Văn Hóa Tâm Linh Đất Tổ











Đền Hùng- Đất Tổ của dân Bách Việt, thiêng liêng một Trung tâm kinh đô Văn Lang Việt cổ. Nơi tụ hội Văn hóa Tâm linh dân tộc, ngự tại xã Hy Cương- Việt Trì, tỉnh Phú Thọ- Việt Nam, là nơi thờ tự các vua Hùng.

Văn hóa Tâm linh Đền Hùng mạch nguồn vô tận từ núi rừng, đồng lúa, sông suối, ao hồ, ngọn cỏ, gốc cây, bờ suối, những di vật khảo cổ… đến nếp sống người dân, những tín ngưỡng thiêng, truyền thuyết, huyền thoại… buổi sơ khai tiếp nối ngày nay.

Truyền thuyết kể vua Hùng đi rất nhiều nơi tìm đất đóng đô của nước Văn Lang. Ngài thở không khí, uống nước, ăn gạo, rau trên thung thổ quê mình. Từng tế bào của vua thấm đẫm linh khí đất đai, cỏ cây, sinh vật, thế đất, nước, gió, nắng, mưa tuôn, bão nổi, sóng cồn. Vua tự nhận biết đâu là vùng phong thủy tốt để định đô.

Điều đó chứng tỏ người Việt cổ đã hiểu biết khoa học phong thủy. Biết đâu, kẻ thù Bắc phương ranh mãnh, học được phong thủy của ta, thêm phần bùa chú ma quái vào, thành Cao Biền, phá phong thủy nước Nam.

Vua đi hết nơi này sang nơi khác mà chưa chọn được nơi nào định đất đóng đô. Nơi thì gà ngủ mơ gáy sáng, đại bàng ngỡ trời rạng đã bay đi. Nơi thì thế đất không vững sụt lở. Nơi thì gặp con rắn trắng chặn đường. Nơi thì cảnh đẹp nhưng không đủ một trăm ngách để dựng cung điện và họp muôn dân. Nơi không đủ một trăm cái hồ.

Một hôm. Vua tới một vùng nước mênh mông, trước mặt có ba dòng sông hội tụ. Hai bên núi Tản, núi Ba Vì Chầu về. Đồi núi gần xa. Cao thấp xanh tươi, ruồng đồng thung lũng phì nhiêu, màu mỡ, dân cư đông đúc. Giữa vùng đồi có quả núi cao hẳn lên như đầu một con rồng lớn uốn lượn hướng về phương Nam. Vua dừng ngựa, nhảy xuống hít thở những hơi dài khoan thai, sảng khoái, lâng lâng. Vua ngây ngất trước vùng đất, vùng trời núi non kỳ thú, đất tốt, sông sâu, cây cối xanh tươi, có thế hiểm để giữ, có thế để mở, có chỗ cho muôn dân tụ hội, nên chọn làm đất đóng đô. Đó chính là kinh đô Văn Lang cổ xưa. Vua chọn ngọn núi Ngũ Lĩnh làm nơi tế Trời, thờ Tổ, thờ Thần lúa, Thần Nông và các vị thần nông nghiệp, rừng núi, sông nước, biển.

Ca dao Đất Tổ:

“Ngôi Đế Vương đã định Phong Châu

Bốn ngàn năm lẻ về sau

Miếu Lăng ở hạt Lâm Thao núi Nùng


Ngày nay, người Việt trong, ngoài nước hướng về Đền Hùng trên núi Ngũ Lĩnh với niềm tin tâm linh “Đứng đầu hàng dọc trong phúc hệ tâm linh của người Việt” (Trần Quốc Vượng).

Tâm linh đất Tổ- Di tích văn hóa khảo cổ

Xã Sơn Vi- Huyện Lâm Thao- Phú Thọ nơi đầu tiên tìm được các công cụ bằng cuội ghè của người nguyên thủy với nền văn hóa Sơn Vi, thời đồ đá cũ cách đây khoảng 30 ngàn năm. Phú Thọ có 105 nơi tồn tại di tích Sơn Vi, nhiều nhất nước.

Một số di tích có giá trị khoa học, được nghiên cứu công phu, là nguồn tư liệu quan trọng cho việc xác định bốn giai đoạn phát triển văn hóa lưu vực sông Hồng: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn. Phú Thọ đã có hai nên văn hóa lấy tên địa danh của mình: văn hóa Phùng Nguyên ( địa danh ở xã Kinh Kệ - huyện Lâm Thao), văn hóa Gò Mun (xã Tứ Xá- huyện Lâm Thao).

Đây là nguồn tư liệu quan trọng minh chứng cho sự ra đời, tồn tại và phát triển liên tục của vương quốc Văn Lang thời đại Hùng Vương trên đất Phú Thọ.

Đặc biệt Phú Thọ được biết đến ở thời đại kim khí, là thời đại làm nền tảng nảy sinh nước Văn Lang của các vua Hùng.

Hai mươi tám địa điểm Văn hóa Phùng Nguyên (khoảng 4.000 năm trước) tại Phú Thọ cho biết người Phùng Nguyên sống sát nguồn nước, gần sông, hồ, đầm, ruộng trũng. Quy mô làng xóm nhỏ. Các di vật thường là đất pha cát, đồ đá, đồ gốm, màu xám, nâu xám, xám đen, đôi khi bị đá ong hóa.

Các loại công cụ sản xuất chế tạo bằng đá nephrite, cứng và dẻo, màu trắng ngà, trắng vàng, đỏ da cam, khi mài bóng có màu xanh lục nhạt, xanh xám phớt tím, đỏ nâu.

Đá nephrite và đá amphibolite dùng làm đồ trang sức, vòng, khuyên tai, hạt chuỗi… kỹ thuật tinh tế.

Di chỉ Văn hóa Đồng Đậu (cách đây 3.000 năm) tại bốn nơi, từ Việt Trì trở xuôi. Người Đồng Đậu sống bằng nghề nông, làm lúa nước, nuôi gia súc, trồng cây rau, định cư lâu dài ở một chỗ. Di tích là kỹ thuật luyện kim và chế tác đồ đồng thau kỹ thuật cao. Đồ gốm nung cứng hơn, màu hồng đỏ, xuất hiện hoa văn khuông nhạc với nhiều biến thể khác nhau như hình sóng nước, chữ “S”, hình số 8, hình hạt thóc.

Văn hóa Gò Mun (2.600 năm trước) phát hiện tại Tứ Xã, huyện Phong Châu là văn hóa Đồng Đậu đã phát triển đến giai đoạn cao. Ngoài trồng lúa, cư dân biết đúc đồng kỹ thuật tinh xảo.

Văn hóa Đông Sơn (2.300 năm trước) mang đậm yếu tố lưu vực sông Hồng. Đó là sự phân biệt rõ rệt giữa công cụ lao động và vũ khí và tỷ lệ giữa chúng tương đương nhau. Văn hóa Đông Sơn sinh ra nước Văn Lang, thời đại các vua Hùng.

Tâm linh Đất Tổ- Trống Đồng

Người dân Đất Tổ Hùng Vương tự hào là một trong những tỉnh có Trống Đồng, mà lại có số lượng Trống Đồng thuộc loại nhiều nhất nước (75 chiếc). Ngay dưới chân Đền Hùng núi Nghĩa Lĩnh Cũng đào được Trống Đồng.

Trống Đồng là báu vật Tâm linh, Trí tuệ siêu việt của Tổ tiên Việt tộc dành tặng giống nòi. Trống Đồng biểu tượng dân tộc trường tồn. Năm 1292, sau vài năm cuộc kháng chiến chống quân nguyên kết thúc. Trần Cương Trung, sứ thần nhà Nguyên vẫn còn run sợ sức mạnh Đại Việt mỗi khi chợt nghe tiếng Trống Đồng giữa kinh đô Thăng Long:

“Nhác thấy bóng gươm lòng run sợ

Nghe trồng đồng rung tóc bạc phơ”

Trống Đồng được thờ thành vị thần thiêng trong tâm linh người Việt. Nhiều làng quê thờ Thần Trống Đồng thiêng liêng.

Làng Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây được sứ quân Đinh Bộ Lĩnh ban tặng Trống Đồng Miếu Môn để thờ.

Thanh Hóa có núi Đan Nê, huyện Yên Định. Núi Đan Nê, còn gọi là núi Đồng Cổ (núi Trống Đồng) có đền thờ Đồng Cổ Sơn Thần, thờ Trống Đồng.

Đường Thụy Khuê- Hà Nội có ngôi Đền Đồng Cổ, thờ vọng Thần Trống Đồng ở núi Đan Nê.

Các vua những triều đại sau, đều thực hành lễ thờ Trồng Đồng, tấu đại nhạc trang nghiêm, thanh tịnh.

Ngày nay ở Phú Thọ còn một vùng đất thiêng mà ở đó giữ nguyên vẹn một tập tục đánh Trống Đồng trong ngày hội, nhịp âm vang như tiếng Trống Đồng của Hùng Vương và Hai Bà Trưng thuở ấy. Đó là huyện Thanh Sơn, miền Tây Phú Thọ với những ngày hội Trống Đồng của người Mường mang tên “Đâm Đuống”, “Chàm Thau” vang nhịp gõ Trống Đồng của các cô gái Mường xinh đẹp.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn với công trình nghiên cứu khoa học Trống Đồng vùng Đất Tổ (Sở Văn hóa Thông Tin Phú Thọ- 2001 xuất bản) đã nghiên cứu Trống Đồng Phú Thọ.

Nghiên cứu Trống Đồng ở huyện Thanh Sơn và huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ, TS Nguyễn Anh Tuấn chứng minh “Người Mường và người Việt là hai nhánh cây của một gốc- Người Việt Mường”.

Những chiếc Trống Đồng loại II Hêgơ tìm được ở khu vực cư trú của người Mường ở Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An có số phận gắn bó với người Mường. Trong trường ca Đẻ Đất Đẻ Nước của người Mường nói đến việc đúc Trống Đồng. Vua Dịt Dàng (theo người Mường, vua Hùng Tổ của người Việt cũng là Tổ của người Mường, vua Dịt Dàng cũng có thể là vua Hùng) đã cho đúc 1960 chiếc Trống Đồng bằng đồng thau. Trường ca tả nhân vật Tả Cần nhờ con Rùa Vàng dạy cách làm nhà thờ và dạy dân đúc Trống Đồng. Người Mường ca ngợi vẻ đẹp của hoa văn Trống Đồng có hình chim Ây, chim Ứa, là hình chim Lạc trên mặt trống. Có hình con nhái trên trống, ghi nhớ nghề trồng lúa nước. Hình tượng Mặt Trời ấm áp, cảnh thuyền bè… Trống Đồng được để ở nhà Lang, trong miếu hoặc chôn ở góc rừng, ngày lễ hội (cưới hỏi, hội hè, tế lễ, tang ma, cầu nguyện, cẩu mưa…) mới được mang ra đánh là những sinh hoạt tinh thần phong phú cảu người Mường hay còn gọi là người Việt cổ. Những lễ hội này còn giữ được nguyên vẹn ở người Mường Thanh Sơn ngày nay.

Trong lễ hội, người Mường Phú Thọ rước Trống Đồng từ nhà Lang, đền, miếu, góc rừng thiêng ra nơi tế lễ. Người Mường biểu cảm âm nhạc Trống Đồng linh thiêng, tinh tế. Trống Đồng cơ bản là âm trầm hùng, âm vang hùng khí, khiến ket thù phải “bạc tóc”. Âm thanh Trống Đồng từng vị trí ngân khác nhau. Đánh vào ngôi sao trên mặt trống thì tiếng trống trầm vang. Đánh vào các vành hoa văn hình học, âm thanh trong và vang. Đánh vào thân những con cóc gắn trên mặt trống, âm thanh sắc và nhọn. Người Mường Thanh Sơn đánh Trống Đồng ở nhiều vị trí của trống như người Việt Cổ.

Kinh nghiệm mấy nghìn năm, người Mường chọn chất liệu tối ưu cho các loại dùi trống. Dùng một số cây thảo mộc như cây vo, cây sa nhân… Đầu dùi được bọc vải bông hoặc da dái dê để khi đánh không hại đến trống.

Năm 111 trước CN, nhà Hán ra sức hủy diệt Văn hóa Đông Sơn, biến nước ta thành quận huyện của Hán: quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Trống Đồng trở thành gai nhọn trong mắt kẻ xâm lược. Biết bao Trống Đồng Đông Sơn bị nhà Hán thu gom, cướp về nước, hoặc nấu chảy. Nhưng cha ông Việt tộc nghìn đời vẫn giữ được Trống Đồng trong lòng đất, đền miếu và cả một nền văn hóa Trống Đồng, Tâm linh Tổ Tiên Việt thờ Mặt Trời.

Tâm linh Đất Tổ- Thờ cúng Tổ Tiên

Đền Hùng và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được nhân loại tôn vinh là “Biểu tượng tâm linh văn hóa Việt”

Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Hà Nội trong lễ trao tặng danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cho “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” khẳng định giá trị độc đáo, trường tồn của di sản biểu tượng tâm linh của văn hóa Việt:

“Lễ hội Đền Hùng như một món quà của người dân Việt Nam cho toàn thể nhân loại”

TS Peter Knecht (Đại học Aichi Gakuin, Nhật Bản nói: “Người Việt thờ cúng tổ tiên mà tiêu biểu là Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là sợi chỉ gắn kết người Việt khắp mọi miền đất nước lại với nhau”.

PGS-TS Diana Thram- Đại học Rhodes, Nam Phi), người có 20 năm nghiên cứu Lễ hội Đền Hùng:

“Tín ngưỡng thờ Hùng Vương chính là sợi chỉ đỏ tâm linh, động lực tinh thần gắn kết toàn dân tộc, nên người Việt ở đâu cũng muốn hành hương về đất Tổ.”

“Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của Việt Nam là một cuộc hôn nhân tuyệt đẹp giữa những giá trị tâm linh và những giá trị khoa học”

(Đại diện phụ trách báo chí UNESCO)

Ngày 30- 4- 2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng điện tử có bài viết:

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh, dù trong lúc đất nước thái bình hay trong khi vận mệnh cam go nhất, Vua Hùng vẫn hiện diện như một nguồn lực vô tận xuyên suốt thời gian và không gian, đến với mỗi người dân Việt Nam dù ở trong nước hay ngoài lãnh thổ Việt Nam.

GS Ngô Đức Thịnh cho rằng nếu coi tín ngưỡng là nét văn hóa đẹp của dân tộc thì tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có lẽ là nét văn hóa mang đậm nét nhất về quan niệm sống, cách đối nhân xử thế của con người Việt Nam. Việc coi quốc gia - dân tộc như một “gia đình lớn”, lấy khuôn phép ứng xử gia đình, gia tộc để tạo thành khuôn khổ ứng xử của xã hội giúp thống nhất một hệ ý thức Việt Nam.

Trong tiềm thức của con dân đất Việt, Đức Hùng Vương đã trở thành đấng tối linh được ngưỡng mộ và thờ cúng như những vị tổ của dân tộc từ thế hệ này nối tiếp thế hệ khác. Hội Đền Hùng đã phát triển thành tín ngưỡng thờ Quốc Tổ. Thực tế không chỉ có 108 đền, đình ở Phú Thọ thực hành di sản này mà trên khắp đất nước Việt Nam từ Bắc tới Nam đều có những đình đền thờ cúng Hùng Vương”.

Tâm linh Đất Tổ- Lễ hội Dân gian

Vùng đất Tổ và xung quanh Đền Hùng tưng bừng các lễ hội dân gian mấy nghìn năm truyền lại luôn rộn ràng sức sống. Lễ Hạ Điền cuối tháng 11 âm lịch tại đình làng Cổ Tích, tế Thần Hoàng làng cáo yếu Thần Nông. Người Việt Cổ tôn vinh vua Hùng là con cháu Thần Nông. Tế lễ cỗ mặn, cỗ chay xong, dân làng rước ba bó mạ ra đồng làm lễ Hạ Điền. Ruộng cấy lúa Hạ Điền là ruộng công màu mỡ, cách cửa đình không xa, được trồng cây nêu, cấy lúa với phong độ linh thiêng trang trọng. Nếu là ruộng tư thì chọn ruộng của gia đình tử tế, vợ chồng song toàn, đông đàn con cháu, làm ăn phát đạt, mùa màng bội thu, gia đình sum vầy no đủ, ấm êm, hạnh phúc.

Bà con cầm ba con mạ cấy quanh cây nêu, vừa cấy vừa đọc bài khấn gọi vía lúa: “Hú! Hú! Hú/ Ông lúa, bà lúa/ Cỏ lên, cỏ úa/ Lúa lên, lúa xanh/ Tốt hơn xung quanh/ Tốt hơn láng giềng/ Cao lên bằng cổ/ Trổ lên bằng đầu/ Bóng như đuôi trâu/ Bông nào be bé/ Cũng bằng đuôi voi/ Bông nào loi thoi/ Cũng bằng đuôi ngựa/ Bông nào rụng rựa/ Cũng bằng bình vôi/ Ba con gà lôi/ Không nổi một hạt”. Cả dân làng vây quanh cùng đọc theo bài khấn.

Lễ hội rước ông Khiu, bà Khiu tại làng cổ Gia Ninh ngày mồng 4 tháng Giêng. Dân làng làm bánh chưng tày để rước. Làm các loại nông cụ và các con vật nuôi, con vât dưới nước để rước với rất nhiều trò diễn, nghi lễ tín ngưỡng phồn thực nông nghiệp cổ xưa. Ông Khiu làm lễ khấn rằng:

“Cầu cho nhân khang, vật thịnh/ Mưa thuận gió hòa/ Để dân làng ta/ Có nơm úp cá/ Có giá đựng xôi/ Có nồi cơm nếp.” Ông Khiu khấn xong, dân làng đánh chiêng trống hò reo: “Hú! Hú! Hú!”.

Lễ hội rước Chúa Gái còn gọi là Tản Viên đón vợ, là phong tục từ thời Hùng Vương ở làng Vi Cương và Triệu Phú ngày mồng tám tháng Giêng. Chúa gái xinh đẹp, áo trâm lộng lẫy, kiệu voi, ngựa, trống chiêng, dân làng rước xuống bè tre song Hồng đưa nàng về hướng núi Tản.

Lễ hội Hát Xoan còn gọi là Hát Xuân ở rất nhiều làng quê Đất Tổ.

Nghệ thuật hát xoan có từ thời các vua Hùng dựng nước nước (hơn 2000 năm trước Công nguyên). Dân Việt cổ hát xoan không chỉ để vui chơi, chúc tụng các vua Hùng mà còn để cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên, mô tả lao động, sinh hoạt ở nông thôn.

Truyền thuyết Hùng Vương kể sự tích hát xoan để vợ vua Hùng dễ đẻ, không đau. Giọng hát trong sáng của nàng Quế Hoa xinh đẹp, khi cao, khi thấp như chim ca, suối chảy, tay uốn chân đưa, người mềm như tơ, ngọt ngào, mát tươi như nước, ai cũng say mê. Vợ vua Hùng mê nghe hát, xem múa không thấy đau nữa, hạ sanh được ba người con trai khôi ngô, thông thái.

Hát Xoan được truyền rộng rãi với dân chúng, nhất là nam nữ thanh niên trong vùng và được tổ chức thành phường hát. Hàng năm vào mùa xuân, các phường xoan Phù Đức, Kim Đôi, An Thái, Thét thuộc Phù Ninh thường tổ chức hát ở cửa đình những ngày hội đám hết hội đám lại chia nhau đi hát ở các nơi. Ông trùm đứng đầu một phường Xoan (hay họ Xoan). Ông là một người có kinh nghiệm về nghề nghiệp xã giao và viết chữ để hát dẫn một số bài dài được chép bằng văn tự.

Hát Xoan từ dân gian vào cung đình Hùng Vương, trở thành những giai điệu linh thiêng thần thánh phụng thờ Đức vua anh minh và các vị thần Thành Hoàng Làng:

Vua về vâng khắp/ Của đậu của nhà/ Vâng chuối vâng mít/ Vua lại vâng đậu/ Quả dài nhánh ra/ Cho ba đấu rưỡi”.

Hội ném chài ở đền Luông làng Văn Luông vào mồng ba tháng Giêng diễn lại cảnh vua Hùng quay quần ăn Tết, chúc Tết đầu Xuân, năm mới và cùng dân làng đưa tiễn Sơn Tinh về núi Tản.


Kho Báu Tâm Linh Đất Tổ Trường Tồn


Khái niệm Tâm Linh được hiểu là những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, cái Chân Thiện Mỹ vô hình, không vụ lợi mà rất mông lung. Cả nhân loại đều hướng về và tôn thờ, tiếp nhận Tâm Linh Thiêng liêng.

Người Việt Nam từ thời Hùng Vương đến nay, đã hướng thượng Tâm linh và tiếp nhận Chân Thiện Mỹ để sống, để yêu thương, xây dựng và chiến đấu bảo vệ giống nòi, bờ cõi. Đời này qua đời khác, các anh hùng, liệt nữ, con dân Việt đã đổ máu xương, Trí Đức xuống mảnh đất hình chữ S để xây dựng nước Việt Nam phát triển và trường tồn. Anh linh ấy, những di sản ấy, tụ quanh ta, tỏa sáng và dẫn dắt. Tuy nhiên, chỉ những ai thành kính hướng về Chân Thiện Mỹ mới tiếp nhận được kho báu tâm linh. Mọi hành động, nghĩ suy, vụ lợi, mưu ma, chước quỉ, mọi thứ bùa chú, cầu cúng tiền, vàng, mã, xây mộ to, bói toán, cỗ bàn mê muội… đều là tội ác trước thế giới tâm linh. Ánh sáng tâm linh và sự mê tín mụ mị, u tối chỉ cách nhau tơ nhện. Những ý nghĩ lành, lợi dân, ích nước, được tâm linh nâng dắt là Thần dẫn đường. Những ý nghĩ tối tăm, lợi dụng tâm linh để mưu lợi cá nhân, hại dân, hại nước là Quỷ nhập. Các triều đại xưa, những kẻ dùng bùa chú, chẩn yểm, hại người lợi mình, đều bị vua giết. Đó là Luật Đời và cũng là Luật Trời.

Thế giới tâm linh của người Việt hôm nay hiển hiện Chân Thiện Mỹ từ Kho Báu Trường Tồn Tâm Linh Đất Tổ, đã được người dân Việt và nhân loại khẳng định.

Vậy mà, mùa Lễ Hội Đền Hùng năm nay, bỗng nhiên dân chúng nhìn thấy “Hòn đá lạ” đặt nơi linh thiêng Đền Hùng để bùa chú. Công luận xôn xao, nỗi bất an, bất ổn tâm linh xáo xác trong hồn người Việt. Nhìn “Hòn đá lạ” trơ trơ, hình vẽ loằng ngoằng màu đen hắc ám trên các trang báo điện tử, ai mà không kinh hãi!

Tôi và Tiến sĩ Hán Nôm Mai Hồng tìm mãi không thấy Văn hóa Tâm linh Việt có trò bùa chú phong thủy đó. Chỉ thấy Cao Biền dã man yểm bùa phong thủy và đã thất bại thảm hại. Cao Biền kinh hoàng kêu lên: “Ôi! Vượng khí nước Nam, không đời nào hết được”.

Ai cũng biết, Cao Biền đã chết vì cái trò bùa chú phù thủy ma quỷ của mình.

Ai cũng biết Trọng Thủy vẫn mọc thêm như đỉa. Cao Biền còn nuôi hận phục thù bùa chú phong thủy nước Nam.

Tôi đọc các bài viết về “Hòn đá lạ”, nhìn hòn đá lạ trên internet, ruột gan nóng cồn cào, đêm không thể ngủ, ăn phải bỏ nửa chừng, để lục tìm tư liệu, ngẫm suy viết bài Văn hóa Tâm Linh Đất Tổ với suối nguồn vô tận những giá trị Tâm Linh, ngày đêm tỏa năng lượng cho con dân Việt Nam trong ngoài nước như vậy.

Bận gì mà ai đó phải bùa chú “Hòn đá lạ”?

Viết đến đây, lòng dạ nôn nao, tôi nhìn thấy bóng dáng Hồ Xuân Hương linh hiển vung cây bút lên trời. Nàng đọc bài thơ mắng học trò dốt:


Mắng Học Trò Dốt (II)

Dắt díu đưa nhau đến cửa đền

Cũng đòi học nói nói không nên

Ai về nhắn bảo phường lói tói

Muốn sống đem vôi quét trả đền

(Hồ Xuân Hương)


Chiều Hồ Gươm bên Tháp Bút, nhìn lên Mặt Trời Ngũ sắc, nghe tiếng vua Hùng sang sảng dạy:

- Nếu có ai đó trong số các ngươi thật lòng thương nước, thương dân, mong muốn Trời Đất Tổ Tiên ban hồng phúc, thì hãy tự sửa mình trong sạch, cầu nguyện theo Phật, nghi lễ gia trì phải được các bậc thầy tâm linh tôn kính, cùng dân lành thực hiện như đã và đang diễn ra tại Đại Bảo Tháp Tây Thiên dưới chân dãy núi Tam Đảo hùng vĩ linh thiêng.


Hồ Gươm những ngày đêm Giỗ Tổ Đền Hùng 2
___________________________



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 12.05.2013.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com