Một Thoáng Campuchia…


Campuchia, Thực Và Ảo…

PHẠM NGA

1.

Vào ngày đầu tiên trong chuyến du lịch Campuchia 4 ngày 3 đêm vừa qua, lúc xe dừng trước chợ Kampong Thom, tuy bằng lòng đưa ra tờ 1000 ria (4000 ria ăn 1 đô Mỹ, rồi tùy tỷ giá USD-VND mà 1 ria ăn 5000, 5500 hay 5700 VND) nhưng tôi vẫn mơ hồ, không rõ hết lý do nào mà một bé gái rách rưới cứ “ấn định” số tiền này bằng mấy tiếng Việt bập bẹ “Cho xin… một ngàn ria đi”. Có lẽ là trong sinh hoạt cơm-áo-gạo-tiền của người dân Campuchia, 1000 ria là trị giá tiền bạc nhỏ nhất, không đáng quan tâm nên đứa bé hy vọng là khách sẽ dễ dãi bỏ ra bố thí. Con bé đã chắp tay nói “Cám ơn” rồi bỏ tờ bạc vào cái tô nhựa trên tay một người đàn ông vừa mù vừa cụt chân.

Ngày sau đó dành cho phần tham quan chủ lực của gói tour là viếng quần thể kỳ quan Angkor, trong tôi lại tiếp tục lãng đãng cái cảm giác bâng khuâng mơ hồ. Du khách luôn bị hối thúc di chuyển để xem lướt qua cho đủ các địa điểm tham quan ghi trong chương trình, như: tháp Phnom Bakheng, Angkor Thom, tượng Bayon, quảng trường đấu voi, Angkor Wat, đền Ta Prom.v.v… Ở con đường mòn đi vào Angkor Wat, ngồi dưới đất là một nhóm năm người đàn ông, mù hoặc cụt chân, lặng im trình diễn các loại đàn dây, bộ gõ… của nhạc cổ truyền Khmer. Guider người bản xứ cho biết đó là những thương phế binh hay thường dân bị tàn phế bởi nạn mìn, bom còn sót lại đầy dẫy trên đất nước này sau mấy cuộc chiến tranh liên lĩ. Trên một bãi cõ bên con đường ra khỏi đền Ta Prom, người ăn xin ngồi thành hàng, chắp tay trước miệng. Một bà già hom hem, mặc váy xà-rong rách tướt nhiều chỗ, không để ý gì đến con khỉ đít đỏ đang lửng thửng bò đi bên cạnh, chỉ cắm cúi lượm những vỏ chai nhựa bị ai đó vứt bỏ ở các gốc cây, mương nước…

Lẫn khuất sau những tán cây thốt nốt xơ xác, đền tháp nào cũng một màu đá cổ ảm đạm, tuy phế tích một thời hoang tàn này đang ngày ngày được trùng tu, phục dựng. Nhưng khổ nỗi - kệch cỡm, xấu thảm hơn hết chính là ở những khu vực đang sửa chữa, gá ghép lỡ dở với sắt, gỗ, xi măng… Như chỗ tham quan đầu tiên từ sáng sớm là tháp núi Bakheng - guider nói là để từ ngọn núi này xem cảnh mặt trời mọc – đã chẳng thú vị gì vì ở đây gần như đóng cửa, chỉ thấy toàn rào chắn, bảng ‘Work site – do not enter’, cần cẩu ngạo nghễ che cả đầu tháp…

2.

Sáng sớm ngày thứ ba của cuộc hành trình, xe quay về thủ đô Phnom Penh. Cuối năm 2007, trong cuộc thi hằng năm của Diễn đàn Lãnh đạo thế giới phi chính phủ (NGO) tại London, Phnom Penh được chọn vào số 400 thành phố trên thế giới nhận giải thưởng về môi trường, đồng thời được ca ngợi về sự tiến bộ trong việc kiểm soát lũ lụt và rác thải. Xem ra lựa chọn của tổ chức NGO cũng khá chí lý vì so với Sài Gòn, dù không có mạng điện thoại cố định và khó tìm thấy trạm bưu điện nhưng Phnom Penh vẫn ít rác rến hơn và hay nhất là ít ồn ào hơn (dân Campuchia không có kiểu bấm còi xe vô lối như dân mình). Ở khu trung tâm thủ đô, trên những con đường rộng rãi, nhiều cây xanh và tiểu hoa viên, lui tới toàn là chiếc xe hơi cao cấp, kiểu mới nhất, phổ biến là hiệu Lexus. Dinh cơ, trụ sở của chánh phủ và các đảng phái là những tòa nhà kiểu… nhà chùa, nóc nhọn cao vút, mái cong theo kiểu rắn thần Naga bò ngang bò dọc. Cơ ngơi kinh doanh, trú ngụ của giới thương gia, Hoa kiều, Việt kiều, Ấn kiều… thì theo kiến trúc phương Tây, sử dụng nhiều về chất liệu kính màu.

Nhưng không xa cái mẫu đô thị sạch đẹp, hoành tráng kiểu nửa cổ đại nửa tân thời, đã được giải thưởng quốc tế về môi trường ấy, ở ngay bên kia cây cầu Bonivong dẫn vào thủ đô, chỉ thấy phần lớn là những căn nhà gạch, nhà gỗ thấp bé, hay lêu đêu, lỏng khỏng là những căn nhà sàn cột gỗ - kiểu nhà mang bản sắc riêng của vùng đất thường bị ngập lụt, nhếch nhác và chắp vá.

Bộ mặt ảm đạm của vùng nông thôn – có lẽ cũng chính là vẻ mặt trung thực nhất của đất nước Campuchia - đã áp sát vào bờ sông Tonle Sap, dường như bị chận đứng trước dốc cầu Bonivong (người Việt thường gọi là cầu Sài Gòn) hay kẹt xe vào chiều tối. Cảnh phân liệt giàu, nghèo lồ lộ giữa hai bên bờ sông khiến tôi tưởng như đám nông dân nghèo khó của xứ sở này - ban đêm thường chỉ sinh hoạt bằng đèn dầu hôi và đèn bình ắc-qui - đã bị cái thành phố sáng lóa đèn điện kia thần lặng cấm cửa từ lâu rồi. Và hằng ngày, trên những chiếc xe đò cũ nát chở đám dân lôi thôi lếch thếch này vào thành phố kiếm sống, từng có cảnh hành khách chen nhau ngồi kín cả mui xe, có người ngồi cả vào ô cửa xe đã tháo kính đâu mất, nhoài cả thân người ra ngoài. Trên chiếc xe có tải trọng 15 người nhưng nhét tới 50 người này, giá vé những chỗ ngồi “phụ trội” kinh khủng ấy rẻ còn 2/3 hay một nửa mà thôi.

Từ khách sạn 3 sao CardaMom, chúng tôi được đưa đi tham quan Hoàng cung. Từ chánh điện thiết triều, tòa văn phòng Bộ hoàng cung, tòa nhà vua Napoleon III tặng cho vua Cam-bốt xưa kia (đang được trung tu), cho đến chùa Vàng, cũng toàn những đường nét cổ kính, tráng lệ nhưng được cái là không hoang phế như quần thể đền Angkor trong rừng già nguyên thủy. Trong lúc những du khách nước ngoài trầm trồ trước số lượng vàng bạc, đá quí, đồng đen, ngà voi… được đem trưng bày khắp chỗ trong ngôi chùa Vàng thì ngược lại, nhiều người khách bản xứ lại tỏ ra xa lạ với mớ quốc bảo của họ, nhất là đối với các phụ nữ Campuchia lớn tuổi. Các cụ, các bà chỉ lặng lẽ khấn vái, cúng tiền công đức trước những tượng Phật lớn, nhỏ đủ cỡ.

Cũng tuồng như xa lạ đối với người bản xứ là các sòng casino rộng mênh mông, các tụ điểm massage và karaoke, các sân khấu hầu như dành riêng cho du khách với các vũ nữ xinh tươi múa Apsara, các cửa hiệu hào nhoáng của các công ty đá quí hay phòng ăn bouffet cực kỳ sang trọng trong đại khách sạn Tonle Bassac…, đang chiếm lấy những địa điểm ngon lành nhất giữa thủ đô Phnom Penh để du khách dễ dàng lui, tới.

3.

Còn ở xa khuất thủ đô của vương quốc, hay dưới những cái bóng buồn bã, câm nín của những tòa tháp cổ ở Siem Reap, hoặc dọc theo hai bên những con đường hoang vắng đi qua hay dẫn vào các hương trấn cũ kỹ - đang được gấp gáp “tân trang” chút đỉnh tiện nghi để có chỗ cho du khách ghé rửa mặt, đi vệ sinh - của các tỉnh toàn đồng ruộng như Svay Rieng, Kampong Cham, Can Dan…, đại đa số dân Campuchia là nông dân nghèo, đời sống không khác nhiều so với người Khmer cổ, nghĩa là chỉ có những mảnh ruộng manh múng, thường xuyên ngập úng cùng những con trâu, con dê ốm đói. Với hệ thống thủy lợi vụn vặt và vô bổ, nông dân xứ Chùa Tháp làm ruộng chỉ nhờ vào nước mưa trời và lớp phù sa lưu lại trên đất khi nước ngập rút đi, nên họ rất hiếm khi phải dùng đến phân bón, hoá chất.

Với kiểu làm nông cổ lỗ – nói an ủi là ‘thân thiện với thiên nhiên’ - như thế, nhưng Campuchia lại có một điểm son phát sinh là môi trường sống ở nông thôn nước này phải nói là còn sạch, ít ra là chưa bị ô nhiễm đáng báo động như ở VN. Đáng khen hơn là tuy mỗi năm chỉ làm một mùa lúa nhưng đất nước này lại có loại gạo giống địa phương quá ngon như du khách chúng tôi đã thưởng thức và nhiều người nhất định tin y như lời guider người bản xứ đã giới thiệu một cách tự hào, rằng đây là ‘gạo sạch’ vì không dùng phân bón, hóa chất này khác…

Tôi lại suy nghĩ chệch đi một chút, rằng những món ‘đặc sản’ côn trùng nổi tiếng của xứ Chùa Tháp, như: dế, nhện, bò cạp, cà cuống, ve, niềng niễng…, đem chiên xả, ớt dòn dụm, cũng có thể được tin là những món ăn ‘sạch’, tức thực phẩm an toàn, do bầu trời xứ này có trong lành, đồng ruộng xứ này còn ít hay chưa nhiễm các dư chất thuốc trừ sâu, thì bọn ‘tám chân’ có cánh này mới tha hồ sinh sôi, nảy nở.

Do ngoài ruộng, đồng mới có nhiều côn trùng nên ở vùng thôn quê dọc theo hai bên quốc lộ, nhất là trên địa bàn Kampong Thom, tỉnh nghèo nhất nước Campuchia, người dân thường đặt vô số những cái bẫy bắt côn trùng có cánh. Loại bẫy đơn sơ, rẻ tiền này chỉ gồm một miếng nylon trắng căng rộng bằng một bộ khung tre, giống một tấm màn thả trên một cái mâm đựng nước, kèm theo là một bóng đèn neon được treo đứng giữa tấm nylon. Khi chiều tối và ban đêm, bọn côn trùng có cánh bay ngoài trời - như dế, cà cuống, niềng niễng…- thấy đèn sáng thì bay tới và vướng vào tấm nylon, rơi xuống mâm hứng (hầu hết làm bằng nylon dày cho rẻ, hiếm khi là loại mâm làm bằng gỗ hay tôn thiếc), chúng chết đuối nhưng không thối vì nước có pha muối. Sáng ra, người đặt bẫy ra thu hoạch, tháo cất đèn neon và cuốn tấm nylon lại cho khỏi rách bởi gió mạnh.

Campuchia đang mùa mưa, côn trùng sinh trưởng mạnh nên được biết là hàng ngày, với loại bẫy này mà người dân nghèo có thể cung cấp đều đặn hàng tấn tấn nguyên liệu còn tươi cho các lò chế biến thức ăn từ côn trùng. Như ở một cái chợ nhỏ, cũng là trạm xe du lịch dừng chân gần tỉnh lỵ Kampong Thom, tất cả côn trùng đều được chiên dòn với xả, ớt. Dế than, dế mái, cứ một lon sữa bò là 1 đô la Mỹ, dế cơm lớn con hơn thì 10 con 1 đô. Riêng về con cà cuống mà một số người ăn thử cho là ngon nhất trong các món côn trùng thì 2 đô một chục con. Đáng chú ý là à món nhện chiên dòn, giá 2 - 3 đô/10 con, tùy con nhỏ hay lớn. Đặc biệt có nhện sống, vô tư bò tới bò lui trong thúng, giá là 10 đô lấy 30 con, thường được bán kèm với rượu đế để quý ông mua về ngâm rượu thuốc, được quảng cáo là tráng dương, bổ thận…

4.

Ngày cuối, xe trở về VN trong cơn mưa kéo dài. Nhìn qua làn kính xe, những cái bẫy côn trùng bên đường trông giống như những vệt trăng trắng, khi ẩn khi hiện, mờ ảo trên nền cỏ xanh, đất đỏ của vùng quê hiu quạnh, tối tăm. Trên tay tôi thì từ bức ảnh chụp làm bìa cuốn cẩm nang du lịch Campuchia, ngôi chùa Vàng trong Hoàng cung lại như sáng bừng lên, rực rỡ mọi góc cạnh, rõ nét như cảnh thực.

Nhớ tới một bà cụ đầu trọc, dáng vẻ cơ cực, nhắm mắt quì mọp trong tư thế bất động rất lâu trước bệ tượng Phật ngọc bích tuyệt mỹ trong ngôi chùa này hôm qua, tôi chợt cảm nhận cái hình dung lãng đãng, nửa thực nửa ảo, đặc hiệu Campuchia.

Mơ mơ màng màng trong cảnh giới tâm linh huyền hoặc của tín lý đạo Phật tiểu thừa hòa trộn với ảnh hưởng đạo Bà La Môn còn cổ xưa hơn nữa, hình như người Campuchia bỏ mặc đời sống thực tế, dù cho đó chỉ là những nhu cầu, tiện nghi vật chất tối thiểu cho thân xác “ngũ uẩn” giả ảo của họ. Điển hình như cả khi được sống ở cái thủ đô hơn 500 năm tuổi đang ‘lên đời’ kia, chứ không kể gì đến vùng nông thôn xơ xác – nơi người dân còn kiếm sống ‘cò con’ bằng cách bắt côn trùng hoang dã để làm món ăn bán cho du khách – thì những người dân đất nước này chỉ muốn lựa ra mà sống với phần tâm linh chìm ẩn trong những đền tháp, chùa chiền, cung điện kỳ vĩ, xa hoa… mà các triều vua, các chính phủ của họ - qua những tờ brochure, tấm postcard màu mè - luôn đưa ra làm bộ mặt biểu trưng cho đất nước mình với toàn thế giới …

_________________________________________
(Tháng 6 – 2013)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 06.07.2013.
Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com Khi Trích Đăng Lại .