới thăm gian hàng triển lãm sách. Cậu chụp rất nhiều ảnh với các nhân vật chính trị, văn hoá tầm cỡ thế giới.
Việc tổ chức bán sách của cậu, sau bìa sách, Việt cũng như Pháp, Anh, Đức, Ý, vẫn có đóng dấu hàng chữ Khai Trí với địa chỉ, mực màu đỏ. Các cô bán sách được huấn luyện đối với, khách hàng, dù lớn, nhỏ, trí thức, học sinh hay dân quê đều là khách; phải cư xử lễ phép, lịch sự, đừng phân biệt người giầu, kẻ nghèo, người mua, kẻ không; để có sự đối xử khác. Một câu nói với khách khi hỏi đến: ân cần, mua hay không, vẫn cúi đầu cảm ơn. Sách mua rồi được gói lại bao có hàng chữ, địa chỉ nhà sách, để lần sau khách còn tới mua hay giới thiệu với bạn bè. Trong nhà sách có cuốn sổ lớn, đóng gáy da, mạ chữ vàng Sổ góp ý của khách. Người ta đọc được lời khen cũng nhiều; nhưng lật lại phía sau, trở đầu – đọc được những lời thú tội của khách ăn cắp sách bị bắt tại trận. Sinh viên, học sinh, thủ phạm đông nhất, nam nhiều hơn nữ. Nhưng ông không giáo dục răn dạy. Có nhiều học sinh, sinh viên, sau ra đời làm thẩm phán, luật sư, cả ông Cò, quan ba, tư, quan sáu, người xưa kia có tên vi phạm luật nhà sách, lấy sách không muốn trả tiền. Bản thân tôi khi tin Chúa ở Hội thánh Báp tít Ân điển vào 1979, còn được nghe mục sư quản nhiệm rao giảng cho những người chưa tin Chúa biết rằng tội lỗi Chúa tha, khai ra được phiếu trắng. Mục sư Lê Quốc Chánh nhắc đến nhà sách xưa ở Bonard, có quyển sổ này, chính ông từng được đọc những giòng chữ khai tên địa chỉ, tuổi, học ở đâu, nhận lấy cuốn sách gì khi bị bắt. Xin hứa sẽ không bao giờ còn vi phạm, và được thả. Nếu ông chủ đưa người phạm tội nhỏ ấy ra cảnh sát; chưa chắc người ấy sau này có cơ hội trở thành tướng tá, giáo sư, thẩm phán, hoặc có chức quyền trong xã hội sau này. Đấy là điểm son phải tôn xưng ông. Sau ông lại đam mê một nhà văn nữ. Dễ mấy ai thoát được lá trời – một cách gọi người nữ. Cứ như một nhà thơ sau này gọi hạnh phúc của phụ nữ như chiếc Lá trời ():
Hạnh phúc như chiếc cầu vồng
Thoắt bồng bềnh hiện, thoắt bồng bềnh trôi
Hạnh phúc như chiếc lá trời
Thích trêu ngươi giữa cuộc đời lặng trông
Mặc người ngóng cổ chờ mong
Mặc người đón đợi cứ vòng vèo bay
Thích ai lá rớt vào tay
Chợt nhiên không thích lá bay về trời
Như giờ tôi chỉ mình tôi …
- LÊ THỊ KIM
Nay cậu được gọi là ông chủ. Bởi cậu chững chạc, vợ con, có địa vị, giầu sang. Ông chủ gặp một lá trời, nhà nữ văn sĩ tăm tiếng, và thích hơi đàn ông lạ và xài tiền do đàn ông mê sắc chu cấp. Lá trời in một tập truyện ngắn có tên Hai Chị Em. Chị dâu có thể coi em chồng như chồng mình khi ổng không có nhà. Ổng có nhà hay không, có âu yếm vợ đằm thắm không - đúng hơn chẳng khác nhau; bởi ổng chưa lên đã xuống, không làm Lá trời đủ sướng. Thi sĩ Phổ Đức lúc ở bên cạnh Lá trời như một phụ tá đắc lực về giao dịch bán sách với ông chủ nhà sách. Chẳng biết lá trời có tỉ tê: anh vui, em sướng, anh cười không ra tiếng; em rên không tiếng kêu – vẫn đúng là thằng đàn ông ngu xuẩn xiển dương, tưởng mình khoẻ, chủ soái của con nữ mê đắm. Ông chủ bảo Phổ Đức:
- Anh đem hai nghìn cuốn Hai chị em cho tôi vào sáng mai. Giao sách xong nhận tiền liền.
- Tại sao chị không giao cho thằng Động Đình Hồ? Phổ Đức hỏi Lá trời.
- Động Đình Hồ còn có việc của Đình Hồ. Anh giúp tôi, ông chủ nhà sách quí và nể, anh dễ lấy tiền hơn.
Tôi đến thu tiền sách, không phải được ưu tiên như lá trời. Sách ký gửi từ lâu, Pháp gọi là en consignation, chữ này ông chủ nhà sách ghi vào tờ nhận cho rõ ràng. Chữ Tây vốn từ xưa tới nay, được coi là chính xác, biên bản họp hội nghị chính trị, nguyên thủ quốc gia, buộc có biên bản bằng tiếng Pháp. Khi ông ghi hàng chữ Pháp, bằng nét chữ của ông, trước khi ký tên, ông bảo tôi: “Này, anh đừng nhầm với consigne, như anh đi học bị phạt ngày xưa. À mà anh đâu có học trường Tây như tôi, tôi giảng cho anh nghe en consignation là gì nhé!". Thằng Nguyên Vũ, mặt lúc nào cũng như chiếc đèn kéo quân, có khi bên dao bên súng, mũ nhẩy dù đến đòi tiền sách; cũng gửi như tôi chẳng lấy được bao nhiêu. Sách của nó bán chạy như tôm tươi nhẩy, nào Đàn bà, nào Sau cơn mộng dữ…, và sách Phan Nhật Nam như Dọc đường số I, Sau cơn binh lửa…, bút ký được nhiều độc giả mua đọc đông đảo. Khi tôi đến, bà vợ ông chủ ngồi két tay bên phải hiệu sách, góc trong cùng:
- Anh có biết tác giả Hai chị em?.
- Ai mà không biết!. Sắc nước hương thơm, Nguyễn Thị Vinh không chỉ là người nữ liên tài mà còn đam mê phung phí khí huyết.
- Mụ ấy mà anh cho là sắc nước?. Cũng có thể, các anh còn nói vậy, huống hồ ông nhà tôi chả mê mệt là phải. Ông ấy mới viết thư cho mụ tác giả đến nhận tiền hai ngàn cuốn, trả tiền ngay, trừ ba mươi phần trăm. Các anh có được hưởng ưu tiên như thế chưa?. Sách bán chạy như của ông Nguyên Vũ, nhà tôi chỉ trả một phần tư, sau khi gửi bán hàng mấy tháng trời.
- Thưa chị, Lá trời tác giả Hai chị em như sắc trời cho lá rải khắp nơi, ai dám so sánh!. Chị dâu ngủ với em chồng, sung sướng như nạ giòng vớ được trai tơ. Tôi là độc giả có tư tưởng cao siêu mấy, đọc cuốn truyện của bà cũng muốn gục mặt xuống nơi ấy có chết cũng sướng!

Gặp ngay nhà thơ Phổ Đức đang cầm nắm tiền cho vào túi, lấy kim băng gài hai ba lần, bắt tay vội vã còn về gặp Hai chị em chờ. Xác nhận trăm phần trăm, bà vợ ông chủ nhà sách nói đúng. Ông chủ nhà sách, có đứa xấu mồm, xấu miệng, bảo rằng ông keo kiệt với đàn ông, hào hoa với đàn bà hợp nhãn. Thế mà thằng chết tiệt Mười Đại in sách của ổng ở nhà in thế nào, lừa được một cú, vớ cả mấy chục triệu. Ra tòa cũng huề. Tôi dự tính đến nhà nó ở 74 Trần Hưng Đạo, Chợ Quán (gần mộ Trương Vĩnh Ký), hỏi về chiêu lừa chủ nhà sách có một không hai, viết sách học làm người. Khi đến, người hàng xóm cho biết Mười Đại dọn nhà lâu rồi, nay mua nhà villa, đi xe hơi và loạt sách tái bản sách tiền chiến hay, đối địch với ông chủ Bonard. Có một nhà văn trẻ tuổi, bán sách cho ông, ông đòi mua lúa non (bắt chẹt bán đứt), nhà văn này không bán, đổ tiếng xấu cho ông chủ thế này: “Các bạn có biết Trung hoa lục địa bao nhiêu mét vuông?, 9.600.000 cây số vuông, hơn một tỉ người. To quá đi chứ , không đâu, bé hơn đồng bạc của ông chủ Bonard – thế mà thằng cha Mười Đại lừa ông lấy được mấy chục triệu. Như vậy, số tiền này được tính kiểu này nhé. Một đồng của ông lớn ngang Trung hoa lục địa, nhân lên 9.600.000 ông bạn tính sao? “. Có một câu chuyện vui này được kể từ Cali. Nếu có óc tổng hợp (nói theo kiểu bây giờ) kết hợp lại thành một giai chương (từ của nữ sĩ Cao Mỵ Nhân thường dùng khi viết báo, mục Chốn bụi hồng, báo Saigon Times) rằng chưa hay vẫn thật là hay. Câu chuyện như vầy: “Một buổi sáng, nhà văn Hoàng Khởi Sắc (nổi danh ở Mỹ bây giờ) đang ngủ, điện thoại rung liên hồi. "Moa, Duy đây. Sáng nay toa rảnh, moa đến mời ăn sáng. OK chứ ?”. “Hoàng Khởi Sắc mắt nhắm mắt mở hỏi lại:
“- Duy nào, chẳng lẽ Duy từng tứng tưng, thằng cha này có mời ai ăn sáng bao giờ đâu?.
“- Duy từng tứng tưng, nổi tiếng nhất tầng trời của các vì sao, toa quên sao?.
“- Sao, đây không phải là Why, Pourquoi?, mà cậu nuốn so sánh cậu nổi tiếng như chiến tranh trên các vì sao. Sao đây là Star, Étoile óng ánh. Good!.
“- Nhớ. Đánh răng xúc miệng, ăn sáng với ông cho đã.
“Từ Midi lái xe đến, tóc bạc nhưng khoẻ. Chỉ bạn thân và bác sĩ mới biết ông ấy đã nội soi tuyến tiền liệt.
“Hoàng Khởi Sắc lên xe hơi Duy. Đậu xe xong, bước vào quán của một người Mỹ gốc Việt, nấu phở ngon tuyệt. Ba đôn rưỡi một tô – to như ở trên Sao hoả. Hoàng Khởi Sắc hỏi: “- Sao hôm nay ông nổi hứng, lại mời đi ăn sáng?.
“- Tớ đọc loạt bài cậu viết về Võ Phiến, Mai Thảo. Chẳng gì cậu cũng từng làm chủ bút Văn học, bài viết về hai nhà văn này thật sâu sắc, văn phong của một đại phê bình gia, ngự sử. Ngay bài Tựa viết cho cuốn Ly hôn của Trần Mạnh Hảo tái bản, tôi đã thấy cậu viết thật cừ. Nếu thầy Nguyễn Đức Quỳnh còn, ông ấy sẽ không tự ái mà cúi xuống xoa đầu khen cậu thiên tài, xứng đáng Ngự sử văn đàn của nền văn chương hải ngoại trên đất Mỹ.
“- Ông bốc ghê quá, để tôi sống. Thế sau khi ăn phở, ông định khuyên tôi viết chứ gì?.
“- Đúng.
“- Viết gì, nói trước đi ăn mới ngon.
“- Chớ! Mangeons puis philosophons! (Ăn rồi mới nói triết lý). Moa ở Pháp mấy năm, toa, à quên, cậu không biết moa là em của một văn sĩ Việt Nam viết tiếng Pháp mà Tây còn sợ run lên khi nghe danh. Qui est Nam Kim? Vous le connaissez?.
“Rất tiếc bàn đã hết chỗ. Chỉ còn bàn của Mỹ gốc Việt ngồi một mình. Tiếc rằng cậu này quen cả hai người. Mời nhập bọn. Hai tô phở nữa. Ăn xong, tên Mỹ gốc Việt mở ví trả tiền luôn cả ba. Cùng ra khỏi hiệu, Duy hỏi:
“- Cậu viết về tôi một bài như cậu viết về Võ Phiến và Mai Thảo. Hai bài ấy, nếu giả thử văn của hai cậu ấy hay vừa vừa, dưới ngòi bút của cậu; thành đại văn hào của nền văn chương lưu vong đang ở từng cao, nơi chiến tranh các vì sao đang diễn ra.
“- Này ông nhạc sĩ số một của chiến tranh trên các vì sao, ông thích danh từ mới này. Ông đến mời tôi ăn sáng để nghe đề nghị này. Ăn sáng rồi, kẻ trả tiền không là ông, cũng chẳng tôi, tại tên ở giữa đàng tự nhiên gánh…. Viết lách cái nỗi gì, chẳng ai nợ ai..”
Thằng Phải Gió nghe xong, bảo người bên cạnh:
- Ông đánh phắc cho Mr. Hoàng Khởi Sắc biết rằng Hoàng Hải Thủy phong cậu ấy nổi tiếng số 1 của Mỹ (qua lá thư gửi cho Hồ Nam và Thằng Phải Gió năm 1996). Rằng, khi nào ông về Việt Nam, nên tìm cách nào liên lạc được với chủ nhà sách Bonard hồi hương. Để làm gì, nói ra hơi dài dòng. Là lá trời, hợp nhãn, ông mời đi ăn, đi uống, tâm tình ngay. Nhưng đàn ông, dù tiếng tăm vang trời, được ông mời uống ly cà phê đen là trời xập. Nếu nhà văn Hoàng Khởi Sắc uống ly cà phê do ông trả tiền, nhà văn này có thể rủ bè bạn, gia đình (bởi họ hàng, anh em ông ở Cư xá Ngân hàng Nhà bè (Quận 7) rất đông, kể cả Thằng To Đầu anh con bác) đến chứng kiến. Văn hào Hoàng Khởi Sắc đang chuẩn bị cởi quần jean, mặc quần lót, giữa ban ngày, cầm bó đuốc (chứ không phải đèn Diogène) chạy marathon giữa đường Lê Lợi, Lê Thánh Tông, miệng kêu lớn Eurêka:
- Ta đã thành công! Thành công mỹ mãn! Thành công vang lừng nhất thế kỷ hai mươi. Bây giờ là 1999; đến 2001 bước đầu vào thế kỷ XXI, Eurêka, Eurêka … Ta thành công, bởi chưa bao giờ ai ăn được một tô phở của nhạc sĩ Duy, ta đã được ông mời đi ăn tô phở giá chỉ 3 đôn rưỡi. (mặc dầu ông mời, nhưng kẻ khác tranh trả tiền, vì sợ tài của ông). Đến nay về thăm quê, được ông chủ Bonard, ông này chỉ mời lá trời ăn uống, đến nay mời ta một ly cà phê đen hai nghìn đồng. Thế là đủ cặp. Eurêka, Eurêka…. Ta thành công trong đời viết văn. Ta, một trong hai mươi nhà văn lớn của thế giới, của thế kỷ hai mươi.

Từ hai năm nay, tôi muốn làm hoà với ông. Lỗi tại tôi gây ra, nhưng lạ thật, chưa dám lên tiếng. Dự buổi ra mắt sách của Nguyễn Mạnh Đan ở lầu 5 khách sạn ba sao Majestic, cũng gặp Ô. Khai Trí. Dự hội thảo ẩm thực của Đại học Hùng Vương cùng nhà hàng Majestic tổ chức, cũng lại là ông ngồi ở băng dưới. Dự các buổi ra mắt thơ, ở Viện y học dân tộc, nghe tài của viện trưởng, giỏi cả thơ, thuốc Đông y, lại phổ nhạc nữa. Đa tài, nhưng tài không sung sức, bởi đã về chiều. Cũng vẫn khâm phục ông, như lại gặp Ô. Khai Trí. Ô. Khai Trí, ở đâu, tôi cũng gặp. Nghe thơ Hàn Mặc Tử của một ông vô danh tiểu tốt, nói giọng bình dân, gây cười như múa võ Sơn đông, bán thuốc lậu, lấy cớ giảng thơ Hàn Mặc Tử; tự phong in thiệp mời là nhà văn Chí Linh. Người Pháp biết tiếng Việt sẽ hỏi, l'œuvre d'abord?. Tác phẩm của bạn đâu?. Thượng Sỹ, sinh 1906 đến 1998, chưa có một tác phẩm dắt ngang tai, được gọi Ngự sử văn đàn, có kẻ hỏi l'œuvre d'abord?. Lại gặp Ô. Khai Trí. Lần này nhận được thư, ông không muốn mất một người bạn. Thật ươn hèn khi đọc thư, chính tôi muốn làm hòa với ông mới phải, như Thánh Kinh dạy: phải làm hoà với kẻ mình coi là địch, hãy tha thứ cho kẻ nghịch với chính mình. Tôi lại không đủ can đảm viết thư, hay bầy tỏ trước với ông. Ông lại làm việc này trước. Nên đành viết những câu như: Xin tha, xin tha thứ cho tao, trước hết viết câu này cho Mai Thảo, rồi đến Ô. Khai Trí, tôi lại còn xấc xược gọi chữ Ô. viết tắt theo nghĩa khác. Ở Miền Nam gọi Ô là DÙ, viết tắt Dù là D, như ông viết tắt là Ô. Đây là cách sử dụng xảo ngữ. Anh muốn in thiếp là nhà văn ư?. Ai công nhận, phải chờ Hội cho phép. Có người như nhà văn Vũ Hạnh, Nguyễn Mạnh Tuấn từng là hội viên Hội Nhà văn, lại làm đơn xin rút khỏi. Ông Chí Linh thích vậy sao không điều đình với Vũ Hạnh, Nguyễn Mạnh Tuấn nhường hai chữ nhà văn cho?. Nói gì thì nói, có điều nói đến Hoàng Cúc, người tình đầu tiên của Hàn Mặc Tử, cô giáo từng dạy trường Đồng Khánh ở Huế, mộ chôn ở Huế, hàng năm học trò (đa số là nữ) đến viếng chụp ảnh mà tôi nhìn thấy ảnh chụp ở tư thất nữ sĩ, họa sĩ, thầy dạy vẽ Hoàng Hương Trang - tôi mới hay rằng điểm này ông biết hơn tôi. Khi tôi và Lữ Quốc Văn đi nghe ông thuyết giảng về Hàn Mặc Tử (tối thứ tư có đến hơn 200 người tham dự), ông Chí Linh rất xứng đáng là nhà văn không cần minh chứng có tác phẩm, hơn rất nhiều người có tên như nhà văn Phan Lạc Tuyên nói về Mẫu hệ Chàm, chẳng có ai nghe, đành hủy bỏ cuộc nói chuyện. Ông tiến sĩ này và ông Nguyễn Khắc Ngữ, tác giả Mẫu hệ Chàm, giống nhau như hạt nước cùng mẹ sinh đôi. Nguyễn Khắc Ngữ, mẹ của Mẫu hệ Chàm sinh ra luận án tiến sĩ của ông Phan Lạc Tuyên!. Sao dễ quên!. Nếu tôi nói sai, xin ông tiến sĩ Phan Lạc Tuyên tha thứ, xin tha thứ cho tao, bởi phải nói thật: “mày ăn cắp tác phẩm Mẫu hệ Chàm in ở Sài gòn cũ; biết, không thể im lặng. Tao với mày thường xưng hô tao, mày như vậy từ xưa”. Văn Quang ơi, mày có nhớ cậu tiến sĩ giấy này không nhỉ?. Cậu ấy từng viết chung sách với mày; Hồ Nam, Kiêm Đạt, Văn Quang, Phan Lạc Tuyên về thơ chỉ dày 48 trang khổ nhỏ.
Buổi ra mắt sách Thơ tình VN và Thế giới chọn lọc của Ô. Khai Trí có thể nói thành công. Giám đốc NXB mới nhậm chức, ông Bùi Văn Ngợi từ Hà Nội bay vào chủ trì. Tôi không nhìn thấy nhà thơ tác giả Chiều phủ Tây hồ, Giám đốc nhỏ của chi nhánh, người biên tập, chịu trách nhiệm chính cho tập tuyển thơ ra mắt được thật khó khăn! Có nhà thơ tiền bối sinh 1920, nổi tiếng từ tiền-kháng-chiến Tố Hữu phải ngồi chung với một âm binh thi sĩ Tô Giang chẳng mấy tiếng tăm, chỉ tại xếp theo vần abc. Thơ Tạ Tỵ đưa đi duyệt; biên tập phải xóa bỏ. Thơ Mai Thảo được in trong tuyển tập. Còn việc gạch thơ Tạ Tỵ, bởi lẽ có liên quan đến cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ tái bản ở Hà Nội. Sách in ra, Tạ Tỵ trả lời đài VOA, RFI, lên án việc không xin phép tác giả, không trả bản quyền áp dụng luật nào?. Sự việc dẫn đến một Giám đốc NXB đương chức về hưu non, một Phó tuột dù, như Nguyễn Công Trứ xưa kia, xuống làm binh nhì v.v…, cũng chỉ vì sách Tạ Tỵ tái bản. Cũng chỉ tại nữ đầu nậu sách rất đáng yêu, rất yêu văn Tạ Tỵ, có tên bà Miên – một tay làm cho dăm ba kẻ đàn ông liểng xiểng mất chức, mất quyền, chỉ vì dễ tin lá trời gieo hệ luỵ!. Thơ Tạ Tỵ hay, xin trích tập Mây bay (1996) một bài:

NÚI RỪNG

Ở đây những núi cùng rừng
Trời nghiêng lũng thấp, nửa từng mây che
Núi cao ngăn bước nẻo về
Rằng mê khép kín cơn mê cuối đời
Xa vắng quá, bạn bè ơi !
Màu xanh khỏa lấp chân trời nhớ thương
Lỡ tay đánh mất thiên đường
Xác chìm Địa Ngục còn vương dáng hồng
Xin đừng đợi, cũng đừng mong
Hận thù khép kín một vòng thời gian
Đầm đìa lệ nến tuôn tràn
Đêm đêm hồn nhỏ băng ngàn về xuôi.
(Yên Bái, 1977)

Tặng tập thơ với hàng chữ Bản của Thế Phong và Nội tướng, với lòng nhớ thương vô hạn. Tác giả Tạ Tỵ, 1996, USA và hai câu thơ “Góc biển, ta ngồi trông dáng bạn/ Bên trời, gió cuốn nửa hồn đau”. Lại thêm mấy câu nữa: "…Tôi không ngờ cuốn sách tái bản nó lôi thôi như vậy. Hiện tôi chưa có cuốn nào trong tay, bạn bề nào cũng có. Bạn mua dùm tôi vài cuốn, đưa cho D. mang sang cho tôi…".
Tôi mỉm cười, tôi mua cho ông hai cuốn nào có mất bao nhiêu tiền. Nhưng nếu tôi nhờ ông mua lại sách của tôi tái bản bên ấy, ông sẽ rất thiệt. USD 14 chẳng hạn, cộng thêm USD 3 cước phí từ Texas nhờ mua ở California. Họ có gửi cho tôi một cuốn nào đâu, chẳng hề xin phép. Cũng như Nửa đường đi xuống, USD 12 và Khu rác ngoại thành USD 5.5 v.v…. Có những đứa con tinh thần in ở xa trong tay, phải thêm lời cảm ơn Dacson N. Eustachon bỏ tiền túi mua gửi cho.
Và đây là thơ Mai Thảo, với tôi - không thể gọi là hay, (Ta thấy hình ta những miếu đền), vẫn trích bài Nhớ Vũ (bốn câu thơ cho một trang 101):

Chai Jack Danield đứng lừng lững
Một mình trên giá rượu nghênh ngang
Nhìn chai nhớ kẻ từng yêu nó
Lại thấy con hùm Vũ Khắc Khoan.
hoặc Chỗ đặt thì hay:
Đặt tay vào chỗ không thể đặt
Vậy mà đặt được chẳng làm sao
Mười năm gặp lại trên hè phố
Cười tủm còn thương chỗ đặt nào.

Có một tối, Mai Thảo ạ, tao đi xem ca sĩ trình diễn nhạc tiền chiến ở một quán nhạc đường Nguyễn Văn Chiêm, quận 1. Đối diện với một bên hông Tổng lãnh sự quán Pháp. Có ba cô bé mặt khá già, nhưng cứ làm ra nhí nhảnh tuổi hoa học trò. Các cô hát còn hay, tao bảo một người bạn cùng đi: “Tôi đố ông muốn làm tan ban hát Ba Cô, cách gì hay nhất?”. Anh bạn đáp: “Tìm một người đẹp trai kiểu Don Juan tán tỉnh (nhưng ông đừng nghĩ đến chàng viết văn diễm tình Vũ Mai Anh, bởi quá lứa rồi, sinh 1932), làm cho ban này tan hàng”. Nữ thi sĩ P.N Thường Đoan ngồi gần thêm lời bình Mao Tôn Cương: "Có rồi, nhạc sĩ Diễm…chọn cô út. Cô ấy thường hát nhạc của Diễm…". Bạn tao bắt chước lời giới thiệu của mỗi bài hát, trước khi trình diễn trước công chúng như sau: "…Một cái xoa nhẹ trên bàn chân em trắng, tay anh thử đặt lên bàn tay em, ôi thôi rồi, cho rằng anh mất căn nhà tầm tầm đi nữa, cho dầu anh tặng chiếc xe hơi second hand đi nữa, anh có tiếc gì đâu…. Bởi anh bây giờ đặt tay vào chỗ không thể đặt, liệu rằng đặt được cũng chẳng làm sao…. Xin mời quí thính giả có mặt bữa nay thưởng thức tiếng ca huyền diệu của ca sĩ số một tài danh: Sương Mù. (Câu này không cho thính giả nghe được: Em ơi anh ta bạn của nhạc sĩ tài danh Văn Xê, mắc bệnh tiểu đường vào giai đoạn đi thử máu 2/4)…”.()

Sách Ô. Khai Trí ra mắt, bị tai tiếng bởi thuê một nhóm gốc Huế chọn; bỏ thơ Trần Hữu Dũng, nhà thơ Miền Nam, thêm thơ nhà thơ đồng hương. Như Phăng Xi Păng ghi lời cảm ơn Ô. Khai Trí giúp đỡ tài chính để in cuốn sách mỏng kinh doanh Sài gòn nay (H. 1998) chẳng hạn. Ông lên chương trình, người giới thiệu là nhà văn Tạ Nghi Lễ (chỉ mới quen ổng có mười ba ngày) đọc tên những sứ giả được cắt ca lên khen tuyển tập thơ do ông chọn. Hết kẻ bất tướng vô tài như Phan Lạc Tuyên đòi nói nhỏ với ông trước mặt công chúng, tưởng ông và Phan Lạc như bạn đàn ông đồng luyến ái Xuân - Huy. Chưa thấy tên nào đọc dở, nội dung càng dở như Phan Lạc Tuyên diễn tuồng đêm ấy. Nổi nhất là nữ sĩ Hoàng Hương Trang, khen có bằng chứng chẳng ai nói được!. Rồi mấy bà lão-thơ-được-đăng-thơ lên tặng hoa lão già bỏ vốn in tuyển tập dầy như từ điển. À quên, tiến sĩ giấy Phan Lạc Tuyên khen Ô. Khai Trí (nói nhỏ đủ nghe) dân Nam bộ chịu chơi. Có tiếng của khán thính giả hỏi ông tiến sĩ, hai chữ ngược của chịu chơi, phải người từng trải mới sử dụng được, chứ cỡ như tiến sĩ chỉ cơm nhà quà la Marquise không thể dùng hai từ ngược của chịu chơi. Nghe đến đây biết rằng Ô. Khai Trí rất khôn về đường doanh nghiệp, có bài bản sắp xếp kẻ được đưa lên nói là phe cánh, học tập trước, không thể làm hại phe ta ở trên bục. Là giao lưu, sao chẳng thấy nhà thơ nào có thơ in trong tuyển tập được tự do bước lên bục phát biểu?. Nhà thơ Thư Linh ít khi có mặt trong đám đông (cưới hỏi, đám tang, ăn giỗ v.v…) nhận tập thơ rồi xin mua một cuốn. Theo nữ sĩ, người bỏ tiền in sách tặng tác giả một, gián tiếp yêu cầu mua một. Người thứ hai mua thêm một cuốn kèm là Vương Đức Lệ. Anh gửi ngay cuốn này cho em gái, nữ thi sĩ có tiếng ở Mỹ. Lê Thị Ý xuất bản tập thơ Quê hương và người tình (1994) ở Mỹ, lối thơ như : “ ngồi đây rồi rũ bụi giấy. Và cười ha hả thơ mày rượu tao” ( dẫn theo trí nhớ thơ Trần Huyền Trân, không chắc đúng nguyên văn). Một bài thơ khác của Lê Thị Ý gửi bạn văn Nguyễn Thị Thụy Vũ còn ở Lộc Ninh, nội dung sảng khoái, khí phách, bạn bè, mày, tao thật chân tình, đáng nhớ như lối thơ Trần Huyền Trân xưa. Sáng nay, Vương Đức Lệ cùng nhà thơ Lê Thị Kim và tôi uống cà phê ở Spago. Vương Đức Lệ đưa bài thơ của Nguyễn Vỹ có tên Nắng mới:

Mỗi lần nắng mới hắt bên song
LaÏi khiến cho tôi tê tái lòng
Cũng chợt nắng xưa đầy mộng ảnh
Mà nay nắng mới vẻ tiêu vong!

Dưới bóng dâu xanh mát rợp đời
Nàng đi nũng nịu vịn vào tôi
Phương trời vô định xa thăm thẳm…
Thăm thẳm phương trời mộng ảnh tuôn!

Sóng bể chưa hề cuốn ruộng dâu
Mà tình duyên ấy nay còn đâu!
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Lại gợi lòng tôi biết mấy sầu!

NGUYỄN VỸ
(Hà Nội Báo, số 15 ngày 15.4.1936)

Và, bài của Lưu Trọng Lư, cũng Nắng mới:

Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao xác gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không

Tôi nhớ Mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới gieo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi

Hình dáng Mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa.
(Tiếng Thu, 1939)

Hai tác giả đều nhà thơ tiền chiến, xuất đầu lộ diện trên bầu trời thơ mới vào thập niên 30. Nguyễn Vỹ sinh 1912, qua đời trên đường Mỹ Tho Sài gòn vì tai nạn giao thông vào 1971. Lưu Trọng Lư sinh 1912, mất 1991. Xét bài thơ của Nguyễn Vỹ, Nắng mới, đăng trên Hà Nội báo vào 1936 còn bài Nắng mới của Lưu Trọng Lư xuất bản ba năm sau(). Có sự trùng hợp này, theo Vương Đức Lệ phân tích:
1.- Thời điểm hai bài thơ ra mắt độc giả: Bài Nắng mới của Nguyễn Vỹ xuất hiện trước bài Nắng mới của Lưu Trọng Lư ba năm.
2.- Quan hệ giữa hai tác giả: Trong vòng ba năm, bài ra mắt 1936, bài sau 1939.
3.- Sự trùng hợp cố ý hay vô tình: Hai bài thơ đều mang tựa Nắng mới, thất ngôn phân đoạn, ba khổ. Luật trắc, vần bằng tương tự. Có hai câu giống nhau, không sai chữ nào (câu 1 khổ thơ đầu và câu 3 khổ thơ cuối).
Xét theo thời gian, bài thơ của Nguyễn Vỹ in trên báo ba năm trước bài thơ của Lưu Trọng Lư in trong tập Tiếng thu xuất bản ba năm sau. Giả thiết LTL đọc bản thảo cho Nguyễn Vỹ nghe, rồi Nguyễn Vỹ làm bài Nắng mới đăng báo trước. Trên mặt pháp lý, Nguyễn Vỹ đạo thơ LTL, nhưng LTL không thể cãi được. Như vậy, LTL vẫn bị coi như đạo thơ đối với bài Nắng mới của Nguyễn Vỹ – bằng chứng Nắng mới của LTL xuất hiện sau 3 năm. Xét theo quan điểm nhận định về nghệ thuật, giữa hai bài thơ cùng có tựa Nắng mới, bài thơ của LTL có tính nhất quán, cảm xúc thật, phong phú hơn bài của NV. Bài thơ Nắng mới của Nguyễn Vỹ không nhuần nhuyễn được như bài Nắng mới của LTL. Song nếu xét trên phương diện thời gian, bài nào có mặt trước, hẳn rằng bài thơ của LTL phải coi là đạo thơ của Nguyễn Vỹ, qua bài Nắng mới đăng trên Hà Nội báo từ 15-4-1936.
Cho dù tuyển tập thơ, Pháp gọi anthologie, người chọn thơ phải có một tiêu chuẩn chọn lựa, dù theo quan điểm nào. Người có tác phẩm đã in, người chưa có tác phẩm in, nhưng thơ được đăng trên báo; và nếu thực sự nhận thấy thơ hay (còn trong bản thảo) cũng phải nói rõ cho người đọc biết. Đằng này, ông không làm vậy, lối chọn của ông thật bát nháo; vấn đề thẩm thi của ông phải xét lại ở khía cạnh: lái chữ ít hiểu biết nghệ thuật. Và, nếu không hiểu được như vậy, thuê nhóm nào chọn thơ cũng cần phải nói rõ. Khó có người như ông dám bỏ một số tiền lớn làm công việc không mấy hy vọng thu vốn về. Đó là lòng yêu thơ của một chủ nhà xuất bản lớn trước 1975 ở Sài gòn ai cũng nhận thấy. Tôi có lần viết thư khuyên ông nên viết Hồi ký một người tay trắng làm nên sự nghiệp (rất giầu có, chủ nhà sách và xuất bản lớn ở Sài gòn) sẽ được nhiều người mua đọc, thán phục noi gương như sách Học làm người v.v…. Chẳng nên đóng vai thợ giầy mắt cận thị, nhận định thẩm thi soạn tuyển tập làm gì?. Thơ người này hay thật sự, nhiều người thừa nhận, nhưng ông không nhận thấy. Trường hợp Lê Thị Ý không phải là một; tôi đơn cử thêm, một bài thơ khác của Ngô Thị Mỹ Trang sau đây – có phải là bài thơ hay?. Nếu được chọn, ắt tôi sẽ đặt bài thơ này vào hàng đầu của thơ hay hôm nay.

ĐÈN XANH ĐÈN ĐỎ

Tôi đi qua ngã tư
Đèn xanh đèn đỏ
Mỗi ngày năm sáu lần như thế
Đâu có thấy gì ngoài đèn đỏ đèn xanh
Bỗng một hôm ngó lại
lòng mình
Thấy có lúc cũng đèn xanh đèn đỏ
Này nhé những tình yêu không dám tỏ
Vì chờ hoài không thấy đèn xanh
Đôi khi bóng người đâu đó quẩn quanh
Không tới được vì đang đèn đỏ
Rất nuối tiếc những gì đã lỡ
Bởi chùn chân khi thoáng thấy đèn vàng

Ngày lại ngày năm tháng thênh thang
Tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở
Tôi lại đi qua những ngã tư
đèn xanh đèn đỏ
Nhấp nháy dễ thương như tín hiệu
cuộc đời
Cảm ơn nhiều đèn đỏ của lòng tôi
Đã giữ lại những gì nên giữ lại.

NGÔ THỊ MỸ TRANG

(Tuổi trẻ chủ nhật, số 03/99 Tp/HCM)


___________________________________________________



( còn tiếp ... )


THẾ PHONG

THƯ VIẾT Ở SÀI GÒN
do VĂN UYỂN xuất bản và phát hành

Điạ Chỉ Liên Lạc Mua Sách :
Nhà xuất bản VĂN UYỂN
PO Box 1882
San José, Calofornia 95109, USA
Email: ttbg@sbcglobal.net


Hính Ảnh : Tư liệu của nhà văn Thế Phong


© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC