Thành Nhà Hồ











Thành nhà Hồ một kiến trúc đá đồ sộ. Một kỳ công được xây dựng từ mồ hôi, nước mắt và xương máu người dân, cách đây hơn sáu trăm năm. Thành nhà Hồ nằm trên hai xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, là di sản văn hóa thế giới.

Du khách thăm Thành nhà Hồ, ngỡ ngàng trước những vòm thành đá sừng sững giữa một vùng đồng đất núi non hiểm trở, sông Mã, sông Bưởi bao quanh.

Những câu hỏi vang lên:

Hồ Quý Ly là ai? Thành nhà Hồ đã được xây dựng như thế nào? Tại sao Hồ Quý Ly lại phải xây thành nơi thế đất hiểm sâu thế này?

Những câu hỏi khơi dậy cả một thời kỳ lịch sử cam go, hại dân, mất nước của dân tộc, hao tổn xương máu dân, gắn với ý chí, tham vọng của Hồ Quý Ly.

Hồ Quý Ly là ai?

Tổng hợp các tư liệu ghi chép từ Đại Việt sử ký toàn thư và tài liệu Thư viện nghiên cứu Hán Nôm cho biết Hồ Quý Ly sinh năm 1335. Họ Hồ có gốc gác xa xôi tại phía Nam sông Dương Tử (sông Trường Giang). Hồ Quý Ly lấy người vợ thứ hai là con gái vua Trần Minh Tông. Năm 1387 Hồ Quý Ly làm tể tướng nhà Trần. Vận nước cuối Trần quá suy yếu. Mâu thuẫn nội bộ rối ren. Giặc Minh lăm le xâm chiếm. Phía Nam Chiêm Thành xâm lược bờ cõi Đại Việt, bốn lần đem quân ra kinh đô Thăng Long, làm cho các vua Trần phải bỏ kinh đô lánh nạn.

Năm 1400. Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, tự xưng vua. Triều Hồ chỉ tồn tại bảy năm (1400- 1407). Để tranh đoạt quyền lực, Hồ Quý Ly ngầm giết rất nhiều đại thần. Ba mươi năm vật vã trên đấu trường chính trị, Hồ Quý Ly làm vua chỉ có tám tháng rôi trao quyền cho con là Hồ Nguyên Trừng. Sau đó cha con ông bị nhà Minh đánh bại, bắt về Trung Quốc. Giặc chiếm đoạt, xéo đạp dân Đại Việt.

Hậu thế nhìn Hồ Quý Ly là một nhà cải cách, mong muốn cứu vãn tình thế đất nước lâm nguy. Nhưng lực bất tòng tâm, dẫn đến mất nước vào tay nhà Minh.

Những câu chuyện xây thành đắp lũy

Thành nhà Hồ hiện nay còn đẫm máu dân, xương chất kè dưới đá. Biết bao nhiêu chân linh đau đớn, tơi bời quấn quyện nơi đây, biến hóa biết bao câu chuyện truyền miệng về Hồ Quý Ly gạt núi, xé đá núi xây thành đắp lũy.

Tác giả Phạm Văn Chấy (Văn Thành Chương) người xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc, nguyên Phó chủ tịch UBND huyện Vĩnh Lộc với sách Thành nhà Hồ và những câu chuyện xây thành đắp lũy (NXB Thanh Hóa- 2013) đã kể với du khách về máu dân xây Thành nhà Hồ. Bài viết này, cơ bản chúng tôi dùng tư liệu của sách trên.

Người dân vùng Tây Đô hôm nay luôn truyền miệng, luận bàn về nhà Hồ xây thành đắp lũy đá khổng lồ, phu phen tạp dịch nặng nề, làm dân ai oán, là một trong những nguyên nhân để sơn hà xã tắc rơi vào giặc Minh.

Cảnh trí quanh thành còn những phiến đá khùng vài ba chục tấn, đè nặng xuống những thân phận gầy còm, đói rách, lầm than. Thành đá bao quanh một vùng rộng 10 ngàn ha đất ruộng phì nhiêu, mãu mỡ, trồng cấy cung cấp đủ lương thảo cho hàng chục ngàn quân, nếu thành bị giặc vây hãm lâu ngày.

Vùng đất Tây Đô có nhiều rặng núi đá vôi bao bọc. Rừng rậm rạp chạy đến biên giới Việt- Lào. Có năm ngọn núi đá vôi phía Tây Nam nhỏ thấp, mỏng hơn, được thiên tạo các lớp đá đoạn tầng, xếp chồng lên nhau, nhiều hang động.

Nhà Hồ đã chọn cách gỡ núi xây thành. Đã dỡ hết ba ngọn núi Kim Ngọ xây thành, nay chỉ còn hai ngọn Kim Ngưu cách thành 1km, có nhiều hang động. Khi bị giặc Minh đe dọa thành, Hồ Quý Ly đã cho các nàng hầu về Động Ngọc Thanh và Hàng Nàng sơ tán.

Điều kỳ lạ là núi đá huyện Vĩnh Lộc xếp chồng nhau như những gói bánh bích quy, dễ khai thác. Nhưng cách một dòng sông, con suối sang bên kia Yên Định, Thạch Thành, Cẩm Thủy thì các núi đá vôi nằm nghiêng nghiêng, các lớp đá keo kết, khó khai thác bằng tay. Hồ Quý Ly tinh mắt nhìn ra lớp đá xếp chồng, chọn Vĩnh Lộc xây dựng tòa thành bằng đá.

Để chọn đất xây thành, nhà Hồ phải tìm long mạch. Hồ Quý Ly nói với các con: “Đất này là đất Thạch bàn long- xà- lục- thập niên ký (đất rồng chầu, rắn cuốn, vững như bàn thạch trụ được 60 năm”. Hồ Hán Thương là con thứ hai nói: “Thưa cha, con xem kỹ đất rồng chầu rắn cuốn, nhưng đất còn non nên mới là long- xà- ẩm thủy, lục niên kỷ chủ- ở được trên dưới 6 năm thôi”.

Quả nhiên, sau khi cướp ngôi, tự xưng Hoàng đế tháng 3- 1400, Hồ Quý Ly đã phải nhường ngôi cho Hồ Hán Thương tháng 11- 1400. Năm 1406 Hồ Hán Thương thất thủ trước xâm lược Đại Minh. Năm 1407, hai cha con bị bắt tại bãi biển Thiên Cầm xã Kỳ La- huyện Kỳ Anh- Hà Tĩnh. Cha con Hồ Quý Ly bị đưa về Trung Quốc, sống hèn, chết nhục ở đó.

Truyền thuyết xây thành nhà Hồ

Thời gian xây dựng thành cụ thể chưa rõ. Có người bảo ba tháng là xong. Người bảo ba năm, sáu năm.

Sử sách ghi năm 1937 vua Trần Thuận Tông giao cho Hồ Quý Ly vào động An Tôn (Thanh Hóa) làm năm việc lớn: Xây thành đắp lũy, xây dựng cung điện, lập nhà miếu, nền xã, mở đường phố.

Hồ Quý Ly mưu cướp ngôi nên hối hả xây thành, để tháng 3- 1400 lên ngôi tại An Tôn- Thành nhà Hồ. Các quan can gián ở lại Thăng Long, đất Long Đỗ, có núi cao, sông sâu, núi Tản, sông Lô, sông Nhị. Họ nói “Cốt ở Đức, không cốt ở hiểm”. Hồ Quý Ly nói: “Ý ta đã định trước rồi”. Viên quan trọng chữ Đức đó bị sa thải, không được Hồ Quý Ly dùng.

Trong vòng vài năm, thành đá đã xây dựng xong. Riêng bốn vòm cổng thành, cứ lắp gần xong lại sập. Mỗi ngày có dăm bảy người chết kẹt trong những khối đá. Người ta nhặt được cả rổ ngón tay, ngón chân bị chẹt.

Nhà vua vô cùng lo lắng, phải treo thưởng hậu cho người hiến kế. Có người hiến kế phải đắp đất cát bên trong làm cốt để xếp đá lên dựng thành vòm cuốn, đắp đá rồi moi đất cát ra.

Để lắp ghép được các vòm cuốn, các nghệ nhân phải thiết kế và chế tác ra các loại đá hình múi cam, hình thang cân, hình thang vuông, hình tứ giác. Dùng giấy hoặc cót cắt thành mẫu các loại phiến đá trên, lắp ghép thành vòm khớp nhau, rồi chế tác đá theo hình mẫu giấy.

Toàn bộ cổng thành là hình thang cân theo kiểu “thượng thu hạ thách” cực kỳ vững chãi. Năm 1966, giặc Mỹ ném bom bên cạnh, cửa thành vẫn không rung chuyển.

Ba năm dân phu phen sống/ chết xây thành tạm xong. Hồ Quý Ly cướ ngôi nhà Trần, tự xưng vua tại đó, vừa ở vừa xây dựng tiếp trong vòng 6 năm nữa. Năm 1407, nhà Hồ thất bại, thành vẫn chưa hoàn thiện. Cổng phía Tây và phía Đông còn đang bỏ dở.

Ký ức xây thành nay còn tuôn ào ạt máu. Để có vật liệu xây đền đài, cung điện, nhà cửa, thành đá, đường, hào… Quanh vùng mọc hàng trăm nghìn lò nung vôi, gạch, vận chuyển đất đá, voi dày, ngựa xéo, trâu, bò kéo, mồ hôi, người và vạn vật, trộn máu thê lương, khói lửa tung mịt mù.

Hằng ngày, hằng tháng, hằng năm, dân phu, binh lính lê thê vào các dãy núi Tượng Sơn, Hang Ma, Đồi Cốc, Dọc Khoai chặt gỗ, đốn củi, về đốt lò nung vôi. Người già, phụ nữ, trẻ em đều phải tham gia phu phen nặng nề, thê thảm. Các thợ kỹ thuật, nghệ nhân, chế tác làm việc ngày đêm, đói ăn, ốm đau, bệnh dịch chết dần, chết mòn.

Đến nay đã xác định được 290 địa danh khắc trên các viên gạch vồ xây thành nhà Hồ: Vĩnh Lộc, Thạch Hà, Hà Trung, Nông Cống, Triệu Sơn, Đông Sơn, Yên Định… đã ghi dấu máu người dân hiến thân san núi, gỡ núi đá, đục đá, nung vôi, vận chuyển những khối đá khổng lồ về xây thành nhà Hồ.

Tham vọng cướp ngôi đã dẫn đến ý tưởng khùng táo tợn của Hồ Quý Ly, dỡ núi xây thành nhà Hồ bằng đá kiên cố để chống lại thù trong, giặc ngoài. Ông ta khùng bao nhiêu thì dân quằn quại chết bấy nhiêu. Thành xây xương máu dân chỉ dùng được chưa đầy sáu năm. Cuối cùng cha con ông cũng lại chịu cảnh gông cùm nhà Minh.

Tham vọng khùng tới mức Hồ Quý Ly biết khó khăn khủng khiếp khó vượt qua mà vẫn nướng dân đen xây thành nhà Hồ.

Khó khăn lớn nhất là họa xâm lăng nhà Minh đã đến gần kề. Chúng ngầm kích động, xúi giục chư hầu Chiêm Thành, liên tục quấy phá Thăng Long. Lúc đó nước Đại Ngu do Hồ Quý Ly đặt tên, chỉ có bốn triệu dân, việc huy động nhân lực rất khó, nhất là thợ thủ công có nghề.

Vùng đất xây thành nước đọng quanh năm. Việc vận chuyển đá lắp đặt thành chưa có kinh nghiệm. Nạn đói và bệnh dịch lan tràn.

Những khó khăn trên đã cướp đi nhiều sinh mạng của thợ thuyền, dân phu, mỗi ngày có hàng trăm, hàng nghìn, ngón tay, ngón chân bị chẹt đứt. Năm 1997 tỉnh Thanh Hóa tu bổ một đoạn thành phía Tây Bắc gần cửa Phù Ái thấy hiện ra một bộ xương người còn nguyên vẹn bị đá đè chết dưới lòng hào. Còn biết bao nhiêu người bị chẹt trong lòng đá, lòng hào chưa hiển lộ?

Chúng ta chỉ còn cách niệm Phật cầu siêu cho các cô hồn bị chết oan bởi họa xây thành.

“Nam mô A Di Đà Phật”

Linh tích quanh Thành nhà Hồ

Đền thờ Bình Khương Nương và sự tích cống Hang Trăn

Dân gian vùng Tây Đô râm ran xa xót kể chuyện Nàng Bình Khương. Họ thường rủ nhau lên đền thờ Bình Khương Nương tọa lạc ngay kề đoạn thành có tên là cống Hang Trăn để cúng lễ, nguyện cầu.

Cống Hang Trăn chính là đoạn thành bị sụt, lún sâu gần cổng thành phía Đông cạnh làng Đông Môn thuộc xã Vĩnh Long. Đoạn thành đá này để lại cho đời sự tích bi ai, oan nghiệt về nàng Bình Khương và người chồng yêu dấu của bà.

Ông là Trần Công Sỹ, được Hồ Quý Ly giao cho trọng trách đốc xuất xây mặt thành này.

Sự việc oan khuất động trời xảy ra vào lúc công việc xây thành hết sức khẩn trương, trước họa xâm lăng của giặc Minh. Đoạn thành cứ xây xong thì lại bị sụt đổ, móng đá cứ bị lún dần, lún sâu vào trong lòng đất, hiện nay vẫn còn một đoạn thành kép bị lún gần hết làm cho đoạn thành này bị trống. Những ngày mưa to, nước lớn, ở bên Hồ Dục Tượng chảy qua nơi này ra ngoài hào lũy xuống hòn Cầu Mư như một cái cống khổng lồ.

Khoa Địa chất học ngày nay giải thích chuyện đoạn thành bị sụt đổ một cách dễ dàng. Đó là ở dưới lòng đất có nguồn nước ngầm rất lớn.

Nhưng Hồ Quý Ly khi ấy nghĩ rằng Trần Công Sỹ mưu phản, xây dối trá để sụt lở, trì hoãn công việc xây thành. Hồ Quý Ly trừng phạt hình luật giết Trần Công Sỹ.

Nỗi oan khiên này chỉ có vợ chàng Trần Công Sỹ thấu hiểu. Nàng tất tưởi ngày đêm chạy đến Ngự Sử Đài than khóc kêu oan cho chồng. Nhưng Hồ Quý Ly vô cảm, lạnh lùng ra lệnh giết chàng.

Nàng Bình Khương uất hận đập đầu vào phiến đá ở Ngự Sử Đài chết theo chồng.

Dân lập đền thờ nàng Bình Khương cạnh ngôi mộ của chồng nàng.

Bia Mộ Trần Công Sỹ ghi “Trần Cống Sinh chi mộ”.

Đền Bình Khương được tôn tạo cuối năm 1994. Trong đền, phía trước bài vị của nàng còn một phiến đá nguyên khối dài 2m, rộng 0,4m in dấu tích dầu và hai tay nàng hằn sâu xuống đá. Một câu phú được dân quanh vùng truyền tụng: “Bình Khương vỗ đá kêu oan/ Dấu đầu tay để muôn vàn Thu dư”.

Chúng tôi dến thăm Thành nhà Hồ, được nghe mấy cô hàng nước dưới gốc cây cổ thụ trong thành kể chuyện nàng Bình Khương, kêu oan cho chồng. Lời kể vọng tiếng ức oan in hình trong đá, làm trái tim người nghe đau thắt.

Nhìn bức ảnh chụp phiến đá in dấu đầu và tay Bình Khương Nương đập đầu kêu oan cho chồng, dấu đầu nàng lõm sâu đen ánh, khí thiêng bừng bừng không bao giờ nguôi cạn, tôi thầm khấn nguyện Ngài Bình Khương linh thiêng hóa Thần, dâng linh khí cứu đời còn vô vàn nỗi oan khiên.

Đền Bình Khương linh thiêng mãi mãi khơi nguồn khí thiêng của người vợ hiền bất tử. Dân vùng Tây Đô thường đến Đền Bình Khương khói hương linh nghiệm.

“Nam mô A Di Đà Phật”

Đền Trần Khát Chân và Đền Tam Tổng

Trần Khát Chân quê gốc ở Cổ Mai- Thanh Trì- Hà Nội gia đình vào Hà Lương- Vĩnh Thành- Vĩnh Lộc- Thanh Hóa sinh sống khi tám tuổi, là hậu duệ Tiền Lê, được mang quốc tính nhà Trần.

Trần Khát Chân là danh tướng lỗi lạc cuối thời Trần khi ngoài hai mươi tuổi. Ngài được vua Trần giao thống lĩnh đội quân Long Tiệp phá tan giặc Chiêm, giết Chế Bồng Nga trên sông Hải Triều năm 1390, chấm dứt các cuộc quấy phá, xâm phạm bờ cõi Đại Việt của giặc Chiêm Thành gần trăm năm. Trần Khát Chân bị Hồ Quý Ly giết năm 1399 tại Hội thề Đốn Sơn.

Đại Việt sử ký toàn thư chép Hồ Quý Ly dự Hội thề Đốn Sơn. Sự việc mưu giết Hồ Quý Ly bị phát giác, tướng quân Trần Khát Chân và trên 370 người bị Hồ Quý Ly giết. Ngôi mộ tập thể được chôn bên sườn núi Đún, đến nay vẫn còn cao hơn mặt đất, hình bầu dục. Dân gọi là ngôi mộ Bánh Dày.

Cuộc tàn sát kinh hoàng. Chỉ có người con gái của Trần Khát Chân là Trần Thu Hương trốn thoát. Nhưng khi biết tin cha mình bị bắt, bà trở về Đốn Sơn dò la sự thật, thấy cha bị giết. Bà tự treo cổ mình lên cành cây tuẫn tiết. Hiện nay, trước cửa Đền Đún, dưới một gốc cây cổ thụ nơi bà tự tử còn ngôi miếu nhỏ thờ bà.

“Nam mô A Di Đà Phật”

Trần Khát Chân, sau khi bị giết có thể phần đầu bêu ngay ở Đốn Sơn, phần thân đem lên gần cửa phía Nam bêu để răn tướng sĩ. Phần đầu ngài chôn ở Đốn Sơn, phần thân chôn ở Đền thờ Tam Tống. Bởi vậy, có hai ngôi đền thờ Trần Khát Chân ở khu vực Thành nhà Hồ. Dân gọi Đền thờ Ngài là Đền Thánh Lưỡng.

Hai ngôi đền được dân dựng cùng thời, cùng nằm bên cạnh đại lộ Hoa Nhai (Hòe Nhai) cửa Thành nhà Hồ đến giữa Đốn Sơn, cung thờ Thượng tướng đứng đầu lưỡng vệ Thủy- Bộ đại binh Trần Khát Chân.

Sự nghiệp bi hùng của vị tướng trẻ Trần Khát Chân đứng đầu quan võ trong triều khi mới 29 tuổi. Ngài đã để lại đời sau bao nhiêu huyền thoại linh thiêng. Ngài bị Hồ Quý Ly chém đầu, tự lắp đầu vào, lên ngựa chạy từ Đốn Sơn đến đền Tam Tổng. Đầu và thân ngài bị bêu dưới nắng ba ngày ở núi Đốn Sơn và đền Tam Tổng không có ruồi bâu.

“Nam mô A Di Đà Phật”

Ngày nay tại Đền thờ Ngài ở núi Đốn Sơn có một cây vải bị cụt ngọn, có hai cái cành như hai cánh tay chỉ thẳng lên trời, thân cây bị rỗng vì đã quá già. Vào năm 1995- 1999 sau khi hai ngôi đền thờ Ngài được cấp bằng di tích Lịch sử Quốc gia, nhân dân thập phương công đức trùng tu đền, sơn son thếp vàng lại ba bộ kiệu Thần vị của Ngài thì cây vải này đơm hoa kết trái mỗi vụ ba lần. Sau đó Cụ vải chết. Người coi đền mời cán bộ đến chứng kiến. Không ai dám đụng đến Cụ vải.

Đền Đốn Sơn dân gọi là Đún Sơn, tọa lạc ngay bên sườn núi , rừng cây đã được phục hồi xanh tốt. Sau Đền có một cây trôi cổ thụ khoảng sáu trăm tuổi, có thể được trồng lúc dựng Đền. Đường kính thân cây rộng trên 1m, cao 20m, cành lá xum xuê như một cái lọng thiên nhiên che nắng cho Đền. Quanh Đền có nhiều cây lát, chòi mòi, sộp, sến… sáng chiều xoay ngả theo Mặt Trời tạo bóng mát lành một vùng sinh thái khí thiêng. Bên cạnh Đền Đún có ngôi chùa Tường Vân nổi tiếng Phật linh.

Lễ hội Đền Trần Khát Chân vào ngày 24- 4 Âm lịch hằng năm. Dân thập phương về rất đông. Nam thanh nữ tú mặc y phục lễ, khiêng các bộ kiệu, bát cống trên có thần vị của ngài đi trước, trai tráng vác bộ bát bửu theo sau, thiếu nữ đội các mâm lễ cùng với hội đoàn rước từ Đền Đún đến Đền Tam rồi quay về quê Ngài ở làng Hà Lương. Người dân Hà Lương kiêng húy từ “chân tay” nói thành “chơn tay”.

Trong Đền Đốn Sơn hiện nay còn những bộ câu đối đẹp, bức hoành phi lớn ghi bốn chữ “Thiên cổ như sơn”. Trong đền có tượng người Chăm tấu lạy hai bên. Có thể do ngài tha tội chết cho họ khi họ bị bắt trong cuộc xâm lăng Đại Việt. Hậu cung Đền Đún xây theo kiểu “Thượng sàng, hạ mộ”. Thần vị trong đền đều sơn đen. Tục truyền xưa, những người bị chết chém từ dân đến quan và vua thì bài vị, thần vị để thờ đều được sơn đen.

Trước những năm 1960, Đền Tam cũng như Đền Đún đều là di tích có kiến trúc gỗ, thời Hậu Lê. Quanh Đền linh thiêng, khí lành, những cậy cọ, cây thông, cây trôi xòa bóng mát. Hồn thần linh che chở dân, nước, núi, biển ,ruộng, đồng.

Khi ảnh hưởng Cách mạng văn hóa Trung Quốc, tiền sảnh, trung đường đền thiêng bị phá dỡ tung tóe. Năm 1983, hậu cung Đền Tam bị phá nốt. May thay, hôm đó ông Võ Văn Kiệt- Bí thư Thành ủy trong Nam ra thăm Tây Đô, đã yêu cầu dừng cuộc phá dỡ lại, bảo vệ Đền Tam, khi có điều kiện sẽ trùng tu, tôn tạo.

Đàn Tế Nam Giao

Tháng 8- 1402. Hồ Hán Thương cho lập Đàn tế Nam Giao tại núi Đún (Đốn Sơn) thị xã Vĩnh Thành, diện tích 43 ngàn mét vuông. Đàn đã được Viện Khảo cổ kết hợp với Bảo tàng Tổng hợp Thanh Hóa khai quật nhiều lần. Năm 2008 toàn bộ mặt bằng và kiến trúc trong khuôn viên đã được phát lộ. Địa Tháp Đàn Nam Giao có năm tầng và một số công trình khác phục vụ tế lễ Trời Đất Thần linh: Giếng Vua, Thần Trù, Thần Khố, Trai Phòng, Đường Thần Đạo…

Đây là Đàn Nam Giao cổ nhất Việt Nam. Đàn tế Trời Đất Thần linh có quy mô hoành tráng, miếu đàn lộng lẫy. Các mặt viên đàn đều có cửa chính, cửa phụ lên xuống và ra vào rộng rãi. Tầng trên đỉnh tháp hình tròn, viên đàn phía dưới hình vuông tương trưng Trời tròn, Đất vuông. Giếng Vua cũng lát đá hình vuông, lòng giếng hình tròn.

Về hình thức kiến trúc, Đàn Nam Giao nhà Hồ vừa có những nét tương đồng Đàn Nam Giao Huế, vừa có những nét khác biệt, kể cả Đàn Tế Trời Đất của các triều đại Trung Hoa.

Về công năng Hồ Hán Thương lập Đàn Nam Giao, để tế lễ Càn Khôn xưng đế, tỏ rõ ý thức tự cường dân tộc, không chịu chư hầu nước lớn. Cầu Quốc thái Dân an. Cầu mưa thuận nắng hòa, mùa màng bội thu. Cầu dân chúng không bị bệnh dịch ốm đau. Đại xá thiên hạ, thu phục muôn dân một lòng vì nước.

Đàn tế Nam Giao nhà Hồ là một di sản văn hóa vệ tinh đặc biệt quan trọng nằm trong tổng quan di sản văn hóa Thành nhà Hồ. Đầu năm 2012 trong khi tôn tạo Đàn Nam Giao đã phát hiện một bộ xương trâu gần như nguyên vẹn phía trong viên đàn. Giám định cho biết bộ xương trâu này có cùng niên đại với thời xây thành. Có thể đây là trâu trắng. Xưa kia Tổ tiên ta trong các cuộc tế lễ Trời Đất Thần linh thường dùng trâu, lợn và dê trắng làm vật hiến sinh, hiến tế. Sauk hi tế lễ đem chôn, không ăn thịt vì sợ mất linh thiêng.

Giếng Vua sau khi phát lộ đã được giữ nguyên trạng. Qua mấy mùa khô mà nước vần nhiều. Nước trong xanh như màu ngọc bích. Tết Nguyên Đán, người dân Tây Đô vào xin nước giếng cầu may. Có người nấu thử pha chè, nước trà xanh hương thơm phức, dư vị đậm đà thân thương sâu lắng.

Những ngôi chùa cổ xung quanh Thành nhà Hồ

Xung quanh Thành nhà Hồ mọc lên một đô thị mới, nhân dân xây dựng nhiều ngôi chùa lớn đáp ứng nhu cầu tâm linh của mình và các gia đình quan lại trong thành từ Thăng Long vào ảnh hưởng sâu đậm Phật giáo Lý- Trần.

May thay, hiện nay vẫn còn những ngôi chùa cổ ngự quanh Thành nhà Hồ thơm hương khói ru hồn cỏ may, và tiếng mõ, tiếng chuông ngân nga, tiếng tụng niệm cầu siêu thoát cho vạn hồn oan khuất bởi đắp lũy, xây thành.

Chùa Tường Vân gần Đàn tế Nam Giao, nằm ngang sườn núi Đún, kề mũi tên đặt giữa “Nỏ Thần” bên Đền Thánh Lưỡng.

Chùa Tường Vân cảnh Thiền thanh vắng. Ánh trăng vàng thơm mùi vỏ thông già, thoang thoảng hương hoa móng rồng, ngọc lan, hương sen, hương hoa súng, quyến rũ một vùng đất, vùng trời. Hương thơm gió thông ngàn nâng bước chân du khách thanh tịnh chầm chậm lên đến Tháp Cửu Trùng, vào cửa Phật uy nghi, trầm mặc.

Cách Vân Tự không xa về hướng Tây Nam có chùa Du Anh nằm giữa muôn trùng lớp đá của dãy Xuân Đài, Trác Phong hùng tráng. Những làn mây giăng giăng từ dưới mái chùa đưa ta lên Động Hồ Công nghe kể chuyện chàng tiều phu đi kiếm củi gặp Tiên ông, quên ngày, quên tháng, quên lối về.

May thay, xung quanh Thành nhà Hồ còn lại những ngôi chùa gội bụi trần bi ai vùng Tây Đô, linh khí đọng đầy, giúp người trần thế hôm nay phút giây an lạc.

Nguyên nhân mất nước thời Hồ Quý Ly

Giáo sư sử học Văn Tạo trong sách “Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam” đánh giá Hồ Quý Ly tuy có đầu óc đổi mới, nhưng không có đủ đức tài để xoay lại thời thế.

Văn Tạo phân tích nguyên nhân mất nước là do thế nước bên trong suy, giặc ngoài mạnh.

Từ đầu thế kỷ XV, nhà Minh đã cực thịnh. Đại Việt là cửa ngõ phương Nam, nhất định họ phải chiếm đoạt. Nước Đại Ngu, cha con họ Hồ tài đức đều kém nên mất nước. Việc dời đô vào động An Tôn- Thanh Hóa, không dựa vào lòng dân, thiếu đức khoan dân. Nhiều hành động thất đức, tàn bạo diệt nhà Trần, tàn hại sức dân. Lòng dân không theo nhà Hồ đánh quân Minh, dẫn đến cảnh giặc ngoại xâm bắt sống cả vua tôi, xâm chiếm đất nước ta.

Sự tàn bạo của giặc Minh cai trị đất nước ta trời không dung, đất không tha. Thâm độc và bạo tàn, giặc Minh đã tiêu diệt người tài Đất Việt, đốt sách, cướp di sản văn hóa Rồng Tiên, biến thành của mình, và hủy diệt văn hóa Việt tộc. Thay vào đó là văn hóa cai trị độc hại của giặc thù. Tai hại hơn thứ văn hóa độc ấy, ăn sâu bám rễ đất này như cỏ độc, khó diệt.

Học Lịch sử

Thăm Thành nhà Hồ, lịch sử hiện ra tham vọng của một người, một dòng họ, nắm quyền cai trị được có bảy năm mà tiêu vong cả dân tộc. Tham vọng quyền lực cá nhân thật kinh hoàng. Hỡi loài người hãy cảnh giác, những dã tâm nấp sau tấm áo bào.

Thăm Thành nhà Hồ, bạn hãy cầu nguyện “Nam mô A Di Đà Phật” giúp những linh hồn ngập trái oan được siêu thăng tịnh độ.

Thăm Thành nhà Hồ, bạn hãy cầu nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát dùng thần lực như sấm sét, như vũ bão, chuyển nghiệp ác cho những kẻ gây tội ác, để nghiệp chướng đừng ám ánh, trở đi trở lại Đất Nước Việt thương đau của chúng ta.

Thăm Thành nhà Hồ, cháu con Việt phải dốc lòng học những bài học lịch sử. Phải học lịch sử để nhận biết tấm lòng Nguyễn Trãi Sao Khuê. Nguyễn Trãi đang bay lượn trên cao, nhắc cháu con học sử để trả lời câu hỏi: “Bao giờ dân Việt hết gieo neo?”

Đời sau học hỏi tìm lịch sử

Nhìn vào lòng đất ngậm máu xương

Dân đen nát dưới đấu trường tham vọng

Tiếng kêu oan vang động khắp tầng Trời

Cỏ may ức triệu hồn quằn quại

Quỷ đội lốt người, nghiệp chướng mãi bám đeo

Đại họa treo lửng lơ Bắc phương

Trở đi trở lại lộn tùng phèo

Bao giờ dân Việt hết gieo neo?


___________________________________

Biển Hoằng Hóa- Thanh Hóa Mùa Hoa Phượng 2013.

(Mai Thục cùng đoàn Hội Văn Nghệ Dân Gian Hà Nội khảo sát Thành nhà Hồ, Suối Cá Thần, Động Từ Thức, Đền Trần Khát Chân, Đền Tướng công Đại Vương Lê Trung Giang).



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 15.06.2013.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com