Nghìn Xưa Vọng Lại



Nhìn lại lịch sử lập quốc Việt Nam, giả định Ông Cha ta thụ động,bạc nhược,đầu hàng giặc,không giữ vững được bờ cõi trước nạn ngoại xâm, thì cháu con ta ngày nay chưa chắc đã có được tấc đất cắm dùi.

Thật vậy tính từ năm 179 trước CN - ròng rã 1000 năm giặc phong kiến phương Bắc nhiều lần tràn sang thôn tính đô hộ nước ta,100 năm sau đó thực dân Pháp thống trị,bóc lột thuộc địa - dân tộcViệt bao phen lầm than điêu đứng nhưng vẫn kiên cường trụ vững như bàn thạch, quy giang sơn Lũng Cú – Rạch Tàu về một mối - Ngàn sau như uống từng lời đanh thép của tiền nhân nghìn xưa vọng lại:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhử đẳng hành khan thủ bại hư.

(Sông núi nước Nam, vua Nam ở,

Rành rành định phận tại sách trời.

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,

Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời ?)

(Lý Thường Kiệt)

Tinh thần đó được hâm nóng,được nuôi dưỡng,được củng cố suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước - có thể nói bất kỳ một công dân Việt Nam nào cũng đều thấm nhuần tư tưởng chiến đấu vệ quốc : “Giặc đến nhà,đàn bà cũng đánh” – Đánh để làm gì ?

- “Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. (Lời dụ tướng sĩ - Quang Trung Nguyễn Huệ).

Khi quân Pháp tấn công Đà Nẵng(1858)- đánh chiếm Nam Kỳ giai đoạn (1859 – 1861), nhân dân ta không ai bảo ai đã thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh:“một đi không trở lại” !

-Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công”

- “Giặc Sài Gòn đánh xuống

Binh ngoài Huế đánh vô

Anh biểu em đừng đợi đừng chờ

Để anh đi lấy đầu giặc tế cờ nghĩa quân” .

Họ chiến đấu vô cùng dũng cảm : “đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không/Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có./Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh;/Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.” (Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc Nguyễn Đình Chiểu)

Sau năm 1975 bình yên tưởng chừng gõ cửa đến từng nhà thì người “anh em” phương Bắc lại muốn dạy chúng ta “một bài học”. Lịch sử còn đó sờ sờ - xin được lược trích nhắc lại :

Năm 1977, Cam-pu-chia (Cambodia), dưới sự cầm quyền của Khơ me đỏ, quân đội chính quy của Cambodia mở cuộc tiến công biên giới và tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, giết người man rợ, gây ra rất nhiều tội ác. Trước đó, từ ngay sau ngày Việt Nam thống nhất (5/1975), Khơ me đỏ đã có nhiều hoạt động xâm nhập quấy rối giết hại dân thường.

Lúc này, giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng xảy ra mâu thuẫn. Trung Quốc trở nên thân Mỹ chống Liên Xô và Việt Nam. Nhà cầm quyền Trung Quốc đã ủng hộ lực lượng Khơ me đỏ ở Cambodia bằng cách gia tăng chuyên gia và viện trợ quân sự sang Cambodia. Khơ me đỏ vì thế càng ngày càng mạnh tay với Việt Nam và với cả nhân dân Cambodia. Hàng trăm nghìn dân thường Việt Nam và hàng triệu người dân Cambodia đã bị Khơ me đỏ giết hại.

Đầu năm 1979, Việt Nam tổng phản công trên toàn tuyến biên giới với Cambodia, đẩy lui Khơ me đỏ về sâu trong lãnh thổ Cambodia. Việt Nam còn liên kết với quân cách mạng của Cambodia, tiến công giải phóng thủ đô Nông Pênh (Phnom penh) cứu nhân dân Cambodia khỏi họa diệt chủng. Trung Quốc và Khơ me đỏ tố cáo Việt Nam xâm lược Cambodia. Đa phần quốc tế (trong đó có ASEAN) không ủng hộ Việt Nam, đòi Việt Nam rút quân về nước.

Trước sự tấn công mạnh mẽ của Việt Nam, Khơ me đỏ phải rút vào rừng rậm biên giới, lãnh thổ Thái Lan, nhờ sự giúp đỡ của Thái Lan và Trung Quốc mà cầm cự theo kiểu đánh du kích để không bị tiêu diệt.

Rạng sáng 17/02/1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam với tuyên bố đầy tính giang hồ kẻ cả của Đặng Tiểu Bình là để "dạy cho Việt Nam một bài học" và tuyên truyền với nhân dân Trung Quốc là để "phản công quân Việt Nam xâm lược". Nhưng mục đích chính là nhằm suy yếu Việt Nam, phân tán quân chủ lực của Việt Nam, giải vây cho Khơ me đỏ đang bị vây khốn tại Cambodia. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đóng quân và hy sinh xương máu của mình ở Cambodia để bảo vệ nhân dân Cambodia, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ của Cambodia cho đến tận năm 1989, khi nhân dân Cambodia đã đủ mạnh để tự bảo vệ và giữ gìn thành quả cách mạng của mình, Việt Nam mới rút quân về nước.

Quân Trung Quốc dùng chiến thuật biển người càn quét sâu vào lãnh thổ Việt Nam, đi tới đâu là giết sạch phá sạch tới đó. Quân đội Việt Nam với khoảng 5 sư đoàn và dân quân địa phương, bộ đội biên phòng mặc dù đã ngoan cường, anh dũng chiến đấu nhưng dần dần phải rút lui do quân Trung Quốc quá đông, một người lính Việt Nam phải chống lại từ 5 -7 tên Trung Quốc xâm lược. Tuy nhiên, đi nhiều thì chết nhiều, quân Trung Quốc chịu tổn thất quá lớn nên chỉ hai tuần giao tranh, khi gặp Quân đoàn 2 chủ lực của Việt Nam chặn đường thì buộc phải rút chạy về nước và tuyên bố chiến thắng (!). Kể từ đó Trung Quốc không dám tấn công bằng bộ binh sang lãnh thổ Việt Nam mà chủ yếu dùng pháo từ bên kia biên giới bắn sang quấy phá, làm tiêu hao sinh lực của Việt Nam. Hai bên cứ đấu pháo qua lại mãi tới cuối thập niên 1980.

Ngày 14 tháng 3 năm 1988, 9 tàu chiến hải quân Trung Quốc có trang bị pháo hạm và lính thủy đánh bộ bất ngờ tấn công 3 tàu vận tải chở công binh Việt Nam đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền tại quần đảo Trường Sa, khu vực đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma. Công binh Việt Nam đang tay không khuân gạch đá xây nhà thì bị tàu và lính Trung Quốc với hỏa lực mạnh tấn công. Trung Quốc dễ dàng bắn chìm 3 tàu vận tải và giết chết 64 chiến sĩ Việt Nam. Các chiến sỹ Việt Nam anh dũng, mưu trí chiến đấu giữ được Đảo Cô Lin và Len Đao. Đảo Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm đóng từ ngày đó. Cho đến nay, Trung Quốc đã chiếm đoạt của Việt Nam bảy đảo tại quần đảo Trường Sa và toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (Hoàng Sa bị chiếm trọn từ 1974 với sự bật đèn xanh của Mỹ), bất chấp các công ước quốc tế, bỏ ngoài tai những lời phản đối của Việt Nam và cộng đồng quốc tế” .(Nguồn lichsuvietnam.info)

Giờ đây Trung quốc muốn độc chiếm Biển Đông -chúng ngang ngược thô bạo tấn công các tàu cá,xua đuổi ngư dân ta.Nhìn hình ảnh tàu cá mang số hiệu QNg 96382 do thuyền trưởng Phạm Quang Thanh lái đánh bắt trên vùng biển truyền thống Hoàng Sa (tính từ 110 kinh độ đông trở ra)- bị tàu Trung Quốc truy đuổi,nổ súng bắn cháy nóc ca bin,ngày 20/3/2013,mọi người rất bức xúc– gợi ta liên tưởng đến sự phẫn nộ của Trần Quốc Tuấn trong bài Hịch Tướng Sĩ :

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm” .

Ngư dân ta đoàn kết ngoan cường bám biển -Vào rạng sáng 28/5 tàu cá QB 93768 TS bị phía Trung Quốc khống chế khi đang đánh bắt cá trên vùng biển Việt Nam (tọa độ 16,57 độ vĩ Bắc, 109,46 độ kinh Đông, cách Đà Nẵng khoảng 120 hải lý),thuyền trưởng Lê Văn Chiến vẫn quyết định không về mà quay lại ngư trường để đánh bắt,qua sóng vô tuyến anh nói với mẹ : -“ biển của mình mình đánh bắt chứ sợ gì. Mạ yên tâm đi, sau vụ vừa rồi kinh nghiệm lắm rồi, tàu Trung Quốc khó mà bắt được con ” .

Từ 14 tàu cá công suất lớn trên 350CV vốn trước đây hoạt động riêng lẻ, nay số tàu trên của “đại gia đình” ông Bùi Thanh Ninh (55 tuổi, ở Hoài Nhơn, Bình Định) đã đổi hướng, hợp nhất thành một “tập đoàn”. ông Ninh cho biết :

Gần đây, tàu cá Trung Quốc liên tục cản trở, gây khó cho việc khai thác, nên tôi quyết định chuyển hướng. Đoàn tàu của gia đình tôi không còn đi theo từng tốp nhỏ như trước, mà hợp nhất lại thành tập đoàn để cùng lúc ra khơi, vừa bảo vệ nhau khai thác,và góp phần đẩy đuổi tàu cá Trung Quốc”.

Lão ngư Nguyễn Văn Ái (64 tuổi, ở thôn Xuân Bình, xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, Bình Định) với thâm niên gần 50 năm bám biển, luôn tâm niệm “trên bờ đoàn kết 1 thì ra khơi phải đoàn kết 10 mới thành công”. Ông đúc kết ngắn gọn : “Mình hiên ngang, họ sẽ phải sợ mà rút lui”,

Ngư dân Lý Văn Tài (32 tuổi) trên tàu BĐ 96948 vừa cập bến Tam Quan, kể: “Chúng tôi bị một số tàu cá Trung Quốc liên tục chặn, xua đuổi trong quá trình đánh bắt. Anh em chúng tôi lập tức liên lạc qua bộ đàm và hợp nhất thành tổ đội ngay tại vùng biển Trường Sa. Khi thấy chúng tôi tập hợp lại thành đoàn, tàu cá Trung Quốc đã phải rút lui”.

Ngư dân Nguyễn Thanh Hưng (Tư Nghĩa, Quảng Ngãi), chia sẻ: “Vùng biển Hoàng Sa chúng tôi thường khai thác và liên tục đụng độ với tàu cá Trung Quốc. Hình như họ cho tàu cá xuống biển không phải để đánh bắt mà là cố tình quấy nhiễu tàu cá Việt Nam. Cùng là ngư dân bám biển, chúng tôi thấy kiểu ấy là quá hèn nhát”.

Trong bài “Chạy giặc”,trước cảnh “bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/mất ổ bầy chim dáo dát bay/Bến Nghé của tiền tan bọt nước/Đồng nai tranh ngói nhuốm màu mây”, cụ Nguyễn đã kêu lên:“Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng-nỡ để dân đen mắc nạn này ?”.Tình cảnh bà con ngư dân bị truy đuổi tan tác “trang dẹp loạn” đâu rồi ?

Biển Đông dậy sóng là vấn đề phức tạp – cắt cái “lưỡi bò” không đơn giản,gần đây tại diễn đàn an ninh khu vực tại Singapore, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh :“Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ Biển Hoa Đông đến Biển Đông đang diễn biến rất phức tạp, đe dọa hòa bình và an ninh khu vực - Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền".

Người đứng đầu Nhà nước trong một chuyến đi thăm ngư dân tại đảo L‎ý Sơn tỉnh Quảng Ngãi( 14/04/2013), Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng đã khẳng định lập trường :"Bằng mọi cách phải bảo vệ hoạt động bình thường của ngư dân. Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của đất nước”.

Các nước có quyền lợi trên Biển Đông buộc Trung quốc phải thực hiện công ước quốc tế về Luật biển (UNCLOS 1982).Câu chuyện đánh nhau chẳng vui sướng gì,nhưng có một nghịch lý “muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” - ta phải có tàu ngầm Kilo,phải có máy bay tiêm kích Su 30,phải có tên lửa phòng không tầm xa S-400 – Và điều cực kỳ quan trọng là thế trận nhân dân trên dưới,trong ngoài phải một lòng đoàn kết.

Lời cụ Hồ nói tại khu di tích đền Hùng vùng núi Nghĩa Lĩnh (19/9/1954) vẫn luôn thôi thúc chúng ta :“Các vua Hùng đã có công dựng nước thì Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Từ năm 1858 đến nửa sau thế kỷ XX, dân tộc ta không phút nào ngơi tay chiến đấu,vận nước lầm than-điêu linh-thống khổ - hơn ai hết chúng ta tha thiết yêu hòa bình – chúng ta rất sợ chiến tranh – rất ngán chiến tranh – nhưng nếu cần phải đổ máu một lần nữa vì Hoàng Sa-Trường Sa, tôi nghĩ toàn dân ta vẫn sẵn sàng !

______________________________________

(Saigon,19/6/2013)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 22.06.2013 theo nguyên bản của tác giả gởi từ SàiGòn.
Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com Khi Trích Đăng Lại .