TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





NGUYỄN HIỆP


















BỨC PHÙ ĐIÊU MÂY TRẮNG



Tôi nới rộng ô cửa sổ “webcam”* theo lời đề nghị của ông Minh, khuôn mặt cô gái Mỹ tóc vàng, mắt xanh rõ nét dần. Trong “phone” phát ra một giọng tiếng Việt lơ lớ: _ Chầuu…ba…ác…và…an…! Tôi chào lại cũng là để thông báo mạng đã được nối kết và đã mở được “webcam” của cô ta. Không thêm một lời nào, ống kính “webcam” vội chuyển sang hình ảnh già Wheeler đang nửa ngồi nửa nằm trên giường bệnh, tôi thích gọi tên William của ông theo cách của người nhà hơn là gọi họ, nghe khách sáo quá. Bên máy này, tôi cũng chuyển ống kính sang phía ông Minh. Ngay lúc ấy, tôi chợt thấy già William nở nụ cười tươi tắn, đầu khẽ gật, ông Minh gật lại làm cửa sổ thu hình nhoè đi chốc lát. Chợt tôi thấy già William chỉ tay sang trái, ống kính được dịch chuyển từ từ đến một bức tranh trên tường rồi thu gần lại; tôi đã nhận ra bức phù điêu Mây Trắng, ông Minh cũng đã nhận ra; lần đầu tiên tôi thấy đôi mắt ông Minh ứ tràn nước mắt. Màn hình bên kia chợt nhoè nhoẹt vì có nhiều bóng người hối hả qua lại. Khuôn mặt cô gái Mỹ rũ rượi tóc tai và nước mắt, cô ta không nói gì, nhưng trên cửa sổ nhỏ lại hiện ra dòng chữ không dấu: “Ba toi da qua doi!” Ông Minh và tôi cùng chết điếng giây lâu. Hoá ra cuộc gặp gỡ qua mạng Internet lần này là do già William biết mình bệnh sắp chết mà hối con gái liên lạc với chúng tôi. Ông Minh nhìn trân trân lên màn hình, từng hạt bồ đề lăn qua tay ông khó nhọc nặng nề. Tôi đợi mãi không thấy thêm động tĩnh gì nên ngắt mạng tắt máy rồi ngồi thừ ra, bao nhiêu hồi tưởng ùa về: một câu chuyện hoá chuyển kẻ thù thành bạn bè cảm động, một sự thể gắn kết giữa cá nhân và dân tộc, một thế giới riêng độc sáng trong nghệ thuật, tuyệt đẹp trong đời sống cộng đồng…dẫn tôi quay ngược thời gian.

…Đại úy William Wheeler, đồn phó đồn ra-đa Star trên núi có thói quen đến trà thất của ngôi chùa gần đó, vào mỗi sáng khi tiếng mõ công phu vừa dứt. Vị trà chủ là đại đức trụ trì Thích Tâm Hoà, người nổi tiếng thâm trầm và uyên bác. Những buổi trà đạo hấp dẫn William wheeler, có khi chỉ là những lễ nghi trang trọng, chủ và khách cùng tiếp xúc với cái bình dị, tinh sạch trong khung cảnh mái tranh, sàn ván của trà thất, đôi khi nó gần như kinh nghiệm tâm linh mà anh ta vốn coi là hành trang quý giá mình ý thức góp nhặt khi về lại phương Tây, cũng có khi đặc biệt, anh nhận thức có cơn bão trong chén trà, chính xác hơn, những câu đàm đạo trong không khí như vậy tựa những cơn bão ngầm có sức mạnh làm thay đổi quan điểm của anh ta về chiến tranh, về ý thức hệ. Sự tác động phụ họa cho thay đổi kia là vụ “scandan” tại bản quốc lúc ấy: thiếu tướng hải quân Larocque đệ trình Lầu Năm Góc một bản báo cáo có tính “phá phách” rằng: “ Không có khả năng giành chiến thắng quân sự ở Việt Nam”.Cơn gió mạnh góp phần làm cho anh ta lung lay là cái chết kì lạ của những người bạn Mỹ khi chiếc trực thăng bị hút xuống tan tành lúc bay ngang đồi Thạch Anh Tím, không ai có một lời giải thích thỏa đáng cho hiện tượng như là huyền bí này. Nhìn bức thư pháp mực nho viết chữ “Ngộ”, nửa như thư pháp, nửa như hoạ pháp là bức tranh duy nhất treo trong trà thất và đối diện với anh ta là vị đại đức đang xếp bằng, dáng ngồi chìm trong sự tĩnh lặng, trông khiêm cung và an bình nhưng lại toát ra một loại uy lực bất thành văn, William Wheeler tự thấy thẹn với cái ý thức mà người ta nhồi nhét vào đầu anh là có quyền tối cao để định hình mọi dân tộc theo hình ảnh chính mình.

Đó là những chiêm nghiệm sau này, gần với giai đoạn William Wheeler bị đưa ra toà án binh vì tội tự hủy hoại cơ thể để giải ngũ, còn ngày đầu anh đến với vị trà nhân đây thực là một vết mực khó phai, hằn lên lòng tự hào về văn minh phương Tây của anh ta. Chuyện xảy ra vào một buổi trưa, William Wheeler và hai sĩ quan trẻ, người của Goerge Crarver, chuyên gia tình báo về Việt Nam, đang dò định địa điểm mới xây buồng máy đặc biệt, xong việc họ ghé chùa. Trong mái tranh nhỏ bên góc chánh điện, họ thấy vị đại đức đang ngồi uống trà một mình. Họ được mời vào cái mà sau này wheeler mới hiểu ra là trà thất. Vị thầy tu này đĩnh đạt thong thả, một động tác là một hành vi tuyệt đối, không thiếu, không thừa, các ngón tay không hề tách rời, ông dùng các trà cụ với sự chú tâm đặc biệt. Họ đang khát nước, thoạt đầu, chính Wheeler cũng nghĩ rằng: Ông ta biết điều đó và đang giễu cợt họ chăng. Khi các chén trà nhỏ sóng sánh được rót đều từng chút một theo ba vòng đã xong, ông ta vén tay chậm rãi bưng chén mời Wheeler đầu tiên. Ngay lúc ấy, một trong hai sĩ quan kia đã ngang tàng tự cầm chén trà ực một hơi. Vị đại đức khẽ đưa mắt nhìn, trong tích tắc đó, Wheeler cảm thấy sự sỉ nhục đè nặng lên tim, anh ta nghĩ rằng: ánh mắt kia nhìn tay thiếu úy nọ và chung cả họ nữa như những con người xa lạ, xa lạ cả về văn hoá và hướng tiến hoá tinh thần. Nhưng rồi chính vị đại đức, vẫn thái độ thong thả, rót lại chén trà, mời mọc cẩn thận từng người; đợ tất cả đã uống, ông ta mới che miệng nhấp một ngụm nước nhỏ. Có thể ông ta đang cố dấu mình chăng? Sau này Wheeler mới hiểu câu: “ Bây giờ và nơi đây” lặp lại nhiều lần của vị trà chủ lúc đó là muốn nhắc nhở sự tỉnh thức, trọn vẹn với thế giới hiện tại, kêu gọi sự xoá bỏ tạp niệm của chính wheeler và đồng sự). Từ lúc ấy, lí trí anh ta bắt đầu manh nha một điều gì đó tựa ánh sáng cuối đường hầm làm rõ nét dần cái ý thức về sự mềm yếu sâu sắc trojng mỗi chiến binh Hoa Kì, nhất là anh ta, người đang mặc bộ đồ trận tưởng chừng mạnh mẽ, thật ra chỉ nhờ làn vải ủi hồ và những vũ khí ngoài thân. Khi đối mặt vị sư trong các buổi trà đạo sau đó, wheeler cảm thấy bối rối, không một hành vi nào trong các hành vi của anh ta lúc đó sẽ giành thế chủ động.

Ngay khi đã trở nên quen thuộc hơn, trong một lần tham dự trà đạo, anh ta thử mạn đàm về tình hình cuộc chiến thay cho các đề tài văn chương trước đó. ( Họ đã bàn khá nhiều về việc minh họa kinh Kim Cang trong thơ Nguyễn Du, về tính thiền trong thơ Hitomaro, một nhà thơ Nhật ở triều đại Omi). Câu hỏi Wheeler đưa ra mà anh nghĩ vị trà chủ sẽ lúng túng là: “Nhận định thề nào về cuộc chiến này?”_Mô Phật! Có dâng tức có thoái! Hãy thấy mọi vật la duy nhất đễ dễ chấp nhận thất bại. Đế võng là một khái niệm nói về chỉnh thể nhất nguyên mang tính hiện đại đến muôn đời. _Nghĩa là sao, thưa ngài? _Nghĩa là vạn vật và con người đều có sự liên tồn, ít nhất là về mặt năng lượng, như sóng âm thanh, sóng ánh sáng, điện từ…Nếu ông động vào một mắc lưới hoặc hủy diệt nó tức là ông đã làm cho bản thân mình tự suy yếu. _Thưa ngài, còn hiện tại? _Nam mô a di đà Phật …hai gọng kìm không đưa đến một giải pháp._Là thầy tu sao thầy biết chiến dịch “Hai gọng kìm”?_Tôi nói gọng kìm là nói về biểu tượng hủy diệt, về quân sự thuần túy chứ không hàm gọi tên chiến dịch nào cả. Đêm đó, William không ngủ được, anh cứ đi đi lại lại trong phòng, rồi bước ra ngoài đắm mình vào trong làn sương núi, hơi lạnh càng thấm vào, anh ta càng tỉnh táo, anh ta hkông thể phủ nhận mình đang nghi ngờ về sự hiểu biết quá tầm ở các lĩnh vực xã hội của đại đức Thích Tâm Hòa, tuy vậy nơi vị thầy tu này cũng phát ra một luồng điện hấp dẫn làm cho anh luôn cảm tình và bênh vực ông ấy.

Và điều thắc mắc đó William Wheeler chỉ giải thích được sau hơn ba mươi năm, khi thực hiện được chuyến đi ước mơ. (Ông dành dụm từng đồng tiền bán tranh để có được chuyến đi này.) Từ lúc xuống xe ở sân bay Tân Sơn Nhất, ông thu xếp mọi thủ tục thật nhanh để thuê taxi ra tại ngôi chùa trên núi Tà Cú, một ngọn núi sót trong dãy Nam Trường Sơn, thuộc cực Nam Trung phần Việt Nam. Wheeler hỏi đường lên chùa, ( ngày xưa ông thường dùng chiếc jeep lùn hai cầu chạy thẳng lên đồn rada Star theo con đường nhựa dành riêng co quân sự). Vị trù trì mới chỉ ông đến một địa điểm dưới phố gần đó. Theo bước chân hạ sơn, Wheeler chợt nhớ lại những bài thơ xưa khi hai người từng bình phẩm, ông bật lên thành tiếng âm âm giữa đường núi:

“Đau yếu giữa hành trình

Chỉ còn mộng tôi phiêu lãng

Trên những cánh đồng hoang”

(Basho)

Ánh sáng tinh thần từ những câu thơ tuyệt đẹp ấy sáng tràn các góc khuất tâm hồn ông, thực sự tăng thêm cho ông nguồn sinh lực mới. Những câu thơ tuy không nói thật một cách toàn thể, nhưng toàn thể, nó như một sự thật-sự thật vượt sự thật. Đồn Star cạnh ngôi chùa, qua thời gian đã không còn dấu vết, nhưng vị trà nhân và những câu chuyện v ăn chương giữa họ không bao giờ phai mờ. Ông đã sống mạnh mẽ trong suốt quãng đời sau này dù có những lúc “đau yếu giữa hành trình”. Wheeler thầm cám ơn cơ duyên cho ông có một người quen lạ lùng trên núi cao như vậy.

Wheeler ngỡ ngàng bước vào phòng khách, căn phòng như một phòng trưng bày tranh, sư Tâm Hòa mặc bộ bà ba mộc mạc, mái tóc bạc trắng, ngay lập tức bước ra chào và gọi tên William một cách thân mật. Cả hai xúc động nhưng vẫn giữ tư thế đĩnh đạc. Trong một chiếc tủ nhỏ đựng đầy những huân chương và giấy khen, Wheeler đọc thấy dòng chữ nhỏ: “kháng chiến chống Mỹ”, ông ta nghĩ miên man về điều đó. Vẫn cái cách rót từng chút trà ra một những chiếc cốc nhỏ màu đất, bên trong phủ men trắng, ông Minh bưng mời khách:_William à, đây là chén trà đánh dấu sự gặp lại._ Vâng thưa sư…à, thưa ngài…Hơn ba mươi năm rồi…Cả hai cùng lặng đi, dường như tuổi già dễ làm người ta mềm lòng. Rồi họ miên man ôn lại những kỉ niệm thời chiến. Đột nhiên Wheeler lúng túng:_Chiến tranh qua lâu rồi…Tôi thật tò mò xin hỏi: _Lúc đó, ngài giữ cương vị gì?_ À, thời kì đó, tôi phụ trách phòng chính trị của l ực lượng an ninh tỉnh._Tại sao ngài dám ở gần đồn rada Star? _ Vì nhiều lẽ: thứ nhất, về tâm lí, sẽ không bị nghi ngờ, thứ hai, để nắm bắt thông tin từ các ông, thứ ba, vì tôi đang chỉ đạo mảng phía nam tỉnh, ở đó sẽ thuận lợi._ Vậy các ngài ở chùa lúc đó đông không?_ Mười người, tôi và một trà giả là chú tiểu ở trên, còn lại sinh hoạt dưới hầm. Wheeler từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác cứ nhìn chăm bẳm vào đôi mắt đang trò chuyện thong thả của vị sư, một cán bộ Việt cộng ngày xưa, bây giờ về hưu là một họa sĩ . Và người nghệ sĩ kia cũng hiểu khi người ta thôi dò xét đôi mắt, lúc nói chuyện chỉ nhìn vào môi, tức tâm đã gần với sự hòa hợp.

Từ lúc đó trở về sau, họ chuyển sang nói về các bức tranh của chủ nhà, những bức tranh mang màu sắc triết đạo. Chủ nhà nói thật tên mình là Minh- Nguyễn Thanh Minh và bày tỏ sự ngạc nhiên khi biết William Wheeler cũng là một họa sĩ, một họa sĩ tôn thờ sự vận hành thật sự của ý tưởng, vượt qua các hình thức kiểm soát của lí trí. Chủ nhà gật đầu nhè nhẹ rồi nói: _Tôi cũng thích những nét cọ tự động từ tâm thức, nhưng đó là tâm thức của cả dân tộc tôi._ Tất nhiên! Cả hai vói tay cầm bình trà, tay họ đã đụng nhau, cả hai cùng hiểu tính cách tự nhiên thân thiết cho phép họ đến gần nhau hơn. Chủ nhà nói:_Tôi kết hôn với màu trắng. khách nói:_ Còn tôi, với màu đỏ. Chủ nhà nói:_Màu trắng giúp tôi rất nhiều trong tư duy. Khách nói:_ Màu đỏ giúp tôi sống mạnh mẽ…và cũng có lúc khờ khệch thiêu thân, tôi bị ám bởi một loại bản năng bị hút bởi màu mạnh, nên có khi tôi vừa là tác giả vừa là nạn nhân của chính đứa con đẻ ấy. Chủ nhà chợt dè dặt:_ À…Mà điều đó cũng có ở hầu hết các nghệ sĩ, dấn thân chứ không phải thiêu thân William à! _Vâng! Ngài quả là chính xác. Thoạt đầu nhìn bức tranh vẽ đôi guốc màu trắng nằm chỏng chơ giữa cơn mưa tím, cảm xúc của tôi liền ùa theo màu tím, tôi nghĩ màu xanh dương và màu đỏ hợp thành ấy có thể nuốt chửng mọi thứ, bởi sự liên tưởng rất mạnh của tôi tới những người bạn đã nằm xuống ở đồi Thạch Anh Tím, nhưng sau đó tôi ngẩn người vì đôi guốc màu trắng ở điểm mạnh bên phải mới là vấn đề chính. Chủ nhà đọc một câu thơ của Rimbaud:_” Ôi âm O, Omega, mắt em tía tím”. Khách thán phục:_Thật không ngờ ngài cũng am hiểu phương Tây đến vậy. Cả hai lại uống trà. “Uống trà đi” trở thành câu nói thiền giúp hai người trở về tĩnh lặng.

Đến ngày thứ hai của cuộc viếng thăm, ông Minh chủ động:_ Hay là ta đi viếng đồi Thạch Anh Tím rồi cùng lên đỉnh núi Tà Cú vẽ tranh! _Vẽ gì thưa ngài?_Chưa biết, có thể là tác phẩm cuối cùng. Cả hai rất tâm đắc với ý tưởng này. Wheeler tặng ông Minh một bộ bay vẽ đắt tiền. Họ chuẩn bị màu, toan, khung, thức ăn…rồi lên đường.

Tôi được mời đi theo, đó vừa là ý của ông Minh vừa là ý của tổ chức. Từ ngày ông Minh còn làm việc, tôi đã quen với việc đi bảo vệ ông. Tôi đến với võ thuật trước khi vào ngành an ninh, nhưng chính ông Minh mới là người có công dạy tôi sự khác nhau của hình công, nội công và huyền công. Lần này tôi lại là kẻ tháp tùng phàm phu tục tử, tự thấy mình yếu đuối, nhỏ bé trước đời sống tinh thần của ông, nhất là sau khi nghe lại chuyện của hai người. Tôi đã thật sự chìm trong sự ngổn ngang của cuộc sưu tầm những hạt cát cấu thành con đường, con đường tuyệt đẹp lắm hoa và lắm gai. Tôi nhớ cách đây không lâu, khi thấy tranh ông Minh vẽ đã nhiều, nhiều bức làm tôi ngây ngất vì ý nghĩa biểu tượng và tính thẩm mĩ của nó, tôi buông miệng đề nghị ông triển lãm và bán tranh. Ông Minh nghiêm nét mặt lại không nói chuyện với tôi cả tuần. Sau đó, ông nói:_Nghệ thuật không phải là phương tiện kiếm cơm. Nỗi xấu hổ của tôi không biết để đâu cho hết. Lần này, tôi lại được chỉ định, một phần t ôi xúc động vì có cơ hội gần gũi với ông, phần vì tôi cũng hứng thú leo lên đỉnh núi Tà Cú.

Núi Tà Cú trong tôi là một câu chuyện cổ tích lấp đầy một quãng thiếu thời. Nơi ấy có con đường lên trời, có hang chui xuống tận âm ti, mà mỗi lần theo mẹ đi chùa, mẹ tôi thường bảo:_Nếu có thời mạt pháp thì nơi ấy sẽ còn lại con ạ! _Mạt pháp là gì hở mẹ? Mẹ tôi thở dài nói nhỏ:_Hiểu vậy thôi, con còn nhỏ lắm. Rồi mẹ tôi chỉ tay lên một mảnh trăng trắng, lu lấp trong khoảng màu xanh lá cây ở tít sườn núi, nói rằng đó là tượng Phật nằm dài bốn mươi chín mét. Tôi hỏi lại:_Tại sao lại bốn mươi chín mét hở mẹ? Những câu hỏi trẻ thơ bất tận như thế dẫn dắt tôi lúp xúp theo chân mẹ từ chùa này sang am nọ, từ sân đình đến Cửa Vạn, Dinh Thầy quanh vùng núi Tà Cú. Hình ảnh sâu đậm núi Tà Cú chiếm ngự trong tâm hồn tôi như biểu tượng của một giai đoạn trong kí ức đặc biệt. Tôi lớn lên trong ngôi trường tiểu học cạnh đồn pháo binh dưới chân núi, mà giờ đây, tiếng đại bác 105 li còn vọng trong những giấc mơ kì dị của tôi. Những chiếc jeep lùn”sát thủ” lao ào ào từ đồn rada trên núi Tà Cú xuống gieo bao nỗi kinh hoàng cho người dân hai bên đường còn in rõ mồn một nơi tôi…Ôi! Một thời thi nhau nhìn Phật, nhìn đường lên trời, một thời sợ mất mật với ma, với quỷ của tôi.

Tôi bần thần ngồi nghĩ về chuyến đi này, tôi chợt rùng mình khi phán đoán tình trạng lạc lõng của mình trước hai ông già “khổng lồ”. Trước khi lên đường, tôi xin ông Minh cho mang theo lồng chim sơn ca, con chim được cưng chìu của ông( ông phải đi tận Cam Ranh lấy cát trắng về cho nó tắm). Ông Minh đồng ý, lòng tôi mừng khấp khởi. Tiết cuối xuân, ngày Bướm Trắng, có người còn gọi ngày Sâu Nở, ( nhưng tôi vẫn thích gọi “ngày Bướm Trắng”), bướm quần tụ dày đặc trên đồi Thạch Anh Tím. Dưới con đường đất đỏ, bướm bay lả tả, vài chiếc xe chở đá ào qua, tung lên những luồng bụi đỏ và xác bướm trắng. Ông Minh và già Wheeler bảo tôi dừng lại, họ lụm cụm đi nhặt xác bướm và nói: “Đừng để chết hai lần!”. Khi lên đồi Wheeler mặt buồn rười rượi nhưng vẫn huơ huơ đều tay vén lũ bướm ra lấy đường đi. Khi đến một khối đá đường kính khoảng hai mét, có ba cạnh phía đông nhẵn thín như gương, nhìn kĩ thấy ẩn hiện những vân tím xoắn xít, chúng tôi ngồi xuống đốt nhang. Ông Minh hướng dẫn William các thủ tục cúng viếng đơn giản. Tôi đứng nhìn xung quanh, nhìn lkhông gian chập chờn lung linh ấy mà lòng đan xen những cảm xúc khó tả. Ông Minh nói:_ Có thể quả đồi này là một khối nam châm khổng lồ nên mới hút được cả chiếc trực thăng xuống. Wheeler gật gật theo rồi nước mắt ràn rụa.

Từ đồi Thạch Anh Tím sang núi Tà Cú không xa, nhưng chúng tôi phải vượt qua cụm rừng đầy dây gai “mắt mèo”, lông “mắt mèo” vàng ánh bay là là khắp không gian rồi găm vào da thịt gây ngứa ngáy khó chịu. Theo kinh nghiệm của ông Minh, chúng tôi phải ráng vượt qua cụm rừng với kiểu đùa dai của thiên nhiên ấy, rồi nhóm lửa, cởi áo, ngồi hơ cho đến khi nóng ran cả người mới thôi. Già Wheeler nói vui:_ Lửa thử vàng đấy! Chúng tôi cùng cười.Tôi cũng không ngờ khi lên tới đỉnh Tà Cú, con chim sơn ca của ông Minh lại chi phối mọi người đến như vậy. Một cánh con sơn ca xoè ra, búp lông muợt mà ấy rung rung bung nở như một đoá hoa. Cánh bên kia duỗi xuống tận chân, rồi từ từ nâng lên, xoè ngang, thăng bằng với cánh bên này, toàn thân sơn ca như bị đẩy lên, bị hút lên bởi chuỗi tiếng hót vút bổng tiếp theo. điệu thăng ca độc đáo và hiếm có của nó làm tôi ngây ngất, tâm hồn tôi lâng. Hai ông già đang ngữa mặt lên trời, mắt lim dim, hồn như đã phiêu diêu tận đâu. Tôi nhìn xung quanh đỉnh núi: chỉ có mây và mây, mây phía dưới cách chúng tôi một cụm cây cối rậm rạp, mây vắt vẻo ngang những phiến đá lớn. Có lẽ chính điều đó góp phần làm cho chúng tôi hướng thượng (hai ông già, con sơn ca và tôi). Tôi rùng mình lâng lâng nhận biết đời sống ở tầng thứ ba của mình sau đời sống thân xác và tinh thần, tôi biết tôi đã tiến hoá so với chính tôi trước đây. Tiếng hót càng lúc càng dồn dập, nhịp điệu theo sự luyến láy thần diệu mà biến mà trôi, âm vực từ trầm chùng như tiếng thì thầm của vách đá bí ẩn, rồi đột ngột vút rít tựa thác bay, mưa tạt đỉnh trời. Hai ông già bật dậy, dựng giá, căng toan, bày các hộp màu ra, họ đang hào hứng vào một cuộc chơi quan trọng. Đột ngột tiếng chim ấy thăng bằng, vẫn vút cao vi vu diệu âm mà đều đặn như là uy ngôn của tự nhiên, của trời, của đất, của xanh, của nâu, của đỏ cháy thiêu thân, của vàng ròng tan biến. Ông Minh từ từ cúi xuống, ánh mắt dịu dàng đến mê hoặc như người mộng du, ông rút hai cái chốt tre cài dưới đáy lồng, ngẩng lên nhìn trời lần nữa rồi đưa tay rút phần nóc lồng lên. Ông ném cái nóc lồng tre ấy ra xa. Đôi cánh chim và tiếng hót theo đó mà xuôi lên cao, vút lên cao, tiếng ríu rít nhỏ dần trên trời xanh. Tôi có cảm giác như thấy mình nhỏ dần giữa biển khơi khi bơi ra thật xa bờ. Có lẽ chính lúc này tôi mới hiểu: âm thanh diễn tả được màu sắc và màu sắc cũng là thân xác biểu cảm của âm thanh và các loại năng lượng vi tế khác. Đôi con ngươi trong mắt già Wheeler loé sáng, mở rộng, tay cầm chiếc bay dích từng khối màu rồi miết lên toan theo nhiều nét kì lạ. Ông Minh lui ra nheo mắt ngắm rồi ào tới bật hộp màu trắng: mây trắng từng đụn, từng sợi hình thành dần. Mây trắng, tôi nghĩ: Đúng rồi, chỉ có mây trắng kéo sợi tuôn túa từ lòng người hoạ sĩ từng trải mới vuợt thoát những ham muốn sở hữu, hơn thua, thù oán, cội nguồn của mọi đau khổ, chỉ có mây trắng từ không gian lòng người mới chứa hết sắc khí vũ trụ bao la luôn tinh sương và mới mẻ. Những khối đá tím của già Wheeler đang cố diễn tả sự uy nghiêm của viễn tượng lớn rộng, như đang cố nói hết cái rốt ráo, khuất ẩn của tư tưởng, của cái sao gọi là suy tư. Ông Minh hổn hển tuôn hế, vét hết những khối trắng, gợn trắng sót lại trong hộp, trong tút. Phía sau chiếc bay và đôi tay nhập thần của ông minh, màu trắng nương theo ánh sáng mà tạo khối mà rẩy cuộn, quặn xoáy cho ắp đầy các điểm mạnh của bố cục rồi trải nhẹ ra, lửng lơ bay đi. Tôi nghĩ chắc ông cố gửi vào đó những ẩn ngữ, tôi không biết hoặc chưa biết có hiệu triệu được năng lượng gì trong không gian không, nhưng cũng mong sao bức tranh có thần lực lạ lùng này là một đề thuyết cho điều gì đó thật con người.

Hai ông già run rẩy ôm nhau vừa ngắm nghía tác phẩm chung của mình vừa cười cười khóc khóc như hai tâm hồn trẻ thơ. Tôi thật ngạc nhiên nhìn họ rồi cũng vui theo tự lúc nào không hay. Tôi hiểu trong thoáng chốc phát tiết ấy họ đã huyền đồng thiên nhiên, chứng tỏ mình cùng một bản thể với thiên nhịên. Phải chăng con người chỉ có được điều này khi đã trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời!? Ngay cả bức phù điêu thoạt đầu là bức hoạ, sau vì độ dày của các khối màu* mà thành phù điêu cũng là một sự vượt thoát ranh giới hình thức, nó đã có như nó phải có, ý thức thật sự trở về như những ngấn tích của nguồn cảm xúc uyên nguyên. Chúng tôi hạ sơn, thong dong đi, con đường dưới chân chúng tôi vừa ;là sự thể cũ vừa là ý tưởng mới. Mọi căn cơ của sắc bướm, tiếng chim, của cỏ cây, mây trắng đều là căn cơ của chính chúng ta mà chúng ta vô tình hờ hững lâu nay. Ông Minh dừng lại ở Đá Bàn Thượng, một vị trí giữa chỗ quanh, thoáng đạt, giao tiếp với một khoảng không gian bao la trước núi, ông nói âm âm từng tiếng: _ Vấn đề là tầm mắt! Tôi chợt nghe câu đó vang hưởng bốn bề.

Mãi ba năm sau, từ ngày già William qua đời, khi được lệnh bảo vệ một phái đoàn kĩ sư ngoại quốc lên núi Tà Cú thăm dò nền móng, thiết kế hệ thống cáp treo, mở rộng kinh tế du lịch cho tỉnh nhà, tôi ngạc nhiên vô cùng khi gặp lại con gái già William. Cô ta cho tôi biết đã đến thăm ông Minh và đã được nhận làm con tinh thần theo nguyện ước của cha cô. Sau một ngày làm việc cực nhọc, cô ta thường đứng lặng ngắm nhìn mây trắng bay lơ lửng dưới chân núi. Chiều nào cũng vậy, khi vừa sập tối, tôi luôn làm tròn nhiệm vụ của mình là nhắc nhở cô vào chùa uống trà, ở đây nguy hiểm, lúc ấy cô thường nán lại chỉ tay ra xa và nói:_ Đó là bức phù điêu Mây Trắng! Buổi chiều cuối cùng hoàn thành công việc, cô nhìn mây cười thật tươi, đôi mắt xanh ấy ngân ngấn lệ và tôi nhìn thấy trong đó một phần ẩn ngữ của bức phù điêu đã được giải mã.


Núi Tà Cú 06- 2004




NGUYỄN HIỆP


© Cấm trích đăng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả .




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC