TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).


Mời bạn mở nhạc để nghe
Có Phải Muà Thu Hà Nội





 






Hà Nội 40 Năm xa - tranh bìa của hoạ sĩ Đằng Giao








HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA

Tặng họa sĩ Phan Diên
T.P




... Có một Hà nội làng hoa Ngọc Hà em đứng đó
Chầm chậm trở về trong mỗi giấc mơ
Chầm chậm đến với những câu thơ
Chầm chậm đời mình cho ngày xuân tới
Và anh
Tình yêu Hà Nội lại theo về...

THÁI THĂNG LONG
(Chiều Phủ Tây Hồ, 1993)



CHƯƠNG 5
... tiếp theo

Ngày 5 tháng 10 năm 1995.



Ngày hôm nay có ba buổi phải tham dự, 10 giờ buổi nói chuyện của Tahar Ben Jelloun; buổi chiều Văn học và văn hoá các nước nói tiếng Pháp do giáo sư Phan Qúy Bích điều khiển chương trình. Cũng vẫn câu quen thuộc trên thiệp chỉ dành cho những người có giấy mời, vậy ra cũng có kẻ không có giấy mời, vẫn tự đến?
Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa, thì vẫn đạp xe vào lòng Hà Nội cũng chưa định ăn trưa ở đâu? Còn trưa qua, ních đĩa cơm bụi ngoài lề phố Hàng Bè, số nhà 48. Nhìn vào ngõ sâu hút, rất hẹp, hẳn là nhà bà bán cơm ở đâu trong đó, tôi lấy bàn tay ra đo thử, chỉ ba gang, khoảng 60 xăng ti mét là cùng. Cánh cửa gỗ, nhìn là biết còn lại từ xưa, phía dưới cánh cửa có bánh xe gỗ kéo, mục đích giữ được đôi bản lề tồn tại lâu hơn với thời gian. Tôi nhớ đến hai cánh cổng gỗ nơi Khu Văn Miếu, so với đây, như cùng một tay thợ lành nghề thực hiện cùng thời. Gọi một tô yêu cơm(), một đĩa thịt kho tàu (có bốn miếng), một bát canh rau ngót, một đĩa bắp cải xào nhỏ trộn trứng. Tôi lùa cơm vào miệng, không thể nhanh bằng thanh niên chừng hai mươi, chỉ gọi bát cơm lớn, không kèm thức ăn, bà hàng rưới cho ít nước thịt, sao anh lùa nhanh, nuốt mạnh đến vậy!. Chưa no, lại gọi một bát cơm nữa, ăn xong, anh trả một nghìn, lấy tay lau miệng, ra đi vội vã. Còn tôi, mải ngắm anh ta, cơm canh nguội cũng có, ăn mãi không hết. Rồi cũng phải đứng dậy, nhường cho khách khác, lại chỉ phải trả một nghìn bẩy trăm đồng. Bà hàng tính nhẩm: năm trăm cơm, sáu trăm đĩa thịt kho, ba trăm xào, tô canh bao luôn.
Lửng bụng, vỗ một cái cho xuôi cơm, lang thang vào ngõ Gia Ngư. Chợ nhỏ, nhóm tự phát, chiếm ngõ, chừa lối đi, hai dãy bán đủ mặt hàng: rau, quả, hàng khô, tươi, ê hề. Nhìn cô chủ ngồi trên chõng tre, bán chè cốm xào, màu cốm xanh bắt mắt, được phủ lên một tấm voan. Tôi gọi ngay một đĩa, dường như cô chủ đoán ăn không hết, cầm con dao bài mỏng dài, cắt một đường chia đôi đĩa cốm làm hai, nếu ăn không hết, tính tiền nửa đĩa. Mùa thu là mùa cốm, ngon nhất cốm vòng Dịch Vọng huyện Từ Liêm, chỉ hai mươi lăm nghìn một cân. Nhìn tay cô gói cốm bọc trong lá sen xanh mướt, giữ cho hạt cốm mềm lâu, lại buộc bằng cọng rơm xanh, cũng lấy từ bông lúa được chuốt hết hột, vẻ khéo léo nhà nghề nhìn phát thèm! Và đúng như cô chủ hàng bán chè cốm xanh biết trước, tôi chỉ ăn hết nửa đĩa, trả nghìn rưởi. Rẽ sang ngõ Cầu Gỗ, đi lại hàng bán cá qủa, các cửa hàng ở đây đều để bóng đèn tròn suốt ngày, tự nhiên cảm thấy rất ấm cúng, khi gió lành lạnh thổi từ hồ vào.
Liếc sang hàng bán cá, ở đây cá quả vốn mạnh, sống dai, chúng quẫy dạo chơi vòng vòng quanh mẹt, được tấm ny lông dầy giữ nước được lâu. Một bà đang chỉ vào nó, con cá đang dạo chơi vô tư ấy, nó sẽ không biết rằng, từ đây không còn cơ hội dạo chơi nữa rồi; khi cô bán cá thò tay vào bắt, đập mạnh mấy cái, rãy đành đạch, rồi đặt nó lên thớt, róc vảy, thật lẹ tay.
Cứ nhìn thấy cá quả, là một lần nhớ đến khi còn nhỏ về nông trại nghỉ hè, thường ra ao câu. Cứ thấy một đòan cá con lội phía trước, thì y như rằng chuẩn bị nắm cần thật chặt, để giật cá mẹ theo sau ăn mồi. Cần câu bỗng bị lôi ra thật xa, y như vớ được cá mẹ thật nặng ký. Cá mẹ rất thương con, và bảo vệ con rất quyết liệt với kẻ thù. Khi ấy tôi rất sung sướng vớ được cá to, về nhà khoe với mẹ. Nhưng nhìn nét mặt buồn so, tôi chưa thể hiểu được tại sao mẹ không vui, khi nhìn thấy tôi câu được con cá lớn như vậy. Bà bảo, thế là tôi đã giết chết một đàn con nhỏ cá lóc không nơi nương tựa. Bà kể lại, cá mẹ không những chỉ bảo vệ con thôi đâu; mỗi khi không kiếm được mồi cho con ăn, cá mẹ nhẩy lên bờ làm bộ như chết, kiến bu quanh thật đông; rồi cá mẹ nhẩy xuống nước cho con rỉa. Bà nhỏ nhẹ nhắc câu ngạn ngữ: cá chuối đắm đuối vì con! Khi vào miền Nam, lại ngỡ ngàng với cách gọi cá chuối, cá quả là cá lóc, có con to như bắp vế, nuôi ở đìa lục tỉnh, bầy bán ở chợ Cà Mau và chủ đìa thết khách quí trong tiệc rượu tòan bộ đồ lòng.
Chợt nhớ đến giờ nhận ảnh chụp trong Trấn Ba Đình, tôi lại vào đền, cũng vẫn chỗ này, mấy chục năm xưa, sau khi bốn tên bạn cùng nhóm thân nhau, khao tôi viết bài được đăng trên Tia Sáng, mời ăn sáng, chụp ảnh lưu niệm.
Vẫn bộ tứ: Khánh, Duật, Chiểu và Tường. Duật đứng đầu lớp, môn Việt văn, bài luận nào cũng từ 18/20, có lần 19,5/20; còn Chiểu các môn đều khá như Khánh; còn Tường, chuyên Pháp văn, học thuộc trả bài, ngắt câu, lên giọng bổng, xuống trầm, đúng cách, viết Ortho.(), chia Conj.() một cây. Từ ngày có bài báo đăng, bây giờ thì thầy biết tên, trò nhận rõ mặt nhà báo trẻ là ai rồi? Nhớ đến Chiểu, ắt không sao quên được mùi mắm khô, cá ướp từ nhà trọ, nay mùi vị quê hương ấy ướp áo quần cả khi ra phố, nằm nhà, cho đến lúc về quê, ai gặp anh, ngửi được ngay mùi vị đặc biệt. Và Duật, con công chức, bảnh trai, học giỏi, áo sơ mi dán mác Chemisier Bùi Huy Nhượng.
Dạo ấy, thầy giáo Nguyễn Văn Nhân() thường đọc bài luận mẫu, yêu cầu cả lớp lắng tai nghe. Sau ít năm, Hoài Linh, tác giả truyện ngắn Con Gi Đá đăng trên báo Quê Hương và Duật đi nhận giùm tờ báo biếu. Nhớ lại thuở mới tập viết báo, bài được đăng lên đầu tiên, đi mua liền năm tờ, phân phát bạn bè thân, cất lại cho mình một, giấu trong cặp, lúc ngủ cũng mang theo, đọc đi, đọc lại, và đêm đầu tiên tôi không sao ngủ được, sáng mắt đỏ hoe, như kẻ bị phụ tình. Bài thường xuyên đăng trên báo này là truyện ngắn của Huy Sơn, Đức Thái, Hồ-Nam-Bích-Hữu, Thế Phong, Nhất Tuấn, Hoài Linh, Băng Hồ, thơ của Song Nhất Nữ, Nhất Tuấn, Hoài Linh, Băng Hồ, Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Ngọc Dương, và Duy Năng ở tận Nha Trang. Nhất Tuấn vào Nam sau năm tư, từng giữ chức Tổng giám đốc Việt Nam Thông Tấn Xã. Và chủ nhiệm Bùi Đức Thịnh (nhỏ thó nên, anh em thường gọi là Thịnh con) có công lao nuôi tổng thống Diệm lúc hàn vi, sau được phong chức tổng giám đốc Nha Dân vệ.
Và còn chủ bút Hà Bỉnh Trung, tác giả tiểu thuyết Răng đen ai nhuộm cho mình bị động viên vào quân ngũ. Ra trường, dạy lính, lại dịch thơ tình hầu hết là tác giả răng trắng phương tây.
Tôi cũng cất công đến thăm lại căn nhà ở Hàng Bông Thợ Ruộm (nay Phố Thợ Nhuộm) xưa kia là toà soạn Quê Hương, nhà của chủ nhiệm Thịnh con còn y nguyên, nhưng chủ mới.
Hà Nội thật quen thuộc với tôi từ ngày đi học, bây giờ về, chỉ còn cảnh cũ là quen, tất nhiên còn đôi ba bạn cũ. Đi một mình tới nơi nào, vẫn bị nhìn là người từ xa đến. Quả đúng vậy!
Tôi như một khách rất quen của thủ đô, lạ mặt với Hà Nội bây giờ; chẳng vậy, sao cô bé tinh quái giữ xe ở chân tháp Tả thiên thanh, cầm một nghìn đồng, lại không thối lại năm trăm, nói gọn lỏn xong rồi bác ạ.
Lại ở một căng tin Ủy ban nhân dân phường Phan Chu Trinh, thấy tôi gọi cốc sữa đá (sữa đặc đá xay), ông bảo vệ tính tiền: hai nghìn năm trăm đồng. Rồi có việc phải trở lại chỗ uống nước lần trước, Băng Sơn thấy tôi gọi cốc sữa đá, tiếp theo tôi cũng vậy. Tôi vào đây để hỏi địa chỉ người bạn cũ mấy chục năm xưa, hy vọng phường có thể giúp tìm được.
Một nhân viên phụ trách khâu này, có việc ra ngoài chưa trở lại, đành phải ngồi chờ. Đến gần trưa cũng không thấy người cần gặp, đành trở ra và hẹn buổi chiều trở lại.
Gọi tính tiền, ông bảo vệ phán: bẩy nghìn đồng bác ạ. Đưa tờ giấy bạc hai chục nghìn, bà vợ ông đeo kính trắng thối tiền, kiểm có hai tờ năm nghìn, một tờ hai nghìn và một tờ một nghìn. Điều đáng nói, tờ giấy bạc được gọi là một nghìn, lại không có mệnh giá một nghìn, mà chỉ là tờ giấy bạc một trăm, có khuôn khổ nhỏ hơn, vẫn còn tiêu được ở Hà Nội. Bỏ tiền vào túi, có lời thưa:
- Bác ơi, đây lần chót đến căng tin này, xin gửi lời cảm ơn. Có một thắc mắc nhỏ, mong được giải đáp.
- Xin bác cứ nói ngay cho.
- Hai bữa trước, tôi uống cốc sữa đá, chắc bác chưa quên, tính hai nghìn rưởi, đúng vậy không ?
- Đúng.
- Hai cốc sữa đá hôm nay không là hai nghìn rưởi/ ly mà bẩy nghìn hai ly, đúng vậy không?
- Cũng đúng, rồi sao?
- Cũng chẳng là bẩy nghìn, những bẩy nghìn chín trăm đồng, là sao?
- Sao lại vậy được? bác gắt gỏng, ông có nhầm không?.
- Giá tăng một phần, nhà tôi cho nhiều sữa hơn trước. Bác kiểm tiền lại đi, chúng tôi người thanh lịch cả.
- Bác ơi, tiền cho vào túi rồi, dầu nhầm lẫn, cũng thôi. Bác ở thủ đô lâu đời, là người thanh lịch, thế bác có biết đường Đinh Lễ không?
Mỗi lần đi qua, các bà, các cô ới ới gọi có tiền đô đổi không?
Nhớ rồi, thì sao nữa?
Có quán hàng đối diện với hiệu sách, cốc sữa đá đắt nhất, chỉ phải trả hai nghìn thôi, cha nội?
Thì lần sau cứ đến đó uống.
Quả đúng tự nhiên như người Hà Nội vậy.
Hai chúng tôi giắt xe đạp ra khỏi căng tin, rũ ra cười. Bác bảo vệ há hốc miệng, nói lí nhí nghe không rõ.

***

Nhớ lời vợ dặn, rảnh đến Hàng Bột, tìm nhà cháu Thơ, 33 ngõ Thông Phong. Đến phố Nguyễn Thái Học trước, qua trường trung học Phan Đình Phùng (nay Phan Chu Trinh), cứ đi thẳng tới ngã ba, rẽ trái qua Hàng Bột là đến nơi. Con đường tôi đang đứng, mắt dáo dác tìm biển tên phố, chỉ thấy Phố Tôn Đức Thắng.
Ghé trạm, hỏi thăm cảnh sát viên, thì đúng Hàng Bột. Từ trên đi xuống, bên tay phải số chẵn, bên trái lẻ, vậy ngõ Thông Phong nằm phía tay trái. Gặp đúng ngõ, đúng số nhà, ngoài lề có hàng nước, hỏi thăm, chủ quán cho biết địa chỉ mới: 17b Lý Nam Đế. Căn nhà này xưa là của bá Châu (em ruột bố vợ tôi). Bà lấy chồng tri châu() sinh hạ được hai cô con gái. Cô em gả cho Nguyễn Hiệp, là ba của cháu Thơ bây giờ, chủ căn nhà 33 ngõ Thông Phong. Nhà sửa sang lại để bán (lời chủ quán bán nước đầu hè) và sang ở bên chồng, sĩ quan Quân đội nhân dân, nhà ở phố Lý Nam Đế.
Tôi đi tắt ngõ băng qua đường Trần Qúy Cáp, vẫn còn bắt gặp hàng chữ cổ lỗ sĩ Ga Saigon nằm trong nhà Chemins de fer(), xây cất từ thời tây, sừng sững như con thú lớn nghêng ngang đứng đó. Đúng ra, khu này không thay đổi, quần thể kiến trúc thời thực dân vẫn còn dấu tích đậm nét, phải được coi như di tích hiếm hoi cần bảo tồn.
Len lỏi tới Cửa Nam lúc nào không hay, vậy nhà Nguyễn Minh Lang, xưa ở 42 Hàng Lọng, nay phố Lê Duẩn, là tìm thấy ngay bạn cũ. Buổi nay thì chưa thể gặp, nhưng cũng biết tin nó đi xe lăn, tối ngày quanh quẩn xó nhà.
Rẽ phải qua Phan Bội Châu, tìm số 36, xưa là nhà Nhất Tuấn.
Biệt thự xây theo lối tây còn nguyên vẹn, nhưng được chia ra làm nhiều phòng, ngăn ra, phân cho nhiều chủ ai cũng là chủ tập thể cả. Một chủ tập thể hiện ở đây, lão- thi- nam Khương Hữu Dụng, trên tám mươi vẫn cứng cựa sống một mình, như gà trống tây hãnh diện xoè một bên cánh bảo vệ lũ con của mái bạn Bội Tỉnh. Câu văn so sánh trên có được, nhờ lần cùng Lữ Quốc Văn thăm lão-thi-nữ Bội Tỉnh, ở nhà con gái tại thành phố Bác, lại cũng gặp lão-thi-nam ăn trưa và ngâm thơ Bội Tỉnh cho mọi người thưởng thức.

***

Hàng ngày qua phố Yết Kiêu họp hội nghị, thêm một ngày đi bộ tìm nhà quen cũ, ôn kỷ niệm xưa. Hồ Nam ở 8 Yết Kiêu, nơi tôi từng lại thăm, nhất định đòi bằng đuợc uống cốc nước đường cho đã khát. Hồ Nam chiều bạn, bưng cả hũ đường cùng cốc, bình trà cho bạn tự do pha chế và không thể đoán được, từ sáng bạn mình chưa một chút gì bỏ bụng?
Vẫn phố Yết Kiêu, số nhà 108, nơi sống và chết của chàng nhạc sĩ tài hoa cũng ở đây, tôi nhìn lên căn gác như lời vĩnh biệt muộn màng.
Nhớ lại, lần đầu tiên, tôi và Phạm Đình Chương gặp Văn Cao vào tối mùng một tết, tháng hai 1980 ở nhà Nguyễn Bá Châu, 92 Lê Lai, Quận 1.
Nguyễn Bá Châu, chủ nhà xuất bản, nhà in ở Hà Nội, số nhà 59 Miribel (nay Trần Nhân Tông) trước năm tư. Là con trai bác sĩ Lương, thân phụ đặt tên Châu cho anh, còn là kỷ niệm khi làm việc ở Lai Châu, vì anh được sinh ra ở đó. Châu sống trên đất Thái, quen ăn cơm nếp, gần như không ăn cơm tẻ. Sau năm bảy lăm, gạo nếp rất hiếm, nếu có cũng đắt, anh thường uống bia Larue thay cơm. Khi cần ăn cơm, vợ nấu nếp, mà khi đó mỗi gia đình được phát sổ gạo chỉ có gạo tẻ.
Nhà xuất bản Á châu từ Hà Nội, chưa in tác phẩm nào của tôi, ngay ở Sài Gòn cũng vậy. Cùng lứa tuổi sàn sàn, lại quen biết lâu, thường xưng hô tao, mày, như Thanh Nam, Nguyễn Minh Lang, Thiệu Giang, Huy Quang, những tác giả đã giao du in sách, có đứa một, hai hoặc năm ba tựa sách tùy thằng. Chúc tết xong, Châu rủ tôi qua quán Lê Lai gần nhà, làm mấy chai uống cho vui. Châu uống bia như nước lọc, thuốc lá hút điếu này châm điếu khác, nếu gặp lại anh bây giờ, rất có thể làm bạn chí thiết với Olivier Rolin, nếu tranh giải, mày mười, tao cũng chín rưỡi, chưa chắc ai hút nhiều hơn ai? Nay, Nguyễn Bá Châu đã xa rồi, không còn trên cõi ta bà, xa hẳn chốn đô hội, nhiều niềm vui cũng không ít điều buồn. Buông xuôi hai tay, hãy tự kỷ ám thị, là chẳng còn gì nợ nần gì với trần thế nữa!
Bước váo quán Lê Lai, thời kỳ này, chỉ được phép mở băng nhạc hoà tấu. Ca khúc không lời được nghe đầu tiên , nhận ra ngay, rất lãng mạn, điệu nhạc giang hồ Tôi đi giữa hoàng hôn Văn Phụng, sau bắt qua ca khúc phổ thơ Đinh Hùng của Phạm Đình Chương.
Châu nói ngay: chưa gặp em anh đã nghĩ rằng. thằng này thiêng thật, sắp đến, đã có hành khúc đón chào. Châu ơi, anh đây là chàng Đinh Hùng đang lững thững giữa trưa, đón nàng Hoài Diệu tan trường từ Caritas bước ra cổng đấy, tôi giải thích.
Từ rất lâu, tôi không gặp Chương, nên rất mong gặp lại. Thời kỳ làm tuỳ viên báo chi Bộ Thông tin, (cũ) được cắt cử vào Hội đồng xét duyệt phim, tôi thường rủ nó cùng đi duyệt phim, trước khi chiếu cho công chúng. Và lần ấy, sau khi chia tay trước rạp Olympic, nó khuyên nên học hát làm ca sĩ.
Câu chuyện không đâu vào đâu ấy, tôi vẫn còn nhớ lại như hôm qua, cũng chẳng hỏi cho biết từ ý nghĩ nào nó khuyên tôi vậy?. Uống đến chai bia thứ ba, Châu nhìn ra, thấy Chương đến. Gặp tôi, nó xiết tay thật chặt, lắc rất lâu, như cho bõ từ lâu không gặp. Câu đầu tiên:
- Mày còn làm thơ không? Cứ cho thơ nhiều tân ý thật, thì tao cũng đếch phổ được ?
- Tại sao? tôi hỏi:
- Sao với trăng gì, đọc Văn Nghệ Tiền Phong, thấy chúng chửi mày và Thanh Tâm Tuyền là thơ hũ nút, tài mấy cũng chịu! Nó vẫn hút Bastos de luxe, hít một hơi cho đã, kể chuyện hàng ngày, dạy nhạc kiếm cơm cho qua ngày đoạn tháng.
Ba thằng đấu láo, tất nhiên tránh chuyện chính trị, chính em, còn tha hồ bàn về nhạc nhiếc chẳng động chạm ai, vì sợ hại đến thân còm!
Châu rủ hai thằng về nhà nó ăn tết, còn để dành được chai Moët Chandon cổ trắng, vừa uống sâm banh vừa thưởng thức nhạc sống.
Chương nghe đến nhạc sống chất vấn:
- Nghe nhạc hoà tấu còn rét, huống hồ nhạc sống nghe xong, tế bằng nhạc chết à?
Châu có lối nói úp úp, mở mở, như tay đạo diễn cừ khôi, nhất định không nói hết một lần, cứ từng câu dò phản ứng, sau mới tiếp. Chương sốt ruột:
- Thì nói mẹ ra, còn úp mở mất thời giờ!
Châu tiết lộ, tối nay ở phòng khách lầu ba, mời duy nhất nữ danh ca Thái Thanh, pianiste tài danh Nghiêm Phú Phi và nhạc sĩ quốc ca tham dự với bọn mình.

***

Khi còn mở nhà xuất bản ở Hà nội trước năm năm tư, NXB Á Châu in rất nhiều ca khúc của Văn Cao, Nguyễn Xuân Khóat, Đỗ Nhuận Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Tý, Tu My, Văn Chung, Châu Kỳ, Tô Vũ, Hòang Qúy, Dương Thiệu Tước, Phạm Duy, Nguyễn Văn Thương, Ưng Lang, Nguyễn Văn Khánh, Đoàn Chuẩn, Hoàng Trọng, Hoàng Thi Thơ v.v… Còn tiểu thuyết bán chạy nổi tiếng hàng đầu vẫn là Lê Văn Trương, Nhất Linh, Khái Hưng, sau đến Triều Đẩu, Huy Quang, Trúc Sỹ, Sao Mai, Nguyễn Minh Lang, Nguyễn Thiệu Giang, Thanh Nam, Hoàng Công Khanh và tập thơ chuyện kể tình sử, Đồi Thông Hai Mộ tái bản không biết bao nhiêu lần.
Có một vị khách không mời vẫn đến khoảng ngòai hai mươi, mặc dân sự, vẫn toát ra vẻ ấn chìm đầy quyền lực, qua dáng điệu, cử chỉ, lời nói.
Phạm Đình Chương thấy vậy, nháy mắt, khều Châu ra ngoài nói đủ nghe hai thằng tao tham dự không được giới thiệu bút danh, bút diếc gì hết. Tao là Trung, còn thằng này (chỉ vào tôi) tên là gì nào?” Chương nhấn mạnh, phải dặn cả Nghiêm Phú Phi nữa, riêng con em gái tao không cần, vì nó biết rồi.
Văn Cao uống rượu tây như hũ chìm, ăn rất ít, kể cả đồ nhắm lâu lâu cầm đũa đưa lên miệng, vì thức ăn bạn bè gắp vào bát khá đầy. Ai thích bài nhạc nào của Văn Cao, cứ yêu cầu, bữa nay chỉ hát nhạc tác giả nhạc quốc ca thôi. Hết Buồn tàn thu, đến Suối mơ, Bến xuân, Thiên thai, Đàn chim Việt, Trường ca sông Lô, Không quân Việt Nam, rồi Trương Chi, xấu ơi là xấu, mà nếu cứ hát hay, là có vợ đẹp thôi. Thật lạ, giờ phút này, có ai tổ chức nhạc sống đâu, thành phố chỉ hát nhạc cách mạng có lời; còn nhạc vàng cấm lời, nhưng được phép nghe hoà tấu.
Chàng thanh niên quyền lực nhấp nha, nhấp nhổm, đứng lên, ngồi xuống, đi ra, đi vào, hỏi trống không cho gặp chủ nhà ngay! Thấy vậy, Văn Cao cầm ly rượu sang mời chàng thanh niên quyền lực cụng ly. Rồi Văn Cao choàng vai tâm sự như đôi ba dòng tiểu sử tự bạch trích ngang:
...Anh đây từng là cán bộ công an trước bốn lăm, như chú em bây giờ đó, nhưng nghề ám sát thật nguy hiểm, vất vả khôn lường. Không bao giờ anh quên, lần ám sát tên ác ôn, hại dân, hại nuớc, thằng này mang tên Đỗ Phin. Khi một đồng sự tổ chức, chuốc rượu cho nó say, anh vào lên nòng đạn Colt 45, thấy nó, là nhắm mắt nẩy cò, sau nghe tiếng nổ, thoát ra ngoài ngay, rồi trốn biệt tích. Vốn có máu nghệ sĩ, giang hồ, thích sáng tác, à này, anh hỏi thực, em nghe những ca khúc vừa hát có thích không? Cái bài Suối mơ ấy mà, lãng mạn nhưng lãng mạn cách mạng đấy em ạ. Này nhé ... suối ơi bên rừng thu vắng, dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng, cái chất cách mạng này hoàn toàn là rung cảm thực người nghệ sĩ có tâm hồn yêu non sông đất nước, nhưng cũng biết yêu mình. Em có hiểu anh nói gì không? Cụng ly nào, uống cạn nhé. Nhưng phải nói thực, anh là kẻ thất bại về tình yêu; thất bại vì anh không giỏi tán chuyện với đàn bà; nhưng anh là nhạc sĩ quốc ca, em thấy có đủ bảo đảm về chính trị cho buổi tấu nhạc đêm nay và không còn có vấn đề, có đúng vậy không ?

Người trẻ tuổi cạn ly rượu, giữ tư thế im lặng, không lên tiếng, chẳng trả lời, không cần xác nhận đúng hay không, có vấn đề hay không có vấn đề, lại đi vào chỗ ngồi và chỉ tin khi bài quốc ca được hát lên, mới hết hoang mang và thực sự tin tưởng đúng là thật. Rồi nhạc sĩ lại tiếp tục dốc bầu tâm sự :
Vả lại, Văn Cao tự nhận là kẻ thất bại về tình yêu, không giỏi tán chuyện với đàn bà, con gái; nên tác giả đành dốc tâm sáng tác ca khúc thật mộng mơ, say đắm chết lòng người, bù cho sự thiếu thốn kia vào lời ca, nốt nhạc.Văn Cao tâm sự tiếp:
- Em có thể không nghe ca khúc Thiên thai, Suối mơ; hoặc không chừng chỉ thích tiếng nhạc ồn ào, gầm thét Trường ca sông Lô, như nước đổ ầm vang quyện hoà tiếng súng; hoặc Tiến quân ca, bài quốc ca chính anh là tác giả. Em có tin vậy không? Nếu em tin, đúng anh là người sáng tác quốc ca của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, vậy thì em đã cảm thấy. được điều này chưa?
Cảm được điều này chưa?Nhạc của anh rất nhiều, riêng ca khúc Tiến quân ca trở thành quốc ca thì em biết đấy; từ anh dân đen đến ông có chức, có quyền, một khi nhạc tấu lên, tất tần tật đều phải đứng dậy và tất nhiên kể cả thích hay không thích nhạc của anh.

Văn Cao giơ tay bắt nhịp, tự hát: Đoàn quân Việt Nam đi..., câu hát chưa dứt, thì người trẻ tuổi quyền lực hạ bộ mặt đăm chiêu, vội vã giã từ, nại có lý do đi công tác đột xuất, lẻn ra cửa thật nhanh.
Vĩnh biệt chàng nhạc sĩ tài hoa thượng thừa! Nếu có ai bắt khai lý lịch, hoặc một nhà báo giỏi nghề, muốn biết đích xác phong thổ, nơi sinh tác giả; hỏi, thì nhạc sĩ chỉ lắc đầu, không còn nhớ rõ, có thể tác giả được sinh ra ở Nam Định Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình? Không biết đích xác, không còn nhớ, từ thuở nhỏ, mẹ bồng bế các em, giắt díu anh đi tha phương, cầu thực; đến Hải Phòng đất lành chim đậu. Người núi Ngự, thành Tô lớn lên và trưởng thành, sáng tác và thăng hoa, cả hoạ, thơ, nhạc kịch; bộ môn nào cũng được coi như trang bất tử của lịch sử văn học vịệt của thế kỷ hai mươi.
Ông qua đời vào một ngày thật dễ nhớ, đối với tôi, ngày 10 tháng 7 năm 1995. Và cách đó 63 năm, cũng là ngày dễ nhớ, chính ngày này, tôi được sinh ra đời vào ngày mưa to, gió lớn, lụt lội ở nhà thương Yên Thái, tỉnh Yên Bái.
Cũng không quên lần gặp ông cuối cùng ở Quán Nhạc sĩ trong khuôn viên Nhà Văn hoá thanh niên thành phố Bác. Ông ngồi trên chiếc bàn nhỏ kê trên bục, MC nhạc, đạo diễn Hữu Luân. Mỗi lần giới thiệu bài hát, buộc có lời bình, kiểu Mao Tôn Cương, giải thích tại sao, hoặc bởi vì, như buộc khán thính giả phải nhập tâm trước khi nghe nhạc. Một lời giới thiệu phô() đối với bài Trường ca sông Lô khiến Văn Cao nhăn mặt, xua tay, phê bình thẳng thừng về cách giới thiệu áp đặt chính trị tính cho ca khúc của ông. Lần đầu tiên, tôi nhận ra tiếng hát tuyệt vời, cao vút, trầm ấm, mượt mà. của chim sơn ca số một, hát nhạc lãng mạn cách mạng Văn Cao, cũng vào hàng số một, đó là nữ ca sĩ tài danh Ánh Tuyết.

***

Chiều nay, Lý Lan vẫn mặc váy đầm, không Hà Nội maxi váy, chưa hoà nhập ngay với mốt thời thượng bây giờ .Câu hỏi, sao không đặt câu hỏi hắc búa như với Didier Eribon? Dễ, đã chuẩn bị mấy câu hỏi về thi ca để hỏi Tahar Ben Jelloun; thì lúc đăng đàn, ông chỉ bàn bàn đến tâm trạng nhà văn Ả rập mà thôi, kết thúc buổi nói chuyện văn chuơng kia, quả là không mấy interesting, song giúp tôi có giấc ngủ vật vờ, chỉ tỉnh dậy khi Lý Lan đánh thức. Và lúc đó, thực sự tôi cảm thấy ngượng ngùng, xấu hổ!. Lý Lan lại hỏi:
- Sao tối qua không tham dự bữa ăn tối Hoa Ban vui hết biết!
- Cô cho biết, không có tôi, nên bị bắt nạt, muốn biết người ta nói gì, chẳng ai thông dịch.
Ở quán ra, đã 11 giờ đêm, chàng thi sĩ tướng ngũ đoản rủ ra bờ hồ cho bằng được, ngồi ghế đá lạnh thấy cha! Tâm sự cái cóc khô gì không biết, chán quá, cô nhất định một mình lội bộ về Cửa Đông. Còn chàng chán đời, không về nhà trọ, phần giờ quá khuya khoắt, đành thuê ghế bố ngủ lạnh bên hồ, trả giá bèo mười lăm nghìn. Lý Lan lại còn trách, cô rủ tôi vào Công viên Gandhi ngồi chơi, tâm sự, thì không chịu, lấy cớ tối rồi, sợ ma, thật làm mất giá phụ nữ quá chừng chừng! Tôi biện hộ, vì bản thân nhút nhát, thôi để sau này về già, có dịp, sẽ bật mí, chẳng hạn chuyện kể như thế này:
…xưa nội dở lắm con ơi, cô ấy buộc thắng xe lại, nhảy từ yên sau xe đap xuống, lon ton chạy vào ngồi bên ghế đá công viên, lấy tay chỉ dzô đây cha nội. Nội không biết làm sao, trời thì tối, vào đó tâm sự, lỡ nổi máu ham hố, giơ tay quàng bậy vai, cổ thấy êm êm, hun đại một cái, là nội đi vào một cửa tử! Cổ thấy nội nhất định không đi tới, cổ lại hỏi: Why not, tell me!(), tiếng Anh cổ giỏi một cây, dịch sách văn học hết xảy!. Thế là, nội giơ tay đầu hàng, chỉ tay vào ỵên xe phía sau, mời cổ lên, lòng muốn bầy tỏ, miệng không thốt ra lời: Tất cả đều muộn màng, rồi sẽ qua đi, cô em ơi, hãy ngồi sau xe; anh chở tới nơi em muốn. Còn anh sau đó, bằng mọi cách cũng đành như chiếc lá phải rụng về cội thôi!

Hà Nội đêm thu, trời se lạnh, gió thổi lùa, đèn sáng hơn sao, đâu đậy mùi hoa sữa dậy về đêm nồng nặc. Nhà văn nữ nói rất nhỏ:

“...mơi này trở lại Sài Gòn, rồi qua Mỹ luôn. Sẽ không còn cơ hội nào gặp lại nữa!”

______________________________________________________________

ĐỌC TIẾP CHƯƠNG 6



THẾ PHONG


HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA
Bút Ký của THẾ PHONG
Nhà Xuất Bản Thanh Niên - Hà Nội 1999


Hính Ảnh : Tư liệu của nhà văn Thế Phong

© Cấm trích đăng lại nếu không được sự chấp thuận của tác giả .




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC