VÀI CẢM NGHĨ VỀ
LỢI ÍCH THIẾT THỰC CỦA SÁCH CỔ
VÀ VỀ MỘT CHUYỆN NHỎ CẦN ĐƯỢC LÀM SÁNG TỎ


Là người yêu sách, mê sách và chơi sách từ thuở thiếu thời, người viết luôn quan niệm rằng “chơi sách không chỉ là thỉnh thoảng mang sách ra ngắm nghía, mơn trớn, vuốt ve, như có người đã nói, mà còn phải đọc cuốn sách mình chơi để biết nội dung và các kiến thức sách chứa đựng, sau đó lại còn phải biết sử dụng, phổ biến, và chia sẻ các kiến thức đó với những người yêu sách khác.

Câu truyện người viết xin kể sau đây là một minh chứng rõ rệt về lợi ích thiết thực của sách cổ. Mới đây, người viết tình cờ được có trong tay một cuốn sách cổ bằng Pháp văn được xuất bản năm 1884 (129 năm trước) mang tựa đề là “Tư lệnh Rivière và cuộc viễn chinh ở Bắc kỳ” (Le commandant Rivière et l’expédition du Tonkin) của tác giả Charles Baude de Maurceley. Cuốn sách được in ở Ba Lê, thủ đô của nước Pháp. Có cuốn sách cổ trong tay, người viết tò mò đọc ngay và thấy một diều mới lạ mà trước khi gặp cuốn cổ thư người viết không hề biết. Đó là việc Đại Tá Hải quân Henri Rivière, người đã đánh chiếm và thủ thành Hà Nội (1882), ngoài chuyện là một quân nhân, ông ta còn là một văn nhân với khá nhiều tác phẩm. Thấy chi tiết này hay hay, người viết liền giới thiệu trên một trang mạng ở Pháp. Xin nói thêm là tình cờ người viết thời học tiểu học, lại học ngay tại ngôi trường mang tên Henri Rivière, ở bên cạnh Bưu Điện Hải Phòng.

Điều này cho thấy rõ ràng là cuốn cổ thư có lợi ích rất thiết thực, vì không có nó thì người viết khó mà có cơ hội để biết là Rivière, ngoài việc là quân nhân, còn là một văn nhân. Thực vậy, ngay với các tự điển hàng đầu như Larousse, Henri Rivière chỉ được cho biết là một sĩ quan Hải quân đã đánh chiếm và phòng thủ thành Hà Nội năm 1882, và chấm hết. Tiện đây người viết cũng xin nói lên một điều mà, do thích đọc, và đã đọc rất nhiều các tác giả Pháp viết về Đông Dương như Jules Boissière. Jean Ajalbert, Henri Daguerches, Marcel Gaultier, Jean Marquet, Jean Ricquebourg, Jean d’Esme, Albert Pouvourville, Paul Bonnetain… người viết thấy rất rõ là hầu như tất cả các tác giả Đông Dương, thời thuộc địa này đều không được đưa vào các tự điển Văn Học lớn, bé của Pháp, chả hiểu vì lý do gì? Do đó, qua sự việc này ta có thể thấy rõ lợi ích thiết thực của cổ thư, nếu được sử dụng đúng mức, là không thể không chấp nhận.

Cùng với việc bài viết về Henri Rivière được đăng tải trên mạng Newvietart ở Pháp, người viết đã được một độc giả chất vấn qua mạng là sao lại dịch từ “Commandant” là “Tư lệnh” vì theo vị độc giả này thì từ “Commandant” còn có nghĩa trong tiếng Việt là Đại Tá, và vị độc giả này muốn người viết cho hay, nếu Rivière là Tư lệnh thì là Tư lệnh đơn vị nào, binh chủng nào? Người viết đã vui vẻ hồi âm và trích dẫn mấy đoạn trong cuốn sách để giải thích là Rivière là Tư lệnh các Lực Lượng Viễn Chinh của Pháp ở Bắc Kỳ, một chức vụ mà ông ta được truy phong 2 ngày sau khi ông ta tử trận ở Ô Cầu Giấy vào năm 1883. Lời giải thích và trích dẫn của người viết đã được vị độc giả đồng thuận và đã gửi lời cảm ơn người viết qua mạng nói trên.

Tuy nhiên, chính vì khi xem lại cuốn sách và đưa ra mấy trích dẫn để giải thích, người viết mới thấy có cơ hội để làm sáng tỏ một vấn đề rất nhỏ, nhưng nếu không làm sáng tỏ và tiếp tục hiểu không rõ ràng thì dễ bị nam ngoại nó cười, mà người viết thì là kẻ “bài nam ngoại” từ bé, vì từ khi đi học ở chính cái trường mang tên Henri Rivière ở Hải Phòng, người viết đã nhiều lần đấu võ với lũ tây con, nhất là với mấy nam ngoại “nai” (lai), vì với lũ này,thì phải nói là, thực là khó mà “ngửi” nổi bọn chúng!

Vấn đề rất nhỏ đó là định nghĩa chính xác của từ “Commandant” trong tiếng Việt. Khi được chuyển dịch qua tiếng Việt từ “Commandant” chỉ có những nghĩa sau đây: Thiếu tá (trong Lục quân) – Chỉ huy hay Tư lệnh (trong phạm trù chức vụ, chứ không phải cấp bậc) – Thuyền hay Hạm trưởng (cũng trong phạm trù chức vụ) và dấu hiệu rõ ràng nhất của cấp bậc Thiếu tá (Commandant) là cái lon gồm có 4 vạch. Do đó từ “Commandant” trong tiếng Pháp không thể chuyển dịch thành Đại tá nhất là Đại tá Hải quân vì trong tiếng Pháp Thiếu tá Hải quân được gọi là Capitaine de Corvette – biệt danh là Corvetard và cái lon gồm 4 vạch (xin mời xem minh họa 1 in kèm trong bài này). Và trong cuốn cổ thư nói trên cấp bậc Đại tá Hải quân của Henri Rivière được để rõ là Capitaine de Vaisseau - tuy không có để cái biệt danh là Cap de veau – (Xin mời xem minh họa 2).

Người Việt mình có thể đã nhầm vì thấy trên cả ba cấp bậc: Thiếu tá Hải quân (Capitaine de Corvette – biệt danh Corvetard), Trung tá Hải quân (Capitaine de Frégate – biệt danh Frégaton), và Đại tá Hải quân (Capitaine de Vaisseau – biệt danh Cap de veau) đều có chữ Commandant đi kèm (xin mời xem lại minh họa 1). Tuy nhiên nếu từ “Commandant” này có nghĩa là Đại tá thì nó chỉ có thể áp dụng cho một cấp bậc (Đại tá), chứ không thể áp dụng luôn cho cả hai cấp bậc còn lại. Vậy thì các từ “Commandant” được ghi cùng cả ba cấp bậc chỉ có nghĩa (về phạm trù chức vụ) là Hạm trưởng vì có lời giải thích đi kèm là chức Hạm trưởng có thể được giao cho người ở bất cứ cấp bậc nào (quel que soit son grade).

Tóm lại từ “Commandant” trong tiếng Pháp không thể được dịch sang tiếng Việt là Đại tá Hải quân (xin mời xem lại thêm một lần nữa trong minh họa 2) để biết Rivière được thăng chức Đại tá Hải Quân vào năm 1880.

Còn từ “Commandant” trong tựa đề cuốn sách chỉ có nghĩa là Tư Lệnh (đúng ra là Tổng Tư lệnh – Commandant en chef, nhưng tác giả chỉ để là “Commandant”) là chức vụ mà Rivière đã được truy phong 2 ngày sau khi ông ta tử trận ở Ô Cầu Giấy vào năm 1883, mười năm sau cái chết của Francis Garnier vào năm 1873, cũng ở Ô Cầu Giấy…


Hồi ký 60 năm chơi sách, chương VI





© Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn ngày 03.05.2013.
. Đăng Tải Lại Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com