Bảo Tàng Văn Hóa Thái & Mường











Người Thái ở Mai Châu trở nên gần gũi với du khách Việt Nam và quốc tế do tuyến du lịch Hà Nội- Bản Lác- Mai Châu. Mọi người về Mai Châu để được ngắm màu xanh lam núi, hòa màu xanh lúa, nhuộm sắc cầu vồng mỗi mùa Xuân đến.

Xuân 2013. Biết anh Kiều Văn Kiên sáng lập Bảo tàng Văn hóa Thái duy nhất của Việt Nam tại Mai Châu- Hòa Bình sau mười năm sưu tầm hiện vật văn hóa Thái. Kiến trúc sư Nguyễn Nga cùng chúng tôi về Mai Châu thăm Bảo tàng Văn hóa Thái của anh Kiên.

Bảo tàng là ngôi nhà sàn gỗ thơ mộng dưới chân đồi, cây quả xanh tươi, cây hoa ban trắng trước ngõ, cũng là nhà ở của vợ chồng anh chị Kiên, Lê và hai bé.

Chàng trai Kinh yêu cô gái Thái xinh đẹp dịu dàng, hát hay, nấu món ăn Thái sành điệu. Vợ chồng Kiên Lê, lên Mai Châu sinh sống. Kiên mê văn hóa Thái từ khi nào không rõ. Anh vừa kiếm sống, vừa lặn lội khắp núi rừng sưu tập những dụng cụ đồ dùng, học hỏi văn hóa, phong tục, cách sống, cách lao động của người Thái. Anh thu về những đồ cổ và cả những đồ tre, nứa, gỗ, gốm, đồng, sắt... tưởng như bỏ đi. Kiến tha lâu đầy tổ. Mười năm đam mê đi tìm văn hóa Thái, anh Kiên đã có đủ lưng vốn sáng lập Bảo tàng Văn hóa Thái.

Trong ngôi nhà Bảo tàng Văn hóa Thái đầm ấm, thân thiện, chị Lê tự tay nấu cho chúng tôi những món ăn đặc trưng hương vị Thái: măng chua sào nhái, cá đồ lá đu đủ, thịt nướng, gà gói lá chuối nướng, canh rau sắng, rau bò khai sào ăn bổ thận... Không thể thiếu vị hạt tiêu rừng (mắc khén) thơm nhẹ nhàng hương cây núi, bùi bùi, cay cay.

Chị Lê là nhân vật sống trong Bảo tàng Văn hóa Thái. Mê chị, chúng tôi mời chị mặc trang phục Thái, chụp ảnh và trò chuyện về ẩm thực Thái.

Chị kể nhà nghèo, lên sáu, bằng tuổi bé Hà Châu con của anh chị bây giờ, chị đã phải tự đồ xôi sắn và nấu các món ăn giúp mẹ. Chị làm được tất cả món ăn Thái tiếp du khách là nhờ lam lũ từ tấm bé.

Chị bảo:

- Người Thái tận dụng thiên nhiên, làm ra các món ăn, tự cung, tự cấp. Thích hương vị đậm đà, không luộc dính nước thức ăn nhạt, mà chỉ đồ, nướng, hấp chín hơi. Các loại thịt gia súc, gia cầm, thuỷ sản đều tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ, ớt, tỏi, gừng, muối... trước khi nướng.

Các gia vị cũng được nướng lên cho chín, tỏa mùi thơm trước khi đem ướp với thịt. Thịt thái miếng, ướp gia vị, dùng xiên hoặc kẹp tre tươi đặt lên than hồng; thịt băm nhỏ, bóp nhuyễn với trứng, gói lá chuối, lá dong, kẹp lại, nướng trên than đỏ hoặc vùi tro nóng; khi chín, thịt rất thơm, ăn không ngán.

Món cá nướng cầu kỳ, đủ mùi thơm của cá, vị cay ớt. Cá chép, trôi, trắm... mổ lưng, để ráo nước, xoa một lớp muối rang nổ; tẩm ớt tươi nướng, nghiền nát, mắc khén, để cá ngấm gia vị, cứng thịt lại rồi đặt lên than hồng.

Chiều Mai Châu. Ngắm chị Lê bên bếp lửa hồng than thơm mùi cá nướng, chúng tôi miên man nhớ Tổ tiên Việt tộc thuở hồng hoang. Bếp là nơi linh thiêng thờ thần lửa. Lửa đã nâng con người hoang dã thành người.

Anh Kiên hướng dẫn chúng tôi thăm Bảo tàng Thái được sắp đặt theo chủ đề, giới thiệu đầy đủ về Văn hóa Thái.

Người Thái sống dưới các thung lũng, đồng bằng dưới chân, núi, gần sông, suối, nhiều kinh nghiệm trồng lúa, đắp phai, đào mương, dựng cọn, bắc máng lấy nước làm ruộng. Lúa gạo là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp. Người Thái cũng làm nương trồng lúa, ngô, lạc, vừng… và nhiều thứ cây khác. Ngoài việc săn bắt thú rừng, cá suối, trong từng nhà còn chăn nuôi gia súc. Họ sinh cơ lập nghiệp tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hoá và sinh sống rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Đời sống săn bắn và hái lượm được trưng bày các loại bẫy: tên tẩm thuốc độc chiết từ cây rừng. Thú nhỏ dùng bẫy nhỏ. Thú to dùng bẫy to. Bẫy gà rừng bắng cách nhốt chú gà ta vào lồng, cài bẫy. Gà rừng thấy gà ta, xô vào chọi nhau. Bẫy sập. Chú gà rừng sa lưới.

Có loại bẫy mô phỏng cành cây treo trên cây. Chim nhào qua đớp mồi sa bẫy.

Sự săn bán ngày càng hiện đại. Người Thái chế tạo các loại súng bắn chim, bắn thú rừng, lợn hổ, báo...

Những dụng cụ bắt tôm cá dưới sông, suối, ao nhiều vô kể: nơm, đó, giỏ, ống tre... Muốn bắt loại cá nào người Thái sáng chế ra loại thích hợp bằng tre, nứa, rất giản dị.

Bộ sưu tập dụng cụ chế biến lương thực: cối giã gạo, xay lúa, cối đá xay ngô, bột gạo, sắn, khoai. Cối xay giã lương thực làm bằng thân gỗ khoét rỗng, luôn phát ra những âm thanh rộn rã núi rừng những đêm trăng. Trai gái vừa xay ngô lúa, vừa tình tứ gõ vào gỗ những thanh âm trong đục hữu tình. Những ngày hội, người Thái dùng cối xay giã làm nhạc cụ.

Anh Kiên am hiểu đời sống tâm linh của người Thái qua bộ sưu tập nhà mồ, đám ma, tục làm vía, tục giải hạn. Quan tài là thân gỗ to khoét lòng thuyền. Đám tang cả làng chia sẻ tinh thần, vật chất. Mỗi người mang gạo, gà, củi đến góp, cùng ăn, cùng lo tang lễ chu đáo. Nhà mồ có hai tầng. Tầng hai để quần áo của người quá cố. Họ quan niệm chết là tiếp tục “sống” ở thế giới bên kia. Đám ma là lễ tiễn người chết về với “mường trời”.

Người Thái thờ đa thần và thờ cúng tổ tiên. Do đời sống gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên có tục lấy nước đêm Giao Thừa, lễ hội đón tiếng sấm năm mới và những lễ hội cầu mùa, cúng nhà mới...

Bộ sưu tập trang phục của anh Kiên khá phong phú. Từ chiếc nôi bé ngủ đến những đồ cô dâu mang về nhà chồng: tráp tre to, bé, quần áo, vải, xà tích, vòng tai, vòng bạc, xuyến bạc... càng nhiều đồ mang về nhà chồng, cô dâu càng danh giá.

Những bộ quần áo thổ cẩm màu chàm xanh hoặc chàm đen của nam. Những áo cỏn màu trắng, xanh hoặc đen bó sát thân với hàng khuy bạc trắng, váy dài đen quấn suông hoặc được thêu viền hoa văn ở gấu của nữ... hiện lên hình ảnh người Thái, trồng bông, nuôi tằm để dệt vải.

Vải thổ cẩm với những nét hoa văn độc đáo sắc màu mây nắng, hoa rừng, bền đẹp do bàn tay người dệt bằng chất liệu thiên nhiên của người Thái làm du khách say mê. Những cô gái Thái với trang phục đẹp như hoa, yểu điệu múa xoè, múa sạp, múa quạt rất độc đáo đã được trình diễn trên sân khấu trong và ngoài nước, hấp dẫn bao người.

Người Thái có chữ viết riêng nên kho tàng văn học dân gian như truyền thuyết, ca dao, truyện thơ, văn học, dân ca… và một số luật lệ còn được lưu giữ và truyền lại khá nguyên vẹn qua các bản ghi chép trên giấy bản hoặc trên lá cây. Một số tác phẩm truyện thơ nổi tiếng như “Xống chụ xon xao”, “Khun Lú, Nàng Ủa”… Người Thái yêu ca hát, đặc biệt là khắp. Khắp là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể đệm đàn và múa.

Trong một ngăn tủ trang trọng, anh Kiên đặt năm bộ sách Thái cổ mà anh sưu tầm được. Chưa biết sách viết những gì, nhưng Kiên đã trình bày cho chúng ta chiêm ngưỡng bộ sách Thái cổ. Theo các nhà nghiên cứu Chữ Việt cổ, chữ Thái cổ đã sử dụng bộ chữ Khoa đẩu của người Việt cổ, có thay đổi chút ít.

Anh Kiên mê bộ sưu tập nhạc cụ- âm thanh dân tộc Thái: cồng, chiêng, sáo tre, khèn bè…

Tôi hỏi Kiên:

- Cng và chiêng khác nhau như thế nào?

- Cng, chiêng đu chế to bng cht liu đng. Cng

không có núm, nhỏ hơn chiêng. Cồng gõ chỗ nào cũng được. Chiêng chỉ gõ vào núm, âm thanh ngân nga. Một bộ gồm tám cồng, tám chiêng hòa nhạc, điệp khúc bảy nốt nhạc (son, mì, đô, pha…) âm vang rừng núi mùa lễ hội, gọi muôn người, muôn vật hòa ca.

Kiên mơ một ngày nào đó sẽ cùng các nhà du lịch Mai Châu tổ chức Lễ hội âm thanh- âm nhạc Thái.

Bảo tàng Văn hóa Thái của anh chị Kiên Lê vừa khai trương, đã thu hút sự khám phá của du khách khi về Mai Châu. Nếu trước đây, lên Mai Châu, ta chỉ loanh quanh Bản Lác với nhà sàn, hàng thổ cẩm, những món ăn Thái... thì nay, có thể dạo bộ qua con đường xanh lúa, lên một ngọn đồi thăm Bảo tàng Văn hóa Thái để khám phá sâu hơn về di sản văn hóa dân tộc Thái. Càng khám phá càng thêm say mê cuộc sống con người nơi đây.


Mai Châu mặt trời lặn. Màn đêm mênh mang bao phủ núi đồi. Trong nhà sàn của Kiên, chăn ấm, đệm êm đang chờ, mà chúng tôi vội lên xe về Bảo tàng Văn hóa Mường của họa sĩ, nhà báo Vũ Đức Hiếu. Cái trò ham khám phá nó vậy. Chưa hiểu cặn kẽ chuyện này, đã tò mò chuyện khác.

Ô- tô nhẹ nhàng lên dốc, xuống đèo, trong sương đêm. Rừng trập trùng bí ẩn. Gió núi ùa tràn mát rượi đưa chúng tôi về Bảo tàng Văn hóa Mường dưới chân dốc Cun, cách thị xã Hòa Bình mươi cây số.

Bảo tàng văn hóa Mường của Hiếu nằm sâu trong rừng. Ánh điện le lói một vùng. Không gian tĩnh lặng. Không người.

Rừng mờ xa đưa tôi về tiền sử.

Đất Hòa Bình. Người Thái & Mường- Hòa Bình là anh em chung ngôi nhà Việt tộc cổ xưa. Mảnh đất, khu rừng tôi dừng lại đêm nay thuộc về đêm tiền sử.

Năm 1923 bà Madelene Colani người Pháp, sau cuộc khai quật ở vùng chân núi Lam Gan- Hòa Bình đã phát hiện những công cụ đá, những đĩa gốm có khắc chữ và dấu tích động thực vật đã được thuần hóa từ 10. 000 năm trước.

Hội nghị Quốc tế về thời tiền sử ở Viễn Đông tại Hà Nôi 1932 xác nhận: “Văn hóa Hòa Bình, là trung tâm phát minh nông nghiệp và chăn nuôi gia súc đầu tiên của thế giới. Trung tâm nông nghiệp Hòa Bình của Việt Nam có trước vùng Lưỡng Hà khoảng 3000 năm”.

Cơ duyên Trời Đất. Năm 2009 đến nay, Vũ Đức Hiếu đã bỏ tiền túi xây dựng bảo tàng bảo tàng văn hóa dân tộc Mường trong rừng Hòa Bình rộng chừng 2ha.

Nhờ Hiếu tôi được sống một đêm tiền sử Văn hóa Hòa Bình. Đêm sâu thẳm. Không âm thanh cuộc sống con người. Tôi đắm chìm trong bản giao hưởng của ếch, nhái, chẫu chuộc, ễnh ương. Họ nhà ếch nhái tấu lên bản nhạc thanh bình, nhịp thấp cao, hòa êm ả, nhộn nhịp, du dương. Rừng già, cây lá, cỏ hoa, muôn vật đung đưa nhẹ nhàng theo bản nhạc. Tôi chưa thấy nơi nào trong rừng sâu, núi đỏ, ếch nhái làm chủ không gian âm nhạc như nơi này.

Sớm mai. Chim rừng gọi chúng tôi thức dậy đi dạo núi. Ông chủ Hiếu, đang chuẩn bị ô- tô ra Hà Nội nhận giải thưởng Phan Châu Trinh. Anh mời chúng tôi tự nhiên leo núi, ngắm hoa cây rừng, vườn cây thuốc Mường, sân chơi ném còn, thắp nhang đền đình. Hướng dẫn viên giúp mọi người thăm Bảo tàng Văn hóa Mường như một ngôi làng Mường đang sinh sống cách đây một trăm năm và xa hơn nữa. Với khu nhà sàn thể hiện bốn tầng lớp xã hội Mường, bốn gian nhà trưng bày hiện vật. Đặc biệt có khu nghệ thuật dành cho các họa sĩ, điêu khắc Việt Nam và Quốc tế đến đây vẽ và trưng bày tác phẩm của mình.

Người chăm sóc Bảo tàng Mường là những chàng trai, cô gái Mường, am hiểu văn hóa dân tộc mình. Cô Bùi Thị Lê uyển chuyển trong bộ y phục phụ nữ Mường thanh lịch và kín đáo, khăn trắng hình chữ nhật, áo ngắn váy dài đến mắt cá chân, yếm; đồ trang sức, dây đeo bằng bạc có gắn hộp trầu hình quả đào, móng vuốt gấu... dẫn chúng tôi thăm khu Bảo tàng.

Người Mường sống tập trung ở Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa. Người Mường cùng gốc với người Việt. Họ sống ở vùng núi, thung lũng có nhiều đất, gần đường giao thông, làm ruộng lúa nước từ lâu đời. Lúa nước là cây lương thực chủ yếu, họ trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ, hàng ngày ăn gạo nếp.

Xưa kia, tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ lang đạo, các dòng họ lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hà) chia nhau cai quản các vùng. Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xóm hoặc đạo xóm, cai quản một xóm.

Vũ Đức Hiếu cấu trúc Bảo tàng Mường của mình theo thiết chế cai trị xứ Mường.

Ngôi nhà sàn gỗ một trăm năm của quan Lang thể hiện văn minh người Việt cổ. Tường rào cây hoa, có bàn thờ Trời Đất. Tầng dưới để nông cụ sản xuất, khung cửi, sợi bông, nong nia nuôi tằm…

Lối lên chính, phụ. Số bậc thang lên là số lẻ là sự sinh sôi nảy nở. Có bồn gỗ khách múc nước rửa chân, phát ra âm thanh thay cho tiếng gọi mở cửa. Nhà sàn Mường cột gỗ tròn, nhà sàn Thái cột vuông. Trong nhà sàn chia nhiều không gian: thờ cúng, nơi ngủ của cha mẹ, nam nữ riêng. Có hai bếp. Bếp ngoài đun trà nước. Bếp trong phụ nữ nấu cơm. Bếp là không gian linh thiêng. Người Mường tôn thờ ngọn lửa và bếp. Đó là linh hồn của ngôi nhà. Nhà Lang có bộ chiêng dùng trong dịp lễ Tết, đón khách. Người Mường sáng tạo những bản nhạc chiêng mang âm hưởng dân ca tình tứ như quan họ: mời bạn đến chơi nhà, dẫn khách, mời khách, tiễn khách đi đường…

Khu nhà Âu ở trung tâm làng là số đông dân chúng bị cai trị. Gầm nhà sàn nuôi trâu bò. Kiến trúc nhà gắn với huyền thoại con rùa. Người Mường bắt được rùa lớn. Rùa xin tha và dạy dân làm nhà có nóc giống mai rùa.

Ngoài ruộng nước, họ làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm. Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình Mường là khai thác lâm thổ sản: nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song... Nghề thủ công của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ. Phụ nữ Mường dệt vải với kỹ nghệ và đôi tay tinh xảo.

Vùng dưới làng là nhà Nooc của những người phải làm thuê mướn, cống nộp cho nhà Lang. Họ sống nghèo khó, nhà sàn đơn sơ.

Khu nhà Nooc trọi tán mạn ngoài rừng của những người cùng quẫn, mồ côi, chửa hoang, bệnh hủi… Họ phải ở xa lánh dân làng, bị khinh rẻ. Khi có ai đó cứu được quan Lang thì được chuyển lên tầng lớp Nooc.

Khu tâm linh làng Mường được xây dựng trên vị trí linh thiêng. Đình làng, đền làng kiến trúc Mường thờ Mẫu, thờ Thần. Ngôi đền thờ Mẫu Thượng Ngàn. Thờ hai bà chúa đã cứu vua Lê Lợi.

Khu sáng tác và trưng bày các các phẩm nghệ thuật phong phú đa dạng. Các bạn nghệ sĩ Việt Nam và quốc tế đã đến đây, nghiên cứu văn hóa Hòa Bình và sáng tác. Họ để lại nhiều tác phẩm trưng bày độc đáo. Nữ họa sĩ Pháp đã in dấu chân mình trên sàn gỗ…

Vũ Đức Hiếu đầu tư làm Bảo tàng Mường với đam mê táo bạo. Quê gốc Nam Định, sinh ở Hà Nội, lớn lên ở Hoà Bình, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật công nghiệp, Đại học Mỹ thuật Hà Nội, Hiếu làm tại Tạp chí Công nhân. Vừa làm báo, vừa sáng tác tranh nên Hiếu thường lang thang khắp mọi miền đất nước.

Hiếu yêu thích văn hóa Mường- Hoà Bình với những đêm lễ hội “Khai hạ”, “Khuống mùa”, uống rượu, ăn cỗ lá, hát ca... các bản Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động. Anh kính tín và tôn trọng thực hành đời sống tâm linh của người Mường. Tại Bảo tàng Mường, Hiếu làm lễ đắp bếp cho nhà Lang, nhà Ậu và nhà Nooc, hương khói thờ Thần, thờ Mẫu tại đền thờ, đình làng.

Anh cảm nhận người Mường vốn có nét văn hoá rất đặc sắc không bị nhầm lẫn với bản sắc dân tộc nào. Từ những đường nét hoa văn trong dệt thổ cẩm, đan lát đến dáng điệu ném còn uyển chuyển. Hiếu xót xa khi thấy những nét văn hóa cổ xưa hòa thiên nhiên rừng núi nên thơ mai một dần. Anh càng thấy yêu từng vật dụng thường ngày thô sơ đến đồ trang trí mỹ thuật. Trong những chuyến đi về bản, anh thấy thích đồ vật gì của người Mường thì xin hoặc ai bán thì mua đem về lưu giữ.
Hàng chục năm sưu tầm, Hiếu đã có trong tay gần 1.000 đồ vật của người Mường: từ những đồ vật nhỏ nhất như chiếc dao, rìu, công cụ săn bắn, đuổi cầy, chân gà rừng khô... đến những chiếc khung cửi, bộ trò ổ (Vật dụng của người con gái mang về nhà chồng đựng váy và của hồi môn), mâm hè (mâm để cúng)...

Vợ chồng và các con của Hiếu ăn ở ấm áp cùng Bảo tàng Mường. Xung quanh nhà Hiếu đâu đâu cũng thấy những đồ vật của người Mường. Mỗi đồ vật là một kỷ niệm của những chuyến đi. Mỗi vật mang về Hiếu lại đọc sách tìm hiểu những đồ vật đó.
Ý tưởng làm Bảo tàng Mường thôi thúc Hiếu vượt nhiều chướng ngại và sáng tạo không ngừng. Bốn gian trưng bày hiện vật, Hiếu phối kết hợp trưng bày theo chuyên đề với phong cách hội hoạ.
Anh nghiên cứu những cuốn sách của các học giả nổi tiếng như Colani, Giáo sư Trần Quốc Vượng, Giáo sư Từ Chi, nhà nghiên cứu văn hóa Mường Bùi Chỉ... Mấy năm gần đây, anh miệt mài giải mã và đã gần tìm ra tất cả những bí ẩn trong bộ lịch tre của người Mường, vốn là một bí truyền mà gần như chưa có nhà nghiên cứu nào hiểu thấu đáo. Bộ lịch là 12 thanh tre có khắc mã vạch ở cạnh. Nếu biết cách xem, có thể xem được ngày tốt, xấu, mưa nắng, mùa thu hoạch, săn bắt thú trên rừng, cá tôm dưới suối.
Tầm nhìn xa Vũ Đức Hiếu, đã kết nối Bảo tàng Mường với nghệ thuật đương đại, mở không gian văn hóa Hòa Bình ra thế giới. Du khách Việt Nam và quốc tế đến đây, thư giãn, nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật. Cùng nhau khám phá Văn hóa Hòa Bình, cảm nhận Đất Trời nơi đây là điểm khởi đầu và cũng là điểm tận cùng thế giới.

Từ Bảo tàng Văn hóa Thái của Kiều Văn Kiên đến Bảo tàng Văn hóa Mường của Vũ Đức Hiếu ta thấy tuổi ba mươi của thế kỷ XXI, người Việt Nam bắt đầu chuyển sang tư duy sáng tạo mới. Cuộc sống mới của các cá nhân trỗi dậy. Họ là những cá nhân dám nghĩ, dám làm. Từ đam mê đến ý tưởng. Từ ý tưởng đến hành động và họ đã thành công. Những cá nhân tự do lớn nhanh cùng thời đại. Họ không chịu lệ thuộc vào khuôn mẫu cũ. Không dựa dẫm vào tập thể hay Nhà nước. Họ là những cá nhân dám đứng lên tự mình làm ra những giá trị đích thực cho cuộc sống của mình và cộng đồng, dân tộc, tổ quốc.

Gặp tuổi ba mươi “có chí… có gan…” trong đêm Việt cổ. Tiếng cồng chiêng ngân rung rừng núi, vang vọng địa cầu, tôi như gặp

Quảng Trường Thời Đại

Gặp nhau nơi Quảng Trường Thời Đại

Trống Đồng rung sông Mã, sông Hồng

Cồng chiêng ngân âm hưởng núi sông

Dàn đồng ca cao thấp hòa thanh

Những bước đi hoa thắm quả lành

Mỗi kiếp người hơi thở mong manh

Sức mạnh tinh thần say hành động

Hoàng hôn xanh ánh ngọc quảng trường.


___________________________

Mai Châu- Hồ Gươm mùa Hoa Ban 2013.



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 21.04.2013.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com