PHỐ NÚI



thu về máy đọc dưới dạng Ebook

Bất cứ nơi nào đó, nếu đã đi qua một lần trong đời, tôi đều khao khát muốn trở lại, nhất là sau một khoảng thời gian dài cách biệt.

Tôi trở lại Pleiku cũng bắt nguồn từ sự khao khát như thế. Lần thứ nhất tôi đến Pleiku khi mới mười sáu tuổi, đang học lớp muời. Bạn tôi - Tuyết Chi – có một người dì ruột trên đó. Mấy ngày nghỉ lễ không biết làm gì, sẵn có chút máu giang hồ vặt nên tôi đi thăm phố núi với Tuyết Chi.

Qua khỏi đèo Mang Dang, khí hậu đã khác hẳn. Phong cảnh mang một vẻ gì rất Cao Nguyên với đồi núi chập chùng. Bấy giờ là mùa đông, khí hậu lạnh hơn đồng bằng nhiều. Thị xã hồi đó nhỏ xíu, buồn hiu hắt với những con đường đất đỏ bùn lầy. Đi bộ một chặp thấy hai ống quần đầy những vệt đất đỏ. Ấn tượng về Pleiku còn giữ mãi trong tôi đến bây giờ là những trái bắp nướng tưới mỡ hành và nước mắm ớt tỏi bán rât nhiều ở những hàng rong ven đường về đêm. Bắp Pleiku ngọt và thơm hơn hẳn bắp đồng bằng. Cứ đi một đoạn lại thấy một người bán bắp ven đường hì hục quạt lửa. Lò than hồng tỏa hơi ấm trong đêm đông và những hạt bắp nổ tí tách nghe thật vui tai.

Nhà dì của bạn tôi ít người, đứa con gái đầu lòng nhỏ hơn tôi một tuổi, đang học lớp chín, tên Ánh. Dì Bốn là một người đàn bà có vẻ đẹp phúc hậu , niềm nở, hiếu khách. Ông chồng thấp lùn, trông bề ngoài không tương xứng với vợ nhưng rất hiền và có vẻ rất thương vợ. Khi thấy vợ lúi húi dưới bếp một mình, còn chúng tôi thì mãi chơi, ông nhỏ nhẹ nhắc Ánh: “ Xuống phụ bếp với má đi con”. Thế là cả ba chúng tôi cùng xuống bếp. Tôi được dì Bốn bày cách tước măng le bắng một cây ghim băng. Măng le vùng núi ngọt, không có vị đắng như măng đồng bằng, chấm nước mắm ớt tỏi ăn với cơm rất ngon. Hơn ba muơi năm trôi qua tôi vẫn còn nhớ nhiều điều, duy có con đường nhà dì Bồn ở là tôi không tài nào nhớ nổi. Tuyết Chi bạn tôi đã theo chồng định cư bên Úc, rất nhiều năm trôi qua chúng tôi đã mất liên lạc . Gia đình bạn tôi cũng không còn ở chỗ cũ nữa, nên tôi không thể hỏi địa chỉ hiện nay của dì Bốn. Lần nầy trở lại Pleiku sau hơn ba muơi năm. sau khi bỏ đồ đạc vào khách sạn, tôi đã lang thang ra phố với ty vọng mong manh biết đâu mình sẽ tìm ra nhà dì Bốn. Plei ku sau hơn ba mươi năm đã khác nhiều. Không còn những con đường đất đỏ bùn lầy nữa mà đã được trải nhựa. Nhà cửa cũng không còn lụp xụp như xưa mà đã mang dáng vẻ của một thành phố nhỏ. Đường phố vẫn lắm dốc và thưa thớt xe cộ mặc dầu đang là chiều cuối tuần. Đúng là phố núi, bao giờ cũng có một chút gì hiu hắt, buồn vắng. Tôi cũng biết việc tìm ra nhà dì Bốn là rất mong manh. Sau 1975, nhiều đường phố đã đổi tên, mặc dù tôi vẫn nhớ như in căn nhà của dì Bốn, nhưng với tốc độ đô thị hóa nhanh như hiện nay, làm sao nó giữ nguyên dáng vẻ như cũ được, nhất là nó lại là nhà mặt tiền? Biết thế nhưng tôi vẫn cứ lang thang đi tìm, tin tưởng ở trí nhớ của mình, biết đâu mình sẽ nhận ra một nét gì đó của khung cảnh xưa trong mịt mùng ký ức.

Ban đầu còn đủ sức đi bộ, về sau mỏi chân quá, tôi trở về khách sạn nhờ nhân viên tiếp tân thuê giúp một chiếc xe máy để có thể đi hết thành phố. Loanh quanh cả buổi chiều vẫn không tìm ra dấu vết gì của căn nhà trong ký ức, tôi đành trở về khách sạn.

Pleiku mùa nầy hay có mưa đêm. Phố lên đèn, buồn lạnh và vắng ngắt. Gió bắt đầu thổi mạnh. Những chậu cây cảnh trước khách sạn cứ nghiêng hẳn về một bên. Có vẻ như sắp có bão rớt. Tôi bỗng chú ý đến một túp lều bạt “ cắm trại” bên đường, ngay trước khách sạn. Bên trong không biết bán gì. Từ lan can khách sạn nhìn xuống chỉ thấy ánh đèn và bếp lò than hồng. Sự ấm cúng bên trong túp lều giữa một đêm mưa bão thu hút sự tò mò của tôi. Tôi rời căn phòng ấm cúng của khách sạn xuống lầu. Cô tiếp tân của khách sạn niềm nở chào hỏi: “ Chị đi đâu đấy? Đài báo đêm nay có áp thấp nhiệt đới đấy ”. Tôi chui vào chiếc lều bên đường. Một người đàn bà, một bếp lửa, mấy chiếc ghế và một chiếc bàn con. Tôi hỏi: “ Chị bán gì thế?” Người đàn bà chỉ chiếc nồi đang sôi trên bếp lửa: “ Hột vịt lộn ”. Tôi nói: “ Tôi vẫn thấy người ta luộc sẵn ở nhà rồi ủ nóng , đỡ phải mang theo bếp lò. ” Người đàn bà lắc đầu: “ Không có bếp lửa thì lạnh lắm. Những đêm mưa bão tôi vẫn bán một mình ở đây”. Nhìn chị có thể thấy được gánh nặng của những lo toan đời thường vẫn còn in đậm trên khuôn mặt dầu dãi. Tôi lân la hỏi dò: “ Ở thành phố nầy chị có biết một người đàn bà nào tên Bốn, năm nay khoảng bảy mươi tuổi, có cô con gái đầu lòng tên Ánh không?. Người đàn bà lắc đầu: “ Tôi không quen ai như vậy”. Đã thấy trước câu hỏi của mình là vô lý và không đủ cơ sở nhưng tôi vẫn hỏi, biết đâu có một sự may mắn tình cờ. Thế giới nầy tuy rộng lớn mênh mông nhưng cũng có khi rất nhỏ hẹp. Nhưng nếu bây giờ tìm được nhà dì Bốn chắc gì dì còn sống, và chắc gì Ánh đã nhận ra tôi. Đã có biết bao thay đổi trong hơn ba mươi năm, thời gian dài như cả nửa đời người ấy. Thế nhưng tôi vẫn muốn gặp lại căn nhà ấy, gia đình ấy, như muốn gặp lại thời thơ ấu của chính mình.

( Pleiku 6-2002 )


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn ngày 29.06.2013.
. Tải đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com.