TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái;
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).




















THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN


Chân thành cảm tạ anh Thế Phong đã cho phép đăng tải.
Từ Vũ


lá thư E-mail 6 nhờ chuyển
_________________


P. Nguyen
8591 Mallard Ave.
Garden Grove - CA 92844





“Anh P. Nguyên,

“Cặp bút Parker, anh gửi tặng tôi, vẫn nằm trong ngăn kéo, chắc là chưa dùng tới. Nhớ vào năm 1996, Phan Diên về Sài gòn, anh gửi cho tôi một cuốn Agenda, và cũng một bút Parker bi. Tôi đang xài, nhưng vẫn chưa phải thay ruột. Trông thấy bút là nhớ đến anh, nhớ những ngày ở Sài gòn trước 1975, tối tối từ Tân Sơn Nhất đi xe Honda Dame ra ngoài nhà anh ở Cư xá Trương Minh Giảng – rồi chúng ta đến Đàm Xuân Cận, cả ba đến quán cà phê ở chung cư N.T.T nhâm nhi cà phê, cho đến 1975. Khi anh đi học cải tạo, tôi và Cận vẫn còn đến nơi này uống, nhắc lại kỷ niệm xưa của bè bạn, kẻ còn đây, người xa xôi lao lý. Đến tháng sáu năm rồi, tôi và Thanh Thương Hoàng đến khu cư xá này tiễn chân ông Phạm Xuân Thái, cựu Tổng trưởng Thông tin thời T.T Ngô Đình Diệm 1954-55 – Ngày 12 tháng 6, nếu tôi nhớ không lầm. Chúng tôi lại ngồi quán cà phê xưa kia ba chúng ta ngồi hằng đêm, nhưng chỉ còn một tôi – anh ở Huê Kỳ và Cận ở Úc không tìm ra địa chỉ. Ông Thái về Sài Gòn, chẳng biết có phải hồi hương không; trước đó ông ở Pháp rồi sang Mỹ. Lần đầu gặp ông sau mấy chục năm, Uyên Thao dẫn tới, ông không nhận ra. Và, tự giới thiệu với ông thế này: “Thưa cụ, thập niên bốn năm mươi gì đó, nhà tôi ở số 13 Paul Bert Dakao, cụ ở số nhà 15”. Ông Thái gật gật đầu, vẫn nụ cười thường trực trên môi – có lần tôi nhận xét về ông, qua vài dòng nằm đâu đó, trong cuốn sách nào, ông là mẫu người Việt Nam của Nguyễn Văn Vĩnh. Gì cũng cười được. Ông Thái thuộc vào lớp người Bắc vào Nam trước thế chiến hai, như trò chuyện râm ran, ông thuộc lớp người vào Nam không trở ra Bắc nữa, vì đuổi Tây quá đà – mất đà không thể trở về Bắc. Ông mở hiệu sách Tứ Hải, làm thông ngôn tiếng Anh trong số mục sư Tin lành đầu tiên ở miền Nam. Là mục sư, nhưng có đến ba, bốn bà vợ. Buổi tiễn đưa ông, trên gác ba chung cư, mục sư Phạm Xuân Thiều (cháu gọi ông bằng chú) chủ lễ đám tang. Trời hôm ấy lất phất mưa bay, Hoàng, Thao và tôi đưa ông một đoạn đường rồi trở về. Sở dĩ tự giới thiệu tôi với ông như vậy, bởi đã đọc một cuốn hồi ký của một nhạc sĩ hiện ở Mỹ, viết thời kỳ thập niên bốn mươi, ông Thái nuôi chàng ở số nhà ấy. Cuộc đời rồi cũng qua đi, như trang giấy khép lại. Và mất hút...
“Những sách anh nhờ mua về trận chiến Điện Biên Phủ, hiện nay rất hiếm. Nên đành ra Thư viện khoa học xã hội xin photo lại năm, sáu cuốn có ở đây gửi cháu đem về. Cũng may là Thư Viện này, tuy lệ phí có mắc, nhưng còn được phép photo, song nếu là Thư viện khoa học tổng hợp thật khó khăn và phiền phức. Anh muốn có bản photo ư; chỉ được chụp lại một số trang thôi. Còn nếu muốn chụp lại cả cuốn, phải có giấy phép của Cục Xuất Bản, kèm theo hợp đồng nhà in dự định ấn loát cuốn sách được photo đó. Kể cho anh nghe vui về cuốn Nếu anh có em là vợ đã gửi biếu anh, giấy phép của NXB Văn Học Hà Nội 1996. Tôi không còn một cuốn nào của mình trong tay, tủ sách ở cư xá Phi Long Tân Sơn Nhất bị lục tung, xé, ném bừa bộn trên sàn nhà. Còn có gì đâu –như buổi nào anh và tôi vào chở đồ đạc đã thấy. Nay muốn tái bản tập thơ không có bản thảo. Nhờ ông cò thư viện khó khăn nào cũng xong, ông Đỗ Văn Anh; lắc đầu đưa cho bản photo bài thơ chót Nếu anh có em là vợ. Vì cô Bùi thị Hương, trông coi phòng hạn chế rất khó khăn. May thật là may, gặp cô Hoàng Thị Ngọ, một tín hữu Cơ đốc thờ phượng ở Hội Thánh Trần Cao Vân (cô này là người yêu của Phạm Thiên Thư, nên có bài thơ đưa Ngọ về, Phạm Duy phổ nhạc). Cô làm ở Thư viện khoa học tổng hợp, được phép mượn đem sách về nên bèn trao cho tôi hai cuốn: Nếu anh có em là vợ và Tuyển truyện Thế Phong, đem đến tận nhà cho mượn, dặn: “không thể làm mất, chụp xong, hoàn trả ngay”. Nhìn tập thơ in ronéo vào năm 1959, cuốn thứ hai trong Tủ sách Đại Nam Văn Hiến còn hàng chữ ở trang hai: Tặng Thư viện Quốc gia với chữ ký to, ngông nghênh, chiếm cả khoảng lớn trang sách, nên mới có bản tái bản tặng anh đấy. Cô Hoàng Thị Ngọ sau ra ngoại quốc, theo diện được bảo lãnh, vẫn độc thân, người gầy, thanh tú; vẻ buồn ẩn chìm trôi nổi; chuyện tình chăng?. Thơ xuất bản rồi, chính người đã giúp mượn ở Thư viện lại không được tặng; tôi không biết địa chỉ của cô, ở Pháp hay Mỹ. Và nếu may, những dòng chữ vô duyên đến được dưới cặp mắt người, hãy coi như lời cảm ơn chân tình nhất của tôi đối với ân nhân. Chính điều này: đôi khi tôi khiên cưỡng làm vui, nhâm nhi cà phê với nhà thơ nổi tiếng Phạm Thiên Thư nhiều vợ lắm con, ở quán cóc nào đó – cũng còn là cách cảm ơn người tình đầu tiên của anh, cô Hoàng Thị Ngọ.

“Anh P. Nguyên,

“Tấm ảnh của anh chị và cháu Trân cùng chồng, kỷ niệm ngày vu quy của cháu Trân 10.10.98, vẫn để trước bàn viết. Ngay giờ phút đang viết thư cho anh đây. Rất nhớ, khuôn mặt anh chị, tuy có mập mạp hơn hồi ở quê nhà, cô dâu có đôi mắt xếch và sắc như dao, đẹp lộng lẫy – có cô dâu nào ngày cưới xấu đâu?. Nhưng cháu Trân vẻ đẹp tăng bội. Buổi tôi gửi tấm ảnh photo cháu Trân và Nhị Khê chụp chung ở nhà tôi trong Cư xá Phi Long; cháu Trân không nhận ra, vì cô bé ngày nào gầy guộc, lúc ấy không ai biết rằng hôm nay trổ mã, là cô dâu xinh đẹp, hớp hồn không chỉ chú rể thôi đâu. Có một bài báo viết về Sách Việt Nam trong Thư viện Mỹ (hay là đọc muộn bộ Cornell University Libraries, thư viện này có hàng ngàn bộ sách của tác giả hai miền Nam Bắc). Tôi viết ngắn vào năm 1994, theo yêu cầu của nhà báo Vĩnh Thắng (tuần báo Thanh Niên). Anh này, con rể nhà gia phả Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ – đưa cho Tổng biên tập duyệt; có chữ ký trên bài khoảng 1800 chữ (ghi đúng như vậy). Nhà báo cho biết cuối tuần đem báo tặng với bài in. Nhưng một, hai, ba tuần mất hút – rồi lần cuối đem bài hoàn trả, cho biết, mặc dầu TBT duyệt, nhưng Trưởng trang văn nghệ không duyệt (người này dưới quyền TBT), chậm đăng, đành hoàn lại người viết, với lời cáo lỗi. Tôi viết lại, như anh thấy đấy, cuối bài ghi Sài gòn 1994-98. Nay tôi xin phép được ghi tặng anh, với tên trước khi nhập quốc tịch Mỹ:

Thân tặng Nguyễn Văn Phát người bạn ở xa, tuổi lục tuần, dâu chưa có, rể đùm đề. Ông ngoại vẫn đi học, vẫn làm hai jobs; cho tôi một gương sáng khi bản thân tôi mỗi khi chần chờ như biếng nhác.

Cuốn thư tịch của Đại Học Cornell về tác phẩm văn học Việt Nam, gồm hai bộ sách chính. Bộ sau này gồm 7 tập, cuốn dày trên dưới 700 trang, mỏng 200 trang, mang nhan đề Cornell University Libraries (Southest Asia Catalog), (tạm dịch là Thư mục Đại học Cornell - Danh mục về Đông Nam Á). Còn bộ trước là A Checklist of the Vietnamese Holding … xuất bản ở Mỹ năm 1974. Tất cả hai cuốn này sưu tập khá đầy đủ các tác phẩm văn học, thi ca, văn chương,chính trị, kinh tế, địa lý (bản đồ), báo chí, dịch thuật, …, bản đồ Bắc kỳ và châu thổ sông Hồng Hà, đựa theo tài liệu của lái buôn người Pháp, Jean Dupuis từ 1883. Bài viết điểm sách về cuốn A Checklist Of The Vietnamese Holding đã đăng trên nhật báo Sóng thần (Sài gòn 1974). Thật ra lúc ấy tôi chưa biết rõ được ở Hoa Kỳ, nhiều thư viện có sách Việt của các trường Đại học như: Yale, Iowa, Nam Illinois (SIU), Maryland, Thư viện cộng đồng Iowa, Thư viện quốc hội Hoa kỳ…, có sách tiếng Việt…, và cũng chính thư viện sau cùng này có nhiều tài liệu văn học Việt Nam thuộc vào loại quý hiếm; mà sau đây sẽ phân tích cặn kẽ. Có mấy cụm từ chuyên môn:
Western Monograph ( Chuyên khảo viết bằng La tinh ngữ)
Vernacular Monograph (Chuyên khảo viết bằng tiếng địa phương)
Bộ thư tịch gồm 7 tập như đã nói ở trên, khổ 35 cm (thư tịch ghi khổ sách, tính theo chiều cao) :
Tập 1: Kê tên sách viết bằng La tinh ngữ (Western Monograph) về các nước Phi luật tân, Timor … (Asia, nói chung).
Tập 2: Indonesia, Lào, Mã lai, Singapore, Brunei.
Tập 3: Phi luật tân, Timor, Việt Nam, Thái và phụ lục về tác phẩm viết bằng Nga văn.
Tập 4: Chuyên khảo viết bằng tiếng địa phương của mỗi quốc gia (Vernacular Monograph) gồm: Indonesia, Mã lai, Singapore, Brunei.
Tập 5: Chuyên khảo viết bằng La tinh ngữ về các quốc gia Thái, Lào, Phi luật tân.
Tập 6: Miến điện (Burma), Campuchia, Việt Nam, Trung quốc, Nhật.
Tập 7 : Phân loại (sérials) nói về: Indonesia, Việt Nam, chuyên khảo về các loại báo chí, bản đồ.
Giáo sư David W.P Elliot trong bài giới thiệu, đã cho biết bộ sưu tập về Đông Nam Á còn gọi là Wason Collection (W.C) do hai người là Grok Po Oey sưu soạn vào 1971 và Marion Ross tiếp tục vào 1973, hoàn thành bộ thư tịch gồm hai tập. Tập trước: A Checklist of the Vietnamese Holding, xuất bản ở Mỹ 197?. Có thể nói rằng bộ sưu tập thư tịch này khá công phu, hoàn hảo, hữu ích; quan niệm có tiền làm được mọi sự chưa chắc đúng với công trình này. Bởi lẽ ngoài tiền ra còn phải có khả năng sưu tập, phân loại, đánh giá; cộng thêm bộ óc bén nhậy với sự thông minh tất có, và cả lòng nhiệt thành hăng say của hai vị Grok Po Oey và Marion Ross (một, người Hàn quốc và một, người Mỹ).

Trước khi phân loại, nói qua về tác giả Việt Nam (Hà Nội: H, Sài Gòn: S, Giải Phóng miền Nam: GPMN trước 1975) trên dưới 1000 tác giả. Riêng về Miền Bắc và GPMN: 183 tác giả, nhưng nhiều vị có từ 3 đến 4 ô riêng. Mỗi ô này sưu tập tên thật, biệt hiệu, năm sinh, năm qua đời (nếu có). Hãy lấy một thí dụ về tác giả Nhượng Tống (bút hiệu) có ghi thêm ô riêng như sau:
· Bảo Thần Nhượng Tống xem Hoàng Phạm Trân (1905-1949)
· Hoàng Kiếm xem Hoàng Phạm Trân (1905-1949)
· Nhượng Tống (bút hiệu) xem Hoàng Phạm Trân
· Mạc Bảo Thần - Nhượng Tống xem Hoàng Phạm Trân
Như vậy, ta biết Nhượng Tống có 4 bút hiệu, kèm tên thật, năm sinh và qua đời.
Hãy thêm một thí dụ về một tác giả có một bút hiệu. Thí dụ Hoàng Minh Giám xem Chu Thiên. Wason không chú thích năm sinh và năm qua đời (vì chưa sưu tập được chăng?). Chu Thiên (1913-1993). Bây giờ đến tác giả có tác phẩm được dịch sang Trung văn như: Nguyễn Duy Cần. Ô ghi Juan, Vei, Chun xem Nguyễn Duy Cần; hoặc tác giả Xuân Trường Hà Nội là Chi'in Chan hoặc Chen Yung Chi, đó là nói về Trương Vĩnh Ký, (Vietnamese scholar, nhà học giả Việt Nam) xem Trương Vĩnh Ký; ngược lại đối với Ba Kim, tác giả Trung quốc đã có sách sang Việt ngữ, Ô ghi: Ba Kim xem Li Fei Kan hoặc Bồ Tùng Linh xem Pú Sung Linh (1640-1715). Wason Collection có ghi một ô về một nhà văn kiêm nhà báo Thanh Thương Hoàng (S.) như sau: Quốc Oai see Thanh Thương Hoàng. Trong sách, cùng một tác giả, T.T.H cũng không ghi Quốc Oai là bút hiệu của ông – rất hiếm người biết, ngay cả người trong nghề, nhưng Wason Collection đã tiết lộ trước hết. Nhưng Wason Colection cũng có chỗ sai nhầm, chẳng hạn nói về Thế Phong (S.) ghi trong một Ô của 4 Ô: Trần Kiết Nô, 1933 see Thế Phong, bút hiệu (trang 468, tập 3). Như vậy cho ta biết Trần Kiết Nô và Thế Phong là một. Thật ra Trần Kiết Nô, tên một nhiếp ảnh gia nổi tiếng quốc tế (người Việt gốc Hoa), trước 1965 làm ở hiệu ảnh Văn Lan, Đà lạt. Nhiều tác phẩm của ông được giải thưởng quốc tế. Sự nhầm lẫn của Wason Collection bắt đầu từ Trần Kiết Nô chụp một ảnh chân dung TP; sau ảnh được in vào bìa bốn cuốn Lược sử văn nghệ Việt Nam (tập 4, có tên Tổng luận 60 năm văn nghệ (S.) 65), dưới ảnh ghi chú: Ảnh Trần Kiết Nô. Do đó Wason Collection nhầm hai tác giả là một. Về sự nhầm lẫn đối với tác giả Thế Phong, Wason Collection còn nhầm ở cuốn tiểu thuyết Tình sơn nữ của Thế Phong thành ra của Tchya (Đái Đức Tuấn). Tình sơn nữ, 140 trang, khổ 19 (Nhị Hà, Hà Nội, 1954) là của Đái Đức Tuấn (Tchya). Thật ra Tình sơn nữ, truyện dài khổ 19, 140 trang, Nhị Hà, Sài gòn xuất bản 1954 (Wason Collection đánh dấu hỏi, đề là Hà Nội); vì lẽ tác giả Tchya cũng có một cuốn truyện Tình sơn nữ xuất bản trước tiền chiến ở Hà Nội; nhưng không phải là Tình sơn nữ 140 trang.
Nhiều tác giả có nhiều bút hiệu khác nhau, nhưng Wason Collection không biết nên sắp ra thành nhiều ô khác (nếu Wason Collection biết là một, hẳn có chú thích). Xin nêu tên tác giả Nguyễn Quang Sáng (GPMN) có hai bút hiệu đều có sách trong bộ thư tịch Cornell - Nguyễn Sáng và Nguyễn Quang Sáng chỉ là một. Hoặc Anh Đức (H.) với Bùi Đức Ái là một.
Ở miền Nam khi ấy có một nhà văn Vĩnh Lộc và một tướng Vĩnh Lộc đều là tác giả. Vĩnh Lộc nhà văn sinh 1928, có nhiều truyện dài xuất bản, nhưng Wason Collection cho là một, đồng tác giả với tướng Vĩnh Lộc (S.). Hoặc Mặc Thu (S.) còn bút hiệu Chu Băng Lĩnh, ký trên tác phẩm Đảng Cần Lao; Nguyễn Mạnh Côn (S.) ký bút hiệu Đằng Vân Hầu; Phạm Văn Tươi (S.) ký bút hiệu Phạm Cao Tùng đều in trên sách. Còn nữa, Phạm Thanh (S.) ký Cử Tạ; Mai Anh và Vũ Mai Anh là một, nhưng với tác giả sau này, Wason Collection chia làm hai ô khác nhau, được coi như hai tác giả. Riêng hai tác giả nữ trùng tên Thiếu Mai. Thiếu Mai (Vũ Bá Hùng) (S.) khác với nữ tác giả Thiếu Mai (H.). Chưa hết, Nguyễn Bá Thế (S.) ký Nam Xuân Thọ; Nhất Hạnh (S.) thêm bút danh Dang Lu, B'su; Bàng Bá Lân (S.) còn là Hùng Thanh tác giả Tôi vào Nam (S.1955) cùng có tên trong bộ sách thư tịch Cornell, nhưng Wason Collection không biết Bàng Bá Lân và Hùng Thanh chỉ là một. Hoặc Kiêm Đạt (S.) là Khổng Xuân Thu; Nguyễn Văn Bổng (H.) và Trần Hiếu Minh (GPMN) là một. Thế Nguyên (S.), hai tác giả khác nhau nhưng Wason Collection cho là một. Thế Nguyên sinh 1908 tên thật Trần Gia Thoại và Thế Nguyên (S.) sinh 1942 tên thật cũng Trần Gia Thoại; Wason Collection sắp tác phẩm của hai thành một. Tác giả thứ hai Văn Quang (S.) tên thật Nguyễn Quang Tuyến (1933) không phải Nguyễn Quang Tuyến (S.1943) tác giả Quê hương rã rời; Nguyễn Hữu Nhật là Động Đình Hồ (S.); Vũ Bằng (S.) là Hoàng Thị Trâm; Tuấn Giang là Tuệ Giác (S.); Duyên Anh (S.) là Thương Sinh và Hồ Nam (S.) cũng có đến hai tên tác giả khác nhau: Hồ Nam tác giả Kỷ niệm Nghệ an bạo động xuất bản 1932 và Hồ Nam (S) tên thật Lê Nguyên Ngư, tác giả Nhận định về Chu Tử (Sài gòn 72) hoặc Phan Tứ (GPMN) và Lê Khâm (H.) là một; Tống Ngọc Hạp (S.) và nhạc sĩ Trần Bửu Đức cũng là một v.v…
Tập 6 gồm trên 600 nhà văn, nhà thơ của Bắc, Nam và GPMN.
Tập 7 sưu tập báo chí, bản đồ các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Tờ báo vào loại cổ nhất là tờ Gia định báo (1865-1900), L'Annam, L'Argus Indochinois (1927), La Cloche Fêlée, Đông pháp thời báo, Lục tỉnh tân văn (1920-1944), Cứu quốc, Chính luận (S.) từ số 1 đến tháng 4-1975), Thời Mới, Thủ đô Hà Nội (H.), Sài gòn Mới (S.), Sài gòn Mai (S.), Cách mạng quốc gia (S.), Le Vietnam Courrier (S.) (1964-73), Vietnam Press Sài gòn có từ 1957 đến các báo của các quân binh chủng (Lướt sóng, Lý tưởng (S.) hoặc các báo trung đoàn, sư đoàn (H.) do Wason Collection sưu tập lẻ tẻ đều có trong thư tịch.
Về bản đồ, có Map of Tonkin (Paris 1890) hoặc Petit Atlas de la Cochinchine 1927 của Alinot; Paul vẽ xứ Nam kỳ từ thuở Pháp mới đặt chân lên đất nước ta.
Tập 3 sách viết La tinh ngữ và Nga văn (về các nước Philippine, Timor, Vietnam). Riêng về Việt Nam có rất nhiều tác giả Việt Nam, Pháp, Anh vv… Thí dụ tác giả Việt Nam có Vũ Hoàng Chương (S.) 5 cuốn trong đó có Communions Poems - S.1960); Vũ Ngự Chiêu tức Nguyên Vũ, Wason Collection sắp đặt theo tên thật có một cuốn (Back from Hells - S, 69); Thái Văn Kiểm (S. 10 cuốn) ; Tố Hữu (H. 3 cuốn - Depuis, poèmes H.68); Nguyên Ngọc (H. 4 cuốn - The village shouldn't die. H. 66); Nguyễn Mạnh Tường (H. 4 cuốn); Nguyễn Mạnh Đan (S. 2 cuốn - Vietnam in flammes, Hong Kong 69); Nguyễn Kiên (H. 4 cuốn - L'Escalade de la guerre au Vietnam, H.65); Nguyễn Khánh Toàn (H. 1 cuốn); Nguyễn Khải (H. 1 cuốn) - Ceux de Concô, H. 66); Nguyễn Huy Tưởng (H.4 cuốn - The frontier campaign, H.62); Phạm Duy Khiêm (S. 4 cuốn - Le jeune femme de Nam Xuong, 1944); Thế Phong (S. 4 cuốn - South Vietnam, The Baby in the Arms of the American Nurse, poems, S.69 - A brief at the Vietnamese literary scene 1900-1956, critique S.74); Riffaud, Madeleine 1924 (1 cuốn - Dans le Marquis de Vietcông, 136 pages, illustrated.)…
Trở lại Tập 6, ngoài Miến điện (Burma), Trung quốc, Nhật, Campuchia đến Việt Nam, Wason Collection sắp theo thứ tự A,B,C - tuy cũng có tác giả được sắp theo tên thật - không hiểu tại sao Wason Collection lại làm vậy? (không giải thích, mặc dầu bút hiệu in trên sách). Thí dụ như Nguyễn Tường Tam chỉ ký Nhất Linh trên các tác phẩm, hoăïc Trần Khánh Giư ký Khái Hưng; Vũ Ngự Chiêu ký Nguyên Vũ … nhưng Wason Collection sắp tên thật, còn những tác giả khác vẫn sắp theo bút hiệu trên sách. Từ đây trở về sau, tôi chỉ ghi chú nơi và năm xuất bản sẽ biết được tác giả ở Hà Nội hay Sài gòn hoặc GPMN. Sau mỗi cuốn sách chỉ ghi H.72 xuất bản ở Hà Nội 1972, S.62 sách xuất bản ở Sài gòn 1962; GPMN 70 sách xuất bản ở vùng Giải phóng miền Nam năm 1970. Có tác giả ghi tên sách để độc giả dễ tra cứu, như tác giả Bùi Nhung (S. chồng của nữ văn sĩ Thụy An - Hoàng Dân) chỉ có một tác phẩm, cuốn Thối Nát (S. 65).

I. Các tác giả Miền Bắc () và GPMN gồm:

Anh Đức (1c: Hòn Đất, H.66); Bảo Định Giang (1c: Mấy vấn đề yêu nước, H.64); Bùi Bình Thi (1c: Ký sự Xiêng Khoảng, H.71); Bùi Đức Ái (2c: Một chuyện chép ở bệnh viện, H.63 - Biển Xa, H.61); Bùi Hiển (4c: Nằm vạ, H.58 , tái bản ), Bùi Ngọc Tân (1c); Bùi Văn Nguyên (1c); Ca Lê Hiến (1c: Tiếng gà gáy, H.65); Ca văn Thỉnh (1c: Thơ văn yêu nước Nam bộ, H.62); Cầm Biêu (1c: Thơ Miền Núi, H.62); Chế Lan Viên (5c: Những bài thơ đánh giặc, H.72); Chính Hữu (1c: Đầu súng trăng treo, H.72, in lần thứ hai); Chu Thiên (6c); Huy Cận (5c); Đặng Thai Mai (7c); Đào Duy Anh (6c); Đào Vũ (6c); Đinh Phong (1c: Rừng núi diệt thù, H.72); Hưởng Triều (1c); Hữu Mai (3c); Hoàng Kiên (2c: Mùa Làng, thơ, H.64); Lê Anh Xuân (1c: Hoa dừa (GP.72); Lê Bầu (1c: Thông Reo, H.62); Lê Đình Kỵ (1c); Lê Văn Thảo (3c: Đêm tháng Mười, GP 72); Nguyễn Công Hoan (15 c); Nguyễn Đình Lạp (1c: Ngõ Hẻm, tái bản); Nguyễn Đình Thi (6c: Xung kích, H.71); Nguyễn Đổng Chi (6c); Nguyên Hồng (6c); Nguyễn Huy Tưởng (5c: Sống mãi với thủ đô, H.61 - có bạt Nguyễn Tuân); Nguyễn Khải (1c); Nguyễn Khánh Toàn (1c); Nguyễn Khoa Điềm (2c: Đất ngoại ô, GP 72); Phan Cự Đệ (1c); Phan Tứ (3c: Mẫn và tôi, H.72); Phong Lê (1c); Phù Thăng (2c); Sóng Hồng (Trường Chinh) (1c); Thái Duy (2c); Thanh Hải (1c: Huế Mùa Xuân, thơ, GPMN 70) ; Thép Mới (1c); Thu Bồn (1c); Tô Nhuận Vỹ (2c: Người Sông Hương, GPMN 70); Trần Đức Thảo (2c); Trần Hiếu Minh (1c); Trần Thanh Mại (1c); Trần Văn Giáp (1c); Trần văn Giàu (1c: Chống Xâm Lăng, H.75); Trần Quốc Vượng (1c: Truyền thống Phụ nữ VN, H.72); Tố Hữu (4c); Tú Mỡ (4c); Vĩnh Mai (1c); Võ Huy Tâm (2c); Võ Nguyên Giáp (13c); Võ Trần Nhã (1c); Vũ Cao (1c); Vũ Hữu Ái (1c); Vũ Khiêu (1c); Vũ Ngọc Phan (3c); Vũ Tú Nam (2c); Xích Điểu (2c); Xuân Cang (2c); Xuân Thiều (1c)…. Tổng cộng trên một trăm tác giả (chính xác 110), không kể tác giả có hai bút hiệu mà Wason Collection không biết là một. Ba tác giả Miền Bắc có nhiều sách nhất trong thư tịch Cornell Trần Huy Liệu (46 cuốn); Nguyễn Công Hoan (15 cuốn); Võ Nguyên Giáp (13 cuốn)…. Nhưng cũng có nhiều ấn bản in lại trùng nhan đề của một tác giả.

II. Các tác giả Miền Nam() gồm:

Á Nam (Trần Tuấn Khải); An Khê; Anh Vương (Vương Hồng Sển); Anh Tuyến; Anh Việt Thu (nhạc); Bạch Diện, Bàng Bá Lân (có ghi cả bút hiệu khác Đồ Gàn); Bằng Phong; Bùi Giáng; Phillippe Bỉnh; Bùi Anh Tuấn; Bùi Bưu (Mai Đình nữ sĩ); Bùi Đức Tịnh; Bùi Kỷ; Bùi Nhung; Bửu Cầm; Bửu Kế, Bửu Dưỡng; Cao Hữu Huấn; Cao Văn Luận; Chấn Phong; Đặng Trần Huân; Đằng Vân Hầu (Nguyễn Mạnh Côn); Chu Băng Lĩnh (Mặc Thu); Cử Tạ (Tiếu Lâm VN, S.68); Của (Paulus); Đái Đức Tuấn; Cung Tích Biền; Đàm Quang Thiện; Đào Văn Hội; Diên Hương; Đinh Hùng; Đinh Tiến Luyện; Đinh Xuân Cầu; Đỗ Bằng Đoàn; Đỗ Hồng Ngọc; Đỗ Thúc Vịnh; Đỗ Trọng Huề; Đoàn Trung Còn; Đông Hồ; Động Đình Hồ; Doãn Quốc Sỹ; Du Tử Lê; Đức Nhuận (Thích); Dung (Sài gòn); Võ Hà Anh; Dương Kiền; Dương Nghiễm Mậu; Duy Lam; Duy Thanh (Wason Collection không biết tên thật là Nguyễn Khánh Thành); Duyên Anh; Giản Chi; Hà Huyền Chi; Hà Như Chi; Hạc Thành Hoa; Hồ Đình Phương; Hồ Hữu Tường; Hồ Nam; Hồ Xuân Tịnh (Chế Vũ); Hoài Khanh; Hoài Sơn (Huỳnh Thành Vị); Hoàng Bảo Việt; Hoàng Hải Thủy; Hoàng Ngọc Thành; Hoàng Ngọc Tuấn; Hoàng Phương (bút hiệu khác của Tuấn Giang, Tuệ Giác); Hoàng Thị Diệm Phương (Hoàng Hương Trang); Hoàng Trọng Miên; Hoàng Trọng Thược; Hoàng Trúc Ly; Hoàng Xuân Việt; Hợp Phố; Hư Chu; Hùng Lân (nhạc); Hùng Phong; Hùng Thanh (Bàng Bá Lân); Huy Sơn; Huyền Giang; Huy Tưởng; Huỳnh Khắc Dụng, Huỳnh Phan Anh; Huỳnh Phú Sổ (Sấm giảng toàn bộ của đạo Hoà Hảo); Huỳnh Văn Phú; Kiêm Đạt; Kiên Giang (Hà Huy Hà); Kim Định; Kiều Mỹ Duyên; Lam Giang; Lâm Trác Chi (Đông Hồ); Lan Đình; Lan Phương (bà); Lãng Nhân; Lệ Hằng; Lê Hương; Lê Hữu Mục; Lê Ngọc Trụ; Lê Tất Điều; Lê Thị Bạch Vân (bà Tùng Long); Lê Tôn Nghiêm; Lê Văn Thử; Lê Văn Trước; Lê Văn Hoè; Lê Văn Siêu; Lê Văn Trương; Linh Bảo; Lý Đại Nguyên; Lý Chánh Trung; Lý Đông A; Lý Hoàng Phong; Lý Minh; Lý Văn Sâm (KònTrô); Mạc Đình (tên thật là Hoàng Văn Chí); Mặc Đỗ; Mạc Ly Châu; Mặc Tưởng; Mai Anh; Mai Thảo; Mai Thọ Truyền; Minh Huy; Minh Quân (bà); Mộng Bình Sơn (Phan Canh); Mộng Trung; Mộng Tuyết (bà); Nam Xuân Thọ (bút hiệu khác của Nguyễn Bá Thế); Nguyễn Dữ, Nguyễn Du; Nghiêm Toản; Nghiêm Xuân Hồng; Nghiêu Đề (hoạ sĩ có viết văn); Ngô Thế Vinh; Ngô Tỵ Ngọc Linh (Sơn Linh); Ngọc Sơn; Nguyễn Bạt Tụy; Nguyễn Cao Đàm; Thiều Giang (Nguyễn Như Xuyến); Nguyễn Đắc Lộc; Nguyễn Đình Thiều; Nguyễn Đình Toàn; Nguyễn Đình Tư; Nguyễn Đức Sơn (Sao Trên Rừng); Nguyễn Duy Cần; Nguyễn Hiến Lê; Nguyễn Hoàng Quân; Nguyễn Hoạt; Nguyễn Mạnh Bảo; Nguyễn Mai; Nguyễn Minh Lang; Nguyễn Ngọc Huy; Nguyễn Ngọc Lan; Nguyễn Ngọc Mẫn; Nguyễn Q.Thắng; Nguyễn Tất Nhiên; Nguyễn Thanh Trịnh (sau 75 đổi tên Đoàn Thạch Biền); Nguyễn Thế Anh; Nguyễn Thị Thụy Vũ; Nguyễn Thiệu Giang; Nguyễn Quốc Trụ; Nguyễn Thị Vinh; Nguyễn Thiệu Lâu; Nguyễn Triệu Luật; Nguyễn Trọng Văn; Nguyễn Tử Quang; Nguyễn Tuấn Phát; Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam); Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo); Nguyễn Văn Cổn; Nguyễn Văn Hầu; L.M Nguyễn Phương; Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh); Nguyễn Văn Ngọc; Nguyễn Văn Sâm; Nguyễn Văn Toán (Toan Ánh); Nguyễn Văn Trung; Nguyễn Văn Xuân; Nguyễn Vỹ; Nguyễn Xuân Hoàng; Nhất Hạnh; Nhất Tuấn; Nhuệ Hồng; Phạm Công Thiện; Phạm Đình Khiêm; Phạm Đình Tân; Phạm Hoàng Hộ; Phạm Huấn; Phạm Trọng Nhân; Phạm Văn Diêu; Phạm Văn Sơn; Phạm Xuân Thái; Phạm Việt Tuyền; Phạm Xuân Tín (mục sư Tin Lành); Phan Bội Châu; Phan Châu Trinh; Phan Kế Bính; Phan Khoang; Phạm Mạnh Danh; Phan Nghị; Phan Nhật Nam; Phan Phát Huồn; Phi Vân; Phổ Đức; Phong Ngạn (Bình Nguyên Lộc); Phương Đài; Phong Sơn; Phương Duyên; Quách Tấn; Quốc Ấn; Qùy Hương (bà); Song Linh; Sơn Nam; Tạ Quang Khôi; Thạch Hà; Thái Bạch; Tạ Tỵ; Trần Phong Giao; Thái Văn Kiểm; Thanh Nghị; Thanh Lãng; Thanh Nam; Thanh Tâm Tuyền; Thanh Thương Hoàng; Thanh Việt Thanh; Thảo Trường; Thế Nguyên (1 và 2); Thế Phong, Thương Sinh (Duyên Anh); Thụy Ý (tức Lý Thụy Ý); Thượng Sỹ; Tô Kiều Ngân; Tôn Nữ Hỷ Khương; Trần Bích Lan (Nguyên Sa); Trần Dạ Từ; Trần Đức Lai; Trần Đức Uyển; Trần Khánh Giư (Khái Hưng); Trần Thái Đỉnh; Trần Thị Gia Minh (Tuệ Mai); Trần Thy Nhã Ca; Trần Văn Ân; Trịnh Chuyết; Trịnh Công Sơn (nhạc sĩ); Trần Văn Tuyên; Trụ Vũ; Trọng Lang; Truy Phong; Từ Kế Tường; Tuấn Giang; Từ Khánh Phụng; Tuấn Huy; Tường Hùng; Túy Hồng; Ưng Bình Thúc Giạ Thị; Uyên Thao; Văn Quang (1 và 2); Viên Linh; Vũ Ngọc Đĩnh; Vũ Ngự Chiêu (Nguyên Vũ); Vũ thị Mai Hương (bà Mộng Sơn); Vương Đức Lệ; Yên Bằng; Yến Nga …

Những tác giả có sách nhiều nhất ở miền Nam mà Wason Collection sưu tập được là Duyên Anh (47 cuốn); Nguyễn Hiến Lê (46 cuốn); Hoàng Xuân Việt (45 cuốn); rồi Mai Thảo (37 cuốn); Bình Nguyên Lộc (37 cuốn); Doãn Quốc Sỹ (30 cuốn); Hoàng Hải Thủy (trên 20 cuốn)… đến bà Tùng Long, Ngọc Linh, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Đình Thiều v.v...
Nhưng nên nhớ rằng có tác giả kể về cuốn thì nhiều; nhưng nhan đề sách lại trùng nhau đến 2,3 ấn bản; sự khác nhau là năm xuất bản.
Nhớ lại thời trước 1945, Pháp là mẫu quốc cai trị ba xứ Bắc kỳ, Trung kỳ và thuộc địa Nam kỳ; ngoài đồ cổ quý giá, vàng bạc thì sách được thâu thập thật nhiều gửi về mẫu quốc. Nên thư viện của Pháp chất đầy sách quý hiếm của ta, từ sách Hán văn, Việt văn, bản giấy dó vào thời kỳ trước 1945 khan hiếm giấy in, thư viện đều có và có nhiều ấn bản khác nhau. Đã có người viết nghiên cứu cho rằng ngồi ở bên Tây mà viết văn học sử Việt Nam còn đầy đủ hơn ở quê nhà; bởi các thư viện trải qua bao cuộc chiến, bao thời kỳ bị thất lạc, hư hao, mất mát. Những thư viện nổi tiếng của Việt Nam như Thư viện Trung ương (Bibliothèque Nationale), phố Tràng Thi Hà Nội, hay Thư viện quốc gia (Sài gòn - nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp), đường Lý Tự Trọng, Sài gòn, hiện không còn đầy đủ. Cũng có người du lịch qua Tây Đức, về cho biết thư viện bên ấy cũng có rất nhiều sách Việt. Nhưng, nay chúng ta thấy rằng không phải chỉ ở Đức, Pháp có nhiều; ở Mỹ có đến bốn, năm sáu thư viện lớn có sách tiếng Việt, điển hình là Thư viện Cornell (Ithaca-New York), một trong những thư viện nhiều tài liệu văn học, lịch sử Á Châu thật phong phú.

Sài gòn 1994 -1998


(S) : Sài Gòn - (H) : Hà Nội - GPMN : Giải Phóng Miền Nam



( còn tiếp ... )


THẾ PHONG

THƯ VIẾT Ở SÀI GÒN
do VĂN UYỂN xuất bản và phát hành

Điạ Chỉ Liên Lạc Mua Sách :
Nhà xuất bản VĂN UYỂN
PO Box 1882
San José, Calofornia 95109, USA
Email: ttbg@sbcglobal.net


© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC