Gửi Vợ Cho Đàn Em


HẠNH ĐỨC


Tình hình cao nguyên trung phần đến hồi nguy kịch, trước khi có cuộc lui binh trên tỉnh lộ 7B. Đại tá Quốc cho gọi trung sĩ Minh, người đàn em thân tín, lanh lợi và còn độc thân, đến để dặn dò:

-“Tình hình nguy ngập lắm rồi, tiến, thoái đều không an toàn. Nhưng tôi sẽ tử thủ. Vậy nhờ chú giúp tôi một việc, không biết chú có sẵn lòng không? Minh đáp:

-Thưa Đại tá, xin đại tá cứ nói:

- Tôi nhờ chú làm ơn đưa nhà tôi và cháu bé di tản về Nha-Trang rồi liệu tìm đường đưa hai mẹ con nó về Saigon lánh nạn. Tội nghiệp, nhà tôi mới sinh cháu được có hai tháng, hãy còn yếu lắm! Chú cứ coi nhà tôi như là người chị của chú.

Không cần đắn đo suy nghĩ, Minh đáp:

- Xin vâng.

- Vy là xong, ơn này tôi s không bao gi quên.

Đoạn đại tá về tư dinh nói với vợ:

- Anh phi li chiến đu đến cùng, đánh chn hu cho đoàn quân di tn. Chú Minh s đưa em và con đi máy bay v Nha-Trang ri tìm đưng v Saigon. Ch còn mt chuyến bay quân s cui cùng. Phi đi ngay mi kp. Vy em thu xếp hành trang đi vi chú, chú s lo cho hai m con.

Nói đoạn, ông rưng rưng ôm hôn vợ một cách thắm thiết như là sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại nhau nữa. Đoạn ông bế bé Quân, cúi xuống hôn lên má con, bé còn ngủ, mắt vẫn nhắm nghiền. Đoạn trao lại cho bà. Tội nghiệp! Bà Quốc gục vào vai chồng khóc sướt mướt, bịn rịn như không muốn rời chồng ra. Nhưng đại tá giục:

- Anh yêu em và thương bé Quân lm. Nhưng tình hình cp bách lm ri, em thu xếp mà đi ngay, chúc em và con đi bình yên. Nếu anh còn sng thì chúng mình s gp li nhau sau. Xin Thưng Đế phù h chúng ta.

Đại tá Quốc vừa nói xong thì Minh đến. Tội nghiệp cháu bé còn đỏ hon hỏn, được mẹ cháu quấn khăn bồng đi theo chú Minh. Đích thân đại tá Quốc lái xe Jeep đưa vợ con và Minh ra phi trường Pleiku. Khi máy bay cất cánh, ông còn đứng tần ngần nhìn theo cho đến khi phi cơ bay lên cao, lên cao mãi, rồi mất hút vào đám mây trắng bềnh bồng trên không. Cứng rắn như ông mà sao mắt cũng hoen mờ ngấn lệ... Ông thẫn thờ ra xe, nổ máy theo thói quen, rồi lái đi trong khói lửa mịt mù… Trong đầu ông, ngay bây giờ, những việc đầu tiên phải làm là: Cho binh sĩ dưới quyền, ai muốn đi theo ông cầm cự đến cùng, còn ai muốn về nhà thu xếp đưa gia đình di tản thì cứ việc tự nhiên, vì đã có lệnh di tản. Xa xa, tiếng đại bác của Việt Cộng không ngừng rót vào vòng đai tỉnh lỵ, ầm ầm, đinh tai nhức óc…Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau chạy…Quang cảnh của một cuộc chiến tương tàn, thật là tang thương!

Khi phi cơ đáp xuống phi trường Nha-Trang, Minh xách cái vali nhỏ, còn bà Quốc ẵm con, bơ phờ bước xuống. Minh đưa mẹ con bà Quốc về tạm trú tại nhà người bà con, và đi tìm đường về Saigon.

Lúc này, muốn đi máy bay về Saigon cũng không thể nào mua được vé nữa, mà đi xe đò thì nghe nói đang đánh nhau ở quãng đường ngang qua rừng lá. Vậy thì chỉ còn cách ra Xóm Bóng, đi thuyền vào Vũng Tầu rồi vào Saigon.

Chiều hôm ấy, nghe nói có chiếc phà chở đồng bào tị nạn từ Đà nẵng vào biển Nha-Trang. Minh chạy ra xem tình hình thế nào, nếu có thể được thì xin đi nhờ vào Saigon hơn là đi thuyền. Nhưng ra đến nơi, thì: Giời ơi! Người ta đang khiêng xác người lớn và trẻ em cứng đơ lên bờ, đặt nằm hàng hàng lớp lớp như là mới đánh được mẻ cá thu về. Trẻ em thì chết vì đói khát và ngạt thở vì người lớn chen chúc nhau đứng chật một phà, mà các em lại thấp bé, chỉ đứng lúp xúp ngang hông người lớn mà thôi, không đủ không khí để thở. Còn những người già yếu thì vì trời nắng chang chang, mà con phà trôi lênh đênh giữa ngoài khơi suốt từ Đà Nẵng vào thì chịu sao cho thấu! Thật là tội nghiệp và thương tâm quá! Trên bộ thì những người bồng con bế cái, lếch tha lếch thếch, gương mặt thất thần, mếu máo khóc lóc vì đã lạc mất người thân, hoặc chết trên con đường di tản…Họ chạy từ Buôn-mê-thuột, thoát được về đến Phú Bổn rồi về đây. Chính quyền địa phương cho họ tạm trú tại các trường trung học và tiểu học, đông lắm. Như vậy thì Kontum, Pleiku và Buôn-mê-thuột đã mất rồi ! Không hiểu tính mạng đại tá Quốc ra sao. Bà Quốc chỉ còn biết ngồi mà khóc…

Minh bàn với bà Quốc, đành liều ra Xóm Bóng đi thuyền vào Vũng Tầu hay Phú Quốc vậy.

Ngay sáng sớm hôm sau, Minh thuê xích lô chở mẹ con bà Quốc ra bến cầu Bóng. Ra đến nơi, trên bờ thì người đứng lố nhố, lần lượt xuống thuyền thúng chèo ra ghe lớn đậu bập bềnh, mấp mé mặt nước vì chở nặng. Từ hồi nào đến giờ, bà Quốc mới nhìn thấy cái cảnh ghe thuyền nhớp nháp, bập bà bập bềnh mà ghê. Minh phải dìu bà xuống, tay bà vẫn ôm chặt cháu Quân. Tội nghiệp cháu bé, mới hai tháng tuổi đã phải chạy loạn rồi. Ba người ngồi trên một chiếc thuyền thúng, được một cậu con nhà thuyền chài, nhanh nhẹn chèo ra ghe lớn một cách thành thạo. Từ chiếc thuyền thúng mà bước lên cái ghe tròng trành trên mặt nước rất khó. May mà có Minh nâng đỡ dắt dìu lên chứ nếu không thì bà chẳng biết làm sao trong lúc này.

Ghe lèn người chật ních như cá hộp vậy. Lát sau, ghe nhổ neo, rồi cái trước cái sau nối đuôi nhau lênh đênh ra cửa biển… Đứng trên bờ nhìn ra khơi, trông chẳng khác gì những chiếc lá tre trôi dạt ra xa. Hơn một ngày một đêm, ghe đến Vũng Tầu bình yên. Minh đưa mẹ con bà Quốc lên bờ, vào thuê một phòng trong khách sạn ở Bãi Sau. Ngủ qua đêm, sáng hôm sau, nghe radio loan tin tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng địch quân vô điều kiện, thì bà Quốc khóc oà lên. Minh vội chạy ra bờ biển xem tình hình thì thấy đồng bào ùn ùn kéo nhau xuống một chiếc phà của ông Thiếu tá nào đó chở vợ con ra khơi, vì nghe tin có tầu Mỹ đón. Vậy là Minh chạy như bay về, tay xách va-li, tay lôi bà Quốc chạy ra biển chen lên chiếc phà đã đầy người. Lúc ấy Cộng quân đã kéo vào đến Biên Hòa và đang trên đường thẳng tiến vào Saigon. Ông Thiếu tá vội nhổ neo, lái phà ra khơi, thì may thay, được tầu Mỹ vớt.

Trên tầu, thủy thủ thả thang dây xuống cho người lớn leo lên, trẻ em và những người đàn bà ôm con nhỏ được ngồi vào rọ, kéo lên tầu. Cuộc cứu vớt mất hơn hai tiếng đồng hồ thì hoàn tất. Lên đến nơi là thoát nạn, kẻ mừng, người khóc vì còn kẹt lại người thân trong vòng lửa đạn…

Con tầu to lớn chạy êm ru trên đại dương, đưa dân tị nạn VN đến miền đất bình yên.

Cũng may mà bà Quốc cho con bú chứ nếu không thì những lúc chạy loạn như thế này, cháu bé sẽ khát sữa mà chết. Trên tầu, thỉnh thoảng bà vạch vú ra cho con bú, hai bầu vú sữa căng tròn, trắng nõn, bú no, cháu bé nhả vú ra, đôi nhũ hoa mầu hồng hồng. Minh nhác thấy, vội quay đi, còn người đàn ông ngồi kế bên nhìn, khiến bà bẽn lẽn cài khuy áo lại, ôm chặt con vào lòng, hôn lên má con. Mùi da thịt thơm tho của con khiến bà liên tưởng đến hơi hướm của chồng. Bà nghĩ, giá mà ông cùng đi với mẹ con bà thì bây giờ đã được bình yên trên con tầu này rồi, nhưng ông là một chiến sĩ can trường, không tham sống, sợ chết. Ở lại tử thủ. Thật đáng kính phục vô cùng. Bà thì thầm cầu nguyện cho ông thoát vòng lửa đạn. Cầu xin Trời, Phật phù hộ độ trì, cho gia đình bà sớm được đoàn tụ.

Tầu về bến, từng đoàn xe Bus chở ngườ tị nạn đến tạm trú tại những căn lều vải đã căng sẵn tại Camp Pendleton. Mẹ con Bà Quốc và Minh khai chung một hộ.

Phải công nhận, nước Mỹ và quân đội Mỹ, chẳng những đã nhân đạo mà còn chu đáo một cách tỉ mỉ. Họ giúp người tị nạn từ A đến Z. Phát quần áo, chăn, màn, thuốc men.v.v.. Rồi ngày ba bữa ăn: Sáng, trưa, chiều. Và còn đủ thứ bánh kẹo và trái cây tươi nữa.

Ngày ngày, Minh ra xếp hàng lĩnh cơm đem về cho bà Quốc ăn. Ai cũng tưởng bà Quốc là vợ Minh. Nhưng Minh chẳng cải chính, cũng chẳng cho ai hay bà là vợ ông Sếp của chàng.

Lều của Minh và bà Quốc số 9, gần căn lều số 8 của một ông Tướng. Tướng và quân sớm tối gặp mặt nhau, nhưng họ lờ đi như không hề quen biết. Tất cả đều mặc thường phục, lon lá đã gỡ đi rồi, thành ra cá mè một lứa. Chàng thường nói đùa với bà Quốc: “Lều của chúng mình số 9 là điềm lành, còn lều của ông Tướng số 8 là sui, nó giống hình cái còng. Câu nói đùa của Minh, khiến bà Quốc cười, lần đầu tiên mới thấy bà nở một nụ cười méo mó. Và lần đầu tiên Minh vô tình nói câu “chúng mình”. Sau những ngày long đong chạy loạn, đời sống mong manh, chẳng hứa hẹn một ngày mai tươi sáng. Nhưng bây giờ được nằm đây, trong những căn lều vải mỏng manh nhưng an toàn. Đêm đến, những ngọn đèn điện ở chung quanh trại, soi sáng mờ mờ vào lều. Căn của Minh và bà Quốc có hai cái gường vải, loại giường dã chiến. Giường bên kia bà Quốc nằm nghiêng, ôm con ngủ. Còn giường bên này thì Minh nằm. Bà Quốc đã ngủ say, tiếng ngáy se sẽ, hơi thở đều đều…Còn Minh vẫn trằn trọc, khó ngủ. Thỉnh thoảng, chàng ngồi nhỏm dậy, ngó sang bên giường bà Quốc, rồi lại nằm xuống thở dài…Nghĩ cũng tội cho Minh, một thanh niên khoẻ mạnh, cường tráng mà phải đóng vai ông Từ, giữ gìn an ninh cho vợ Sếp, người đàn bà trẻ đẹp, chẳng khác nào như “cám treo, mà heo nhịn đói”. Thao thức mãi rồi chàng ngủ thiếp đi cho đến sáng.

Sinh hoạt trong trại thật là ồn ào, họ gọi nhau đi xếp hàng vào bếp lấy thức ăn sáng. Thôi thì đủ mọi thành phần, người trí thức có, đàng hoàng tử tế có, bình dân có. Và có cả thành phần lưu manh ăn nói bỗ bã, văng tục và chửi thề luôn mồm, và còn tham lam nữa. Ấy là vừa trải qua một cơn binh biến hãi hùng như thế, vậy mà họ vẫn còn tham.

Lần lượt từng người, đưa khay ra nhận thức ăn rồi đem về lều, rồi lại ra xếp hàng lấy nữa. Nhưng ăn làm sao hết được những khay cơm đầy ắp những miếng trứng tráng, rau đậu, thịt thà, những hộp sữa tươi? Để đến nỗi những người xếp hàng sau thì hết phần.

Ông Đại tá chi huy trưởng lấy làm lạ, vì đã tính dư, mà sao vẫn thiếu? Ông bèn đi quanh trại, kiểm soát một lượt, thì ra dân tị nạn ăn sang, họ chỉ lấy mấy trái cam, trái táo mà thôi, còn cơm thì đổ vào thùng rác.

Thấy vậy, một người VN hiến kế: “Phát vé khẩu phần”, mỗi bữa, mỗi người chỉ được một vé. Vé trao, cháo múc. Không thể lấy hai, ba phần được nữa. Từ đó mới hết nạn đổ cơm đi. Nhưng một số đồng hương mình tinh ranh, dò biết được người có sáng kiến đó là ai, nên hùa nhau đánh ông ta một trận. May nhờ có lính Mỹ can ra và để ông ta ở riêng một nơi an toàn hơn.

Chăn mền cũng thế, quân nhân Mỹ chất đống vào một góc nhà, để mỗi người lấy một cái mà dùng. Nhưng lại có người lấy hai, ba cái đem về lều cắt ra may áo ấm! Còn vấn đề vệ sinh thì khỏi nói. Lúc đầu những quân nhân Mỹ làm, nhưng bừa bãi, dơ dáy quá đỗi…Họ phàn nàn: “Tại sao nước Mỹ lại rước cái của nợ này qua đây làm gì nhỉ?” Và từ đó, họ cắt đặt cho mỗi gia đình tị nạn phải dọn dẹp một ngày.

Thấm thoắt mà Minh và bà Quốc đã ở trong trại được 6 tháng. Cháu Quân đã biết ngồi, và bà Quốc vẫn ngày ngày trông tin chồng…

Một hôm, có giấy từ trên văn phòng báo cho bà Quốc biết là có một họ đạo ở Seattle, thuộc tiểu bang Washington State bảo lãnh gia đình bà ra trại. Vậy là Minh và bà Quốc thu xếp khăn gói để ra ngoài làm ăn…Hồ sơ của hai người vẫn khai đúng sự thực là chồng bà Quốc là đại tá, hiện giờ chưa biết sống chết ra sao. Còn Minh thì khai độc thân.

Thật là may mắn cho Minh và bà Quốc, các giáo hữu trong họ đạo này tử tế và chu đáo quá! Họ đã thuê sẵn cho gia đình bà Quốc một căn chung cư hai phòng ngủ và hai phòng tắm, có phòng khách và bếp núc hẳn hoi. Và sắm cho đầy đủ đồ đạc trong nhà và đồ dùng trong bếp, nghĩa là không thiếu thứ gì.

Bà Quốc có con nhỏ thì được ăn tiền trợ cấp xã hội. Còn Minh thì nhà thờ cho chiếc xe hơi cũ để lái đi làm lao động vinh quang... Nhờ Trời và nhờ lòng hảo tâm của họ đạo, đời sống mới của gia đình bà Quốc và chú em cũng tạm ổn định. Người lối xóm nhìn vào, tưởng lầm là hai vợ chồng.

Người Mỹ có câu: “Đời sống là phải có: “Cơm ăn, áo mặc, nhà ở và…tình yêu. Thiếu một trong những thứ này thì không phải là đời sống”. Đúng vậy. Nhưng đâu phải ai cũng có tình yêu chân thành? Bà Quốc có tình yêu, yêu chồng thì hiện thời chẳng biết ông ở đâu? Còn sống hay đã chết? Bà sống khắc khoải trong nỗi nhớ thương, sầu muộn. Còn Minh, đã lâu lắm rồi, chàng cũng có một mối tình lãng mạn của tuổi học trò, nhưng nó chỉ cháy bùng lên như ngọn lửa rơm rồi tắt ngấm. Bây giờ, hình như là chàng đang yêu, yêu say đắm người vợ của cấp trên mà chàng được gửi gắm trông nom. Hằng ngày, chàng vẫn gọi nàng là cô, và xưng em. Nhưng mối tình câm âm ỷ cháy ở trong lòng người thanh niên cường tráng, sung sức. Nhất là những đêm mưa rả rích, mưa ngoài trời mà như mưa trong lòng chàng... Có những lúc, cơn bão lòng bùng lên, nhưng chàng cứ phải đè nén xuống. Khổ vô cùng.

Tháng năm dần trôi, thấm thoắt mà bé Quân, nay đã đến tuổi cắp sách đến trường. Bé quyến luyến chú Minh như người cha, và Minh cũng yêu cháu như con.

Vào một đêm giông bão, gió ù ù thổi, cây cối ngả ngiêng, quật vào mái nhà rầm rầm khiến bà Quốc sợ, gõ cửa phòng Minh, báo cho chàng biết là có bão lớn lắm. Minh mở cửa ra, ôm lấy bà Quốc, trấn an: “Đừng sợ, đã có Minh đây”. Hơi ấm từ người bà Quốc chuyền sang người Minh, bỗng chàng cảm thấy trong lòng rạo rực, thân thể nóng bừng, bèn cúi xuống hôn nàng, nụ hôn nóng bỏng ấy làm người bà Quốc mềm nhũn ra, mắt nhắm nghiền. Lúc ấy Minh như con hổ đói vồ mồi, đè bà xuống giường, hơi thở dồn dập, luồn tay vào cạp quần bà kéo xuống nhưng không được vì quần thắt dải rút chặt quá! Giữa lúc Minh còn đang lúng ta lúng túng thì, do bản năng tự vệ, bà vùng lên, đạp Minh ra. Nhưng hai cánh tay cứng như thép của Minh ôm ghì lấy bà, nhất định không chịu buông. Bà phải cào cấu, chống cự mãnh liệt lắm mới thoát khỏi vòng tay Minh, rồi vừa khóc vừa chạy về phòng mình, cài cửa cửa lại cẩn thận.

Bà Quốc chạy về phòng rồi, Minh còn bàng hoàng như người vừa tỉnh cơn say…Chàng đặt tay lên ngực như để trấn tĩnh cơn hoảng loạn vừa qua…Lát sau, khi đã bình tĩnh trở lại, chàng vặn nhỏ cái radio trong phòng, nằm nghe tin tức về cơn bão đang hoành hành dữ dội… Thảo nào mà bà Quốc sợ. Bây giờ nghĩ lại, chàng mới cảm thấy mắc cỡ về hành động điên rồ vừa qua…

Sáng hôm sau, Minh dậy sớm, rón rén mở cửa đi làm, và chiều hôm ấy Minh đi ăn cơm tiệm chứ không về nhà ăn như thường lệ. Ở nhà, bà Quốc vẫn chờ Minh về ăn cơm, nhưng không thấy chàng về, bà nghĩ là Minh làm thêm giờ phụ trội, bèn để phần cơm. Mấy ngày liền như thế, cháu Quân có hỏi sao không thấy chú Minh về ăn cơm, thì bà bảo chắc là chú đi ăn cơm khách. Nhà chỉ có ba người, nay thiếu một người, bầu không khí gia đình bỗng nhiên vắng vẻ, buồn thiu.

Hôm sau, bà chờ Minh đi làm về để nói chuyện với chàng, nhưng hơi thở Minh sặc mùi rượu. Bà biết là chàng uống để quên đi niềm day dứt, hối hận ở trong lòng vì cử chỉ điên rồ đêm kia… Bà đi pha cho Minh ly nước cam để chàng uống cho giã rượu, và bảo chàng ngồi xuống để bà nói chuyện. Minh rụt rè ngồi xuống. Bà Quốc vào đề:

- "Cô hiu, đêm y Minh say rưu nên không biết vic mình làm. Cô không chp em đâu. Thôi, mi vic hãy cho qua đi, cô vn thương em như trưc.

Nghe bà Quốc nói, chàng ngượng ngùng, ngước mắt lên nhìn bà, nói đôi lời xin lỗi. Bà Quốc mỉm cười hài lòng, vỗ vỗ vào vai Minh một cách dịu dàng như người chị an ủi vỗ về người em. Kể từ hôm ấy, Minh đỡ ngượng và lại sinh hoạt như bình thường.

Tháng ngày qua mau, mới đấy mà đã mười lăm năm. Mười lăm năm trời đằng đẵng, mỏi mòn chờ tin ông, bà đã viết rất nhiều thư về VN, hỏi thăm những người bà con trong họ, hoặc những người quen về tin tức ông Quốc. Nhưng chẳng ai biết ông ở đâu, còn sống hay đã chết.

Đời sống của gia đình bà Quốc vẫn đều đều trôi như một bản nhạc buồn… Minh vẫn đi làm và vẫn độc thân, còn bà Quốc ở nhà cơm nước, sáng sáng đưa con đi học, chiều đón về. Lúc đặt chân lên đất Mỹ, bé Quân còn ẵm ngửa, vậy mà nay đã trở thành cậu học trò thông minh lanh lợi. Hứa hẹn một tương lai tốt đẹp.

Bỗng có một tin quan trọng, làm bừng lên sức sống của những gia đình chia ly như gia đình bà Quốc: “Mỹ điều đình với chính quyền Việt Cộng (đổi chác gì đó), cho tù nhân chính trị, những quân, dân, cán, chính đã bị giam cầm trong các trại tù cải tạo, trả tự do cho họ, và cho phép họ đi Mỹ định cư...”

Dạo này Minh thường than mệt mỏi, da vàng và người gầy sọp đi, bà Quốc rất lo, săn sóc Minh tử tế và khuyên Minh nên đi bác sĩ khám bệnh xem sao. Bác sĩ thử nghiệm, cho biết chàng bị ung thư máu, nhưng là thời kỳ đầu. Nếu được ghép tủy sớm thì sẽ chữa lành, và ghi tên chàng vào danh sách chờ được hiến tuỷ.

Vào đầu thập niên 1990, đã lác đác có những cựu tù nhân chính trị được qua Mỹ theo diện H.O. Các báo Việt ngữ đều loan tin vui, bà Quốc tuy mừng nhưng cũng chẳng hy vọng chồng mình còn sống mà sang đoàn tụ với bà. Ấy vậy mà một hôm bà nhận được điện tín của chồng:

“Đón anh tại phi trường LX, ngày…giờ…ký tên: Quốc”.

Cầm tờ điện tín trong tay mà bà tưởng như mình nằm mơ. Và cũng không tin ở mắt mình, bà bèn đưa cho Minh đọc. Đọc xong, Minh nói: “Đúng rồi, thưa cô. Em thực lòng mừng cho đại tá và cô”.

Ngày cựu đại tá Quốc sang, Minh lái xe chở mẹ con bà ra phi trường Los Angeles đón ông. Ôi! Không gì mừng bằng được đoàn tụ gia đình sau bao nhiêu năm trời xa cách, nhớ thương. Ông Quốc như người được tái sinh. Tuy ông gầy và đen đi nhưng trông vẫn rắn rỏi như xưa. Ông ôm hôn vợ con mà nước mắt rưng rưng…Quay qua Minh, ông bắt tay chàng thật chặt và nói lời cảm ơn về những gì chàng đã làm cho gia đình ông. Qua cơn xúc động, Minh lái xe đưa gia đình ông bà Quốc về nhà. Sau khi ăn bữa cơm chiều đoàn tụ, ông bà ngồi chơi xơi nước ở phòng khách, cháu Quân ngồi bên cha, ông âu yếm ôm con vào lòng, hỏi han về chuyện học hành.v.v…Quân vẫn còn bỡ ngỡ nhìn cha như nhìn người xa lạ. Bà Quốc phải giải thích cho con hiểu những gì đã xẩy ra cách nay mười lăm năm từ lúc con mới có hai tháng tuổi…

Đêm ấy, hai ông bà nằm bên nhau, thủ thì chuyện trò, kể lể cho nhau nghe biết bao nỗi nhớ niềm thương, những điều chua xót đắng cay trong trận chiến cuối cùng, và suốt thời gian ông bị giam cầm trong trại tù lao động khổ sai…Nghe xong, bà gục đầu vào vai ông, thổn thức với ngàn giọt lệ rơi !...

Sáng hôm sau, bà cho ông biết là Minh bị ung thư máu, đang chờ người cho tuỷ. Đã có mấy người quen đồng ý cho, nhưng không hợp. Ông Quốc mau mắn nói:

- “Vậy để anh đi thử máu xem sao, biết đâu máu của anh hợp với loại máu của Minh?

Nói là làm, ông Quốc đến bệnh viện ghi tên xin thử máu, không ngờ máu của ông lại hợp với máu của Minh. Thật là mừng hết sức. Bác sĩ hẹn ngày ông đến cho tủy. Ông y hẹn. Bác sĩ giải phẫu, lấy tuỷ ở xương hông của ông Quốc, ghép vào cho Minh một cách thành công. Minh bình phục mau chóng và được về nhà tĩnh dưỡng. Ông bà Quốc chăm sóc cho Minh ăn uống bồi bổ sức khoẻ, chỉ ít lâu sau là Minh lại đỏ da thắm thịt và đi làm việc được như thường.

Vào một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, ông Quốc vào phòng gọi Minh dậy để cùng đi ăn sáng với cả nhà. Nhưng không thấy Minh đâu. Bèn ra ngoài xem thì thấy xe của Minh vẫn đậu ở lề đường. Hai ông bà lấy làm lạ, bèn vào phòng xem lại một lần nữa thì thấy trên bàn ngủ, có một phong thư niêm kín. Ngoài bì thư đề tên ông. Ông mở ra xem, lời lẽ như sau:

“Kính thưa đại tá,

Những gì đại tá ủy thác cho em, em đã làm tròn trách nhiệm. Tuy nhiên, cũng có đôi lúc em đã làm phiền lòng cô. Chẳng những cô đã không chấp mà còn thương em, khuyên bảo em như một đứa em còn trẻ người non dạ, thiếu chín chắn…Trong suốt mười lăm năm trời, cô đã tỏ ra là một người mẹ hiền, vợ thảo, thắt lưng buộc bụng chờ chồng, nuôi con, một người đàn bà tiết liệt đoan trinh. Em thực lòng mừng cho đại tá có được người vợ thủy chung hiếm có.

Thưa đại tá, những gì em làm cho gia đình đại tá chẳng thấm vào đâu với việc đại tá đã cứu sống em. Ơn này, em xin ghi lòng tạc dạ.

Nay, nhờ Ơn Trên và nhờ phúc phận, đại tá đã may mắn được sang đoàn tụ với vợ con, thì có lẽ, đại tá không cần em đóng vai hộ vệ nữa. Vậy em xin phép được ra ở riêng.

Kính chúc gia đình đại tá được bình an, mạnh khoẻ và mãi mãi hạnh phúc bên nhau.

T.B. Cái xe hơi cũ, nhà thờ cho từ hồi em mới qua nhưng máy vẫn còn tốt. Nay đại tá mới sang, cần phương tiện di chuyển. Vậy em để lại cho đại tá dùng, và chìa khóa xe em để ở trong phong bì này.

Kính thư: Cựu trung sĩ Minh

Đọc xong thư Minh, ông Quốc có vẻ cảm động, đoạn đưa cho vợ xem. Bà tỏ vẻ ngậm ngùi, nói:

- Thôi, thế cũng phi, đ chú y ra riêng, hu có cơ hi gp ngưi đp nào đó mà lp gia đình. Ngn y năm tri, chú y vi m con em, khiến ngưi ta c tưng chú y đã có gia đình ri, vì thế mà chưa đưc cô nào đ ý đến. Cu mong cho chú y sm yên b gia tht.


____________________________________  




© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ HoaKỳ ngày 12.04.2013.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.