Đảo Dưa Hấu











Mai An Tiêm là một nông nô, bị lái buôn chở đến cung đình bán cho vua Hùng.

Mai An Tiêm mạnh mẽ, chân thực, thẳng ngay. Chàng có trí nhớ tuyệt vời. Biết nhiều chuyện, miệng nói, tay làm. Vua tin yêu chàng, thường bàn thảo công việc với chàng. Mai An Tiêm hơn ba mươi tuổi, hầu cận gần gũi của đức vua. Chàng lấy con gái nuôi của vua, có một cậu con trai năm tuổi. Ngôi nhà riêng của chàng gần cung vua, của ngon vật lạ không thiếu.

Tuy quyền chức không lớn, nhưng chàng đủ uy lực nói vua nghe. Những kẻ xung quanh sinh hiềm khích, ghen ghét.

Bọn nịnh thần vu vạ, tâu vua rằng chàng ngạo mạn, coi thường đức vua.

- Muôn tâu bệ hạ, Mai An Tiêm nhờ công ơn mưa móc của bệ hạ mà được nên người. Nhưng hắn không biết ơn đức vua. Hắn bảo nhờ kiếp trước ăn ở tử tế, nên kiếp này tất nhiên hắn được hưởng sung sướng. Hắn không ghi nhớ công của bệ hạ. Hắn đáng tội chết.

Vua nghe lời xiểm nịnh gầm lên:

- Thằng láo. Đồ vô ơn. Nó phải luôn miệng nói nhờ ơn bệ hạ mới phải đạo. Quân phản nghịch. Giam nó lại cho ta.

Mai An Tiêm bị bắt giam ngục sâu.

Các quan được thể hả hê, xúm xít họp bàn xử tội chàng Mai.

Kẻ bảo xử tử. Người đòi cắt gót chân.

Một ông quan già tâu:

- Hắn bị tội chết là đúng. Nhưng trước khi hắn chết, ta nên bắt hắn phải nhận ra một cách thấm thía rằng những của cải của hắn, trí tuệ của hắn, vợ con của hắn, cuộc sống của hắn, có được như thế là do công ơn trời bể của bệ hạ, chứ hắn chẳng tự nhiên mà có được. Không phải nhờ kiếp trước. Tôi nghe ngoài Nga Sơn có một hòn đảo. Đày hắn ra đấy để hắn ngồi ngẫm nghĩ trước khi lìa đời.

Vua Hùng gật đầu đồng ý.

Mai An Tiêm lĩnh án đi đày ra đảo. Vợ chàng một mực đòi theo chồng đi đày. Mọi người can ngăn nàng.

Mai An Tiêm khuyên vợ:

- Nàng chung tình với ta như vậy là quý lắm. Ta ghi tạc tình nàng. Nhưng nàng cần phải sống một kiếp sống ngắn ngủi của nàng. Sống bình an nơi trần gian. Nàng còn phải làm mẹ, nuôi con khôn lớn thay ta. Ta có số phận của ta. Sống chết do Trời định. Nàng ở lại, mẹ con vui sống bên nhau. Lâu dần, nàng sẽ quên ta và nhớ tìm một người đàn ông tốt làm chồng. Được như vậy, ta an tâm.

Nàng ôm con, ôm chàng. Ba người ôm chặt nhau đầm đìa nước mắt:

- Sống hay chết, thiếp cũng ở bên chàng và con. Thiếp nhất định phải đi cùng chàng. Chàng gánh nỗi oan khiên quá lớn. Thiếp xin nguyện chết để sẻ chia cùng chàng.

Nàng chuẩn bị lương thảo, bồng bế con đi cùng chồng ra đảo.

Biển mênh mông. Không bờ bến. Chiếc thuyền mủng chòng chành chồm lên từng đợt, sóng dữ đưa ba người ra đảo. Chân trời xa xăm, bãi cát hoang vu mù mịt.

Ba người dạt lên bãi cát hoang đảo. Không một bóng người. Không ánh lửa. Không vệt khói lam chiều. Trời cao tít mù. Chơi vơi. Đất ở đâu? Mù khơi chới với.

Nàng run rẩy. Âu lo. Ôm chặt lấy chồng con, nức nở:

- Thôi đành vậy. Gia đình mình cùng nhau chết ở nơi này. Sóng gió biển sẽ đưa linh hồn chúng ta về quê cha đất mẹ.

Mai An Tiêm nhìn những khóm cây xanh. Tiếng chim hót ríu ran từ cành cây vẳng lại. Cảnh hoàng hôn vàng tím huy hoàng pha màu biển biếc. Những cánh chim bay mải miết gọi nhau về tổ ấm chiều tà.

Chàng ôm con, lau nước mắt cho vợ:

- Các cụ bảo Trời có mắt. Ở đâu có màu cây lá xanh là ở đó có sự sống. Mình sống cùng bầy chim trên cây kia. Nàng đừng lo. Mình có chồng, có vợ, có con bên nhau, thương yêu sớm tối, còn mong gì nữa. Mình sẽ tìm ra thức ăn, nuôi sống nhau mình ạ.

Họ dắt nhau vào sâu hoang đảo. Một khu rừng nhỏ, có hang đá, cây cối rậm rạp. Chàng cầm dao chặt quang cây lá, dọn đường vào cửa hang. Ba người ôm nhau qua đêm. Sớm mai, nắng vàng tỏa hào quang rực rỡ. Biển rì rào xa xa. Sóng ru bờ cát trắng. Chim trời chao liệng.

Chàng Mai chặt cây làm cửa che mái hang ấm áp. Chặt tre đan chõng, nhặt lá rải ổ làm giường ngủ. Bắc ba hòn đá làm bếp trong góc hang. Nhặt củi khô nhóm lửa. Tìm nước ngọt trong hốc đá. Ra biển bắt cá tôm.

Một tháng trôi qua. Bồ gạo dự trữ đã vơi. Mai ôm vợ thì thầm ao ước:

- Nếu chúng ta có một nắm hạt giống thóc thì chẳng lo gì mình ạ.

Nàng nhìn chồng, đôi mắt đẫm ướt:

- Vâng. Cuộc ra đi vội vã. Vợ chồng mình chắng kịp nghĩ mang hạt giống thóc, rau, ngô... đi cùng.

Hai vợ chồng loanh quanh tìm kiếm những thứ cây lá, quả trên đảo. Mai bảo vợ:

- Nàng cứ nhìn kỹ, quả gì chim ăn được là mình ăn được mình ạ.

Vợ chồng con cái chịu khó nhặt quả rơi, quả vãi chim ăn, nuôi nhau qua ngày. Nhiều quả thơm chan chát, ngọt đậm đà, ăn vào mát ruột. Vợ Mai thích cây vả cổ thụ mọc gần hang. Quả sai chui chít, chín đỏ mọng, bé cu chỉ với tay là hái được, nó nhai ngon lành, nhìn rất yêu.

Một hôm, tự nhiên có một đàn chim từ đâu bay lại, chúng đậu đen ngòm cả bãi cát. Rồi chúng bay đi, để lại trên cát trắng những hạt mẩy đen bóng. Chàng Mai nhìn hạt chim nhả ra, reo to:

- Hạt đây rồi mình ơi. Hạt gieo xuống đất. Hạt nở thành cây. Cây ra hoa, kết quả, nuôi sống chúng ta.

Mai nhặt hạt gom lại, hai vợ chồng tìm đám đất xốp, nhổ cỏ, xới đất, ươm hạt, gieo mầm. Ngày nào nàng cũng len lỏi vào một hang đá hẻm có dòng nước ngọt trong mát, múc nước vào nồi, mang về tưới chăm đám hạt gieo.

Ít lâu sau, những hạt ấy nảy ra một loài cây bò sát đất, lan xanh bãi. Dây bò đến đâu, những bông hoa nở, những quả xanh non mơn mởn nhú ra. Mỗi ngày Mai nhìn quả lớn nhanh trông thấy. Quả xanh to dần, da xanh mượt, tròn to hơn đầu người. Mai hái một quả về nhà bổ, ruột đỏ hồng, hạt đen nhánh. Vợ chồng con cái ăn ngon lành, nước mát lan tỏa, vị ngọt thanh. Càng ăn càng thấy khoan khoái, mềm mại, ngọt mát, dễ chịu vô cùng.

Mai ôm con vào lòng, vuốt tóc vợ nói:

- Đây là thứ dưa lạ, chưa từng thấy bao giờ. Đặt tên nó là dưa hấu.. Bổ dưa ăn thay gạo, hạt dưa lại đem gieo mùa theo mùa. Trời nuôi sống chúng ta rồi mình ạ.

Hai vợ chồng lấy hạt gieo thật nhiều dưa. Họ ăn suốt ngày không cần các thức ăn khác. Thằng cu con cứ ôm quả dưa lăn lóc mà cười reo. Nó còn đá bóng tung tẩy chơi.

Một hôm, có chiếc thuyền đánh cá lạc ra đảo. Vợ chồng Mai mời họ lên nhà, bổ dưa mời ăn. Vợ chồng vui như gặp lại người thân sau những ngày dài xa cách. Mai sửa thuyền giúp họ. Lại biếu dưa cho họ mang về đất liền.

Ít lâu sau, có thuyền ghé đảo, cho nhà vợ chồng Mai gạo, mắm, muối. Đổi lại, họ chở đầy thuyền dưa về đất liền.

Cuộc sống lưu đày đơn độc của gia đình Mai bắt đầu thay đổi. Vợ chồng chăm chỉ trồng rất nhiều dưa. Các thuyền bè ra vào tấp nập buôn dưa. Mai đặt hàng cho họ chở các thứ từ đất liền ra. Gia đình Mai sống sung túc, thảnh thơi, no gió, mưa, nắng, biển, trời, trăng, sao, chim, thú... phong lưu, tự do, phóng khoáng. Hạnh phúc gấp nhiều lần khi xưa ở cung đình.

Những thuyền dưa hấu của Mai An Tiêm mang về, dân chúng tưng bừng ăn uống. Họ kháo nhau vang khắp thôn cùng, xóm vắng. Họ lấy hạt trồng dưa khắp nơi trên đất nước vua Hùng và kể chuyện vợ chồng Mai An Tiêm vang trời đất. Họ gọi luôn tên dưa hấu đó là dưa Mai An Tiêm. Đảo dưa Mai An Tiêm.

Vua Hùng từ khi đày ải Mai An Tiêm ra đảo thì trở nên lúng túng trong công việc. Vua như thiếu mắt, thiếu tay, thiếu một bộ óc trác tuyệt và một trái tim nồng ấm, chân thành. Công việc triều chính hỏng lung tung. Nhiều lúc vua bực quá gầm lên: “Phải chi có Mai An Tiêm thì đâu đến nỗi rối bét thế này”. Vua luôn nhắc tên chàng, luôn nhớ chàng trong tâm tưởng.

Mấy năm trôi qua. Mấy lần vua cho hỏi Lạc hầu xem Mai An Tiêm bây giờ ở đâu? Chàng đang làm gì?

Thấy đức vua yêu Mai An Tiêm như thế, Lạc hầu nổi máu ghen. Hắn nói bừa: “Mai An Tiêm đã chết đói ở đảo rồi”.

Nhưng trong thâm tâm, vua không tin Mai An Tiêm đã chết. Đức vua linh cảm rằng một con người như Mai An Tiêm, nhất định không chịu chết oan, chết khổ, chết nhục. Mai An Tiêm không khuất phục bất cứ hoàn cảnh nào. Mai An Tiêm vẫn sống cùng đất trời, cỏ cây và tình yêu vợ chồng, tình gia đình, tình người rộng lớn.

Vua sai ngay một tên nô khác, cấp lương thuyền cho hắn đi dài ngày vào châu Ái tìm Mai An Tiêm.

Mấy tháng sau hắn mang về cho vua một thuyền đầy dưa hấu và nói:

- Đây là lễ vật của ông bà Mai An Tiêm dâng bệ hạ.

Hắn kể đầu đuôi câu chuyện dài bi tráng về quả dưa hấu Mai An Tiêm và trầm trồ ngưỡng mộ:

- Bây giờ ông bà Mai An Tiêm đã là chúa đảo dưa hấu, có nhà lầu cao đẹp, gió nắng bốn mùa. Mưa hiền hòa. Biển hát ca. Chim hải âu tung sóng. Đảo dưa hấu trồng được các loại lúa, ngô, khoai, rau, quả, nuôi nhiều lợn gà. Mùa nào thức nấy. Thuận thời tiết. Thuận lòng Trời Đất Người. Sản vật của Mai An Tiêm không thiếu thứ gì. Người hầu đủ loại. Cuộc sống gia đình Mai An Tiêm là thiên đường mơ ước của chúng ta.

Vua Hùng nghe chuyện, vô cùng cảm phục Mai An Tiêm. Con người sinh ra trong trời đất, sống hòa cùng trời đất. Con người đẹp đẽ kiêu hùng biết bao.

Vua ôm đầu hối hận thầm kêu: “ Ta dại khờ đã nghe lời xiểm nịnh mà đày đọa nhân tài. Ta dại khờ gạt bỏ hiền tài ra khỏi bộ máy cai trị của mình. Tiếc thay! Tiếc thay!”.

Vua hối hả sai một đoàn lính ra đảo đón vợ chồng Mai An Tiêm về cung đình, đưa Mai An Tiêm về chức cũ giúp công việc quốc gia, đỡ gánh nặng nhọc nhằn cho mình.

Nhận được chiếu chỉ vua gọi về triều. Mai An Tiêm cùng vợ làm lễ tạ đức vua giữa biển trời, núi đảo bao la.

Chàng gửi theo gió nắng mặn mòi lời ân tình muộn mằn đau xót.

Biển cả vang lên lời ru xa vắng mênh mang :

Kiếp này lỡ lạc tình nhau
Chờ vua xứng nước kiếp sau đền bù
Đời vui tự giải oán thù
Kiên cường bất khuất cho dù hiểm nguy
Trái oan tù ngục xá chi
Tự mình thoát cảnh công hầu thị phi
Đất Trời rộng lớn mình đi
Làm người Trí Dũng đứng lên phi thường
Yêu mình xóa gạt tai ương
Yêu người, người lại thương mình sẻ chia.

Khúc ru hiện đại

Chuyện cổ tích Sự tích dưa hấu được ứng tác thành truyện ngắn Đảo Dưa Hấu mang hồn người hiện đại, tưởng như kết thúc. Nó được viết trong những ngày mùa Xuân năm 2013 bên Hồ Gươm mờ bụi mưa Xuân.

Vậy mà, những ngày cuối tháng 5- 2013. Người kể chuyện Đảo Dưa Hấu bất ngờ có cuộc đi tìm về đất châu Ái xưa (Thanh Hóa ngày nay). Bất ngờ trở lại miền biển Nga Sơn lần thứ ba. Bất ngờ lên thăm Động Từ Thức tại Nga Sơn lần thứ hai.

Ngồi trên ô- tô, ngắm lảng thôn Nga Sơn, lỏng tôi bồn chồn thương nhớ. Mình không biết mình thương nhớ ai mà khổ vậy?

Trái tim rung khúc ru thời hiện đại, vội lấy bút giấy ra ghi:

Tình Quê

Quê mình bâng khuâng đồng lúa hát
Đêm vụt sao rơi, cát ru vườn
Cánh cò bơi trôi nổi chông chênh
Một đời thầm đứng đợi chồng bên sông
Nửa vầng trăng chống chếnh lũy tre
Tiếng à ơi, sắt se lòng mẹ
Ve kêu thê thiết những đêm hè
Mình qua dâu bể mịt mù
Tìm quê mê mải nhạt nhòa trăng thu
Thương yêu thăm thẳm chiều ru
Xót cha, xót mẹ liêu xiêu phương đời
Trăng vàng phơi nước giếng khơi
Phập phồng mưa nắng mây trời xa xăm
Khói lam vương nhớ chiều tà
Mịt mờ vi vút sáo diều ru nhau
Nước non những đớn cùng đau
Tình quê mắt lệ trao nhau đẫm tình.

Nỗi xót xa thương cha, nhớ mẹ, nhớ Tổ Tiên cồn cào, xen lẫn niềm ân hận, sám hối dội ào ạt trong tôi.

Lên Động Từ Thức, tôi thành tâm sám hối trước đền Mẫu, đền thờ Đất Trời Thủy Thần Sông Biển Đảo tại Nga Sơn rằng tôi phạm tội không biết Tổ tông, nguồn cội của chính mình bắt nguồn từ nơi đâu.

Trước cửa Động Từ Thức, người trông Đền tặng tôi bản in những bài ca dân gian về Thắng cảnh Động Từ Thức. Tôi ngồi dưới gốc cây hoa đại tỏa hương trước đền thờ Trời Đất đọc:

“Nga Sơn tôi thuộc tỉnh Thanh/ Phía Đông giáp biển Ninh Bình, Kim Sơn/ Mai An Tiêm chính ở nơi đây/ Xưa đầy biển cả mênh mông/ Đầu tiên cắm chốt ở trên đảo này/ Là vùng dưa hấu xưa nay/ Sông Hưng Long nước bạc cát vàng/ Có dòng nước chảy tận cùng Biển Đông/ Rung rinh đồng cói mênh mông/ Màu xanh bát ngát thắm tình đồng quê/ Bà Mai Hoa là hàng nữ tướng thời Trưng Vương”.

Tạ hồn thiêng sông, núi, biển, đảo, đổng lúa, cây cỏ, cội đá, gốc cây, ngọn suối, hang động, giếng nước, mạch nguồn, Tổ tông, cha mẹ, con người, vạn vật Đất Trời Nga Sơn.

Tôi trở Nga Sơn, lại lần thứ ba, mới thấu hiểu mảnh đất này là thủy tổ của dòng họ Mai, mà tôi chịu ơn sinh thành, đưỡng dục từ thủy tổ và người cha họ Mai của mình đã nhiều đời phiêu dạt về Ý Yên- Nam Định.

Hai lần trước về Nga Sơn cùng các anh chị họ Mai tìm Tông tổ, tôi cứ mơ hổ, như có như không, chẳng mặn mà, máu thịt.

Cha mẹ và tôi. Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp ly hương trên chính đất nước mình, thành nỗi buồn truyền kiếp ám ảnh tôi suốt cuộc đời. Tôi chông chênh thắp ngọn nến trong tim, đi tìm quê hương, nòi giống, tìm tế bào nguyên thủy của mình.

Cuộc đi tìm mờ mịt.

Tìm về mênh mông.

Chới với chơi vơi.

Lần này về Nga Sơn, tôi đã gặp chính mình trong cổ tích. Tâm linh Tổ tông Mai An Tiêm từ thuở khai thiên lập địa nơi Đảo Dưa Hấu đã và đang truyền sức mạnh cho tôi. Tôi biết chính xác rằng mình mang dòng máu nguyên sinh Tiên Rồng Việt Tộc. Điều thiêng liêng cao cả này, bây giờ tôi mới thấu.

Tôi khấn nguyện xin Mai An Tiêm một cụ đá thời Ngài ra đảo lưu đày. Thời biển lùi, biển tiến. Thời Hồng Thủy. Ngài cho hiển linh trước mặt tôi một cụ đá tọa Thiền, màu nâu đất, hình trụ tam giác, to bằng bàn tay dưới chân Đền thờ Trời Đất. Cụ đá trầm tích từ hoang đảo Dưa Hấu còn tinh nguyên dấu bọt biển mặn mòi. Tôi nâng cụ đá trên tay, hái lá rừng xoa sạch đất, thỉnh cụ đá về nhà trong hương hoa Đại, trang trọng đặt nơi phòng văn của mình.

Lúc này, tôi muốn thầm thì nói với bạn của mình rằng: “Đừng hỏi vì sao/ Đôi mắt nàng buồn như cổ tích/ Cổ tích là máu thịt cha ông/ Cổ tích là chuyện đời mình/ Cổ tích là sự sinh tồn nát tan rơi/ Người sống, chết xem như trò xúc xắc/ Thiện, Ác ẩn hiện vô hình/ Mịt mùng như cổ tích/ Ác thắng Thiện, giằng xé đời ta/ Thành cổ tích/ Lột xác từ Quả Thị bước ra/ Chết rồi mà bồi hồi sống lại/ Mắt buồn lạc cổ tích xa xôi”.


Hồ Gươm Mùa Hoa Phượng 2013.



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 09.06.2013.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com