TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





NGUYỄN HIỆP
















HẢI ÂU BAY MỘT MÌNH

Ông Sa bỏ vào túi con trai đồng cắc màu vàng rồi nói: “May mắn nha con!” Ông quay sang cô bạn cùng lớp của con ông: “ Chú tặng cháu đồng tiền may mắn, khi bí hãy cầm nó trên tay, nhắm mắt lại một chút, điều kì diệu sẽ xảy ra”. Cô bé đưa hai tay nhận đồng tiền rồi cúi đầu khe khẽ cám ơn. Tiễn hai đứa nhỏ vào cổng, ông Sa quay bước qua đường, ông ngồi xuống góc hiên nhà đối diện trường đại học. Nhiều phụ huynh đứng, ngồi, nhấp nhổm đợi con thi chật cứng một đoạn lề đường. Ông Sa mở chiếc túi dây rút màu nâu đất tay ông chạm vào Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse, liệu ba giờ đồng hồ chờ đợi những câu chữ này có giúp được ông?

… “ Những gì ta yêu

Và những gì khát vọng

Những gì ta mơ
Và những gì ta sống

Biết chăng… »

Đang đọc phần giới thiệu, đến chỗ người ta bình bài thơ cuối cùng của Hesse thì ông chợt chồm người đứng dậy bởi ba tiếng trống « khui đề » đanh gọn vang lên. Bầy chim bồ câu trong sân trường giật mình vỗ cánh, chao bay vồng lên , ngang qua cổng trường rồi đáp xuống chìm khuất trong cây lá xanh um, một góc bức hoạ lộng lẫy choáng ngợp bởi mảng xanh màu xanh lá cây non. Một cánh chim bồ câu nâu nhạt vụt lên muộn màng, bơ vơ chao đảo bay một mình, trông nó mỏng manh như trang giấy nhỏ nhoi bị đẩy đưa giữa cái không gian náo nhiệt, ngập ứ tiếng người và xe cộ. Cuối cùng rồi nó cũng thăng bằng, nghiêng một đường khẽ khàng vào lùm lá xanh màu xanh lá cây non, để lại trên đường bay của mình một vệt dài im lắng, một đoạn nhạc chỉ có dấu lặng kéo nhịp đến hết trường canh . Ông Sa chợt chìm đắm, tâm hồn ông tựa đang nối dài thành cánh chim đơn côi ấy, có lẽ đó là cánh chim hiện thân của một cánh chim khác, cánh hải âu trong tiềm thức của ông, nơi vùng biển heo hút, nơi đoạn bờ bãi mang hình vành trăng khuyết. Ngày ấy, ông bằng độ tuổi con trai ông bây giờ… « Những gì ta yêu/ Và những gì khát vọng… » Ông thì thầm đọc rồi từ từ ngồi xuống, ông nhìn vào trang sách nhưng không đọc được gì cả, mọi trạng thái của ông lúc này đã đột ngột bị che lấp bởi nguồn sống kí ức, hồn ông đã trôi về một nơi xa lăm lắm…

« Chiều thứ bảy, các bạn khác về nhà lấy gạo và tiền mua thức ăn cho cả tuần, Sa cũng thất thểu đi dọc theo bờ biển về nhà, từ nhà trọ về đến nhà phải hơn mươi cây số. Sa đi bộ về nhà, gọi là có chỗ để đi về chứ nhà chẳng còn ai, má đã « đi bước nữa », chẳng có gì, chẳng còn gì dành để cho một đứa con bị lạc lõng, bơ vơ. Tiền nhà trọ, các bạn đã «gánh» hết cho Sa, tiền ăn của Sa trông vào tiền công vẽ mành trúc, ngày nào cứ học về là Sa phải vẽ các mẫu không thay đổi ấy, quanh năm suốt tháng cũng chỉ : ba cô gái Bắc Trung Nam, chùa Một Cột, chùa Thiên Mụ, mái nhà tranh có hai cây dừa xiên lên trời xanh. Trưa nay, học về ngang Hợp tác xã mành trúc, Sa ghé vào hỏi tiền anh bạn lớn tuổi, người cùng làng, là người bày cho Sa vẽ và nhận việc cho, anh này nói : « Chưa có ». Sa đành tiu nghỉu ra về, tuần tới lại phải nhờ các bạn, nghĩ tới đó tâm hồn Sa chợt héo úa, tái tê, bãi biển chiều thứ bảy như chỉ có gió rít sóng gào…

- Mày đi đâu mà thất thểu vậy con trai ? Một lão ngư phủ người ngợm tanh ói rướn từ những cơn sóng vào bờ, nhìn chằm chằm dò xét rồi hỏi lớn làm Sa giật mình, «đúng là dân ăn sóng nói gió». Sa trả lời nhát gừng :
- Dạ, học
- Học gì đó mậy ?
- Hỏi lạ, học chữ chớ học gì.

- Cái thằng, hỏi « dậy » mà cũng nổi nóng. Mắt ông ta chợt quắc lên : « Con trai à, mày cứ học làm người cho giỏi đi, những thứ cần thiết sẽ khắc đến ». Sa chẳng kịp hiểu gì cả, trong bụng cảm thấy sờ sợ, hai bàn chân tự nhiên riu ríu chạy, thật sự khi thở hổn hển dừng lại, ngã xoài trên bãi cát, Sa cũng chẳng biết mình sợ gì, có thể là hai bắp tay quá vạm vỡ, có thể là cái kiểu ăn sóng nói gió của con người ấy, có thể là ánh mắt đỏ ngầu nắng gió… Sa sợ sự cô đơn, sợ phải một mình. Tuần trước, Sa về mở cửa bước vào nhà, vô tình anh đã thấy mẹ mình đang nằm ôm người chồng mới trên giường. Mẹ anh đã nhìn anh thở dài, còn anh thì hét lên và chạy ra khỏi nhà. Sa biết : anh đã không còn ai trên cõi đời này, sự nhận biết đó đã đốt cháy tim can anh, sau đó, anh như đi bằng đôi chân nặng nề lê thê kéo trên mặt đất. Sa vào lớp học nhưng thần hồn thì đã bỏ lại đâu đó, anh nghe giảng mà không hiểu gì cả, hàng loạt điểm kém ở các môn xuất hiện như có một cơn mưa gieo vãi những điều tệ hại nhất vào số phận của anh. Sa đã mang chứng sợ tất cả, có lẽ thế.

Rồi một thứ bảy, Sa rủ cô bạn gái cùng về, (có lần cô ta thấy Sa đi bộ tội nghiệp quá nên bao tiền cho Sa đi xe than, chiếc xe ép người như ướp cá, chạy cà giật cà giật như người say rượu, thỉnh thoảng anh lơ xe lấy que sắt đập, chọt vào nồi than phía sau làm chiếc xe rung lên bần bật, Sa chịu không nổi ói ra mật vàng mật xanh). Lần này, cô ấy lại thấy tội nghiệp bạn đành nhận lời, chớ thân con gái, dù là con gái miền biển đi nữa cũng ê ẩm với đoạn đường bộ hơn mười cây số. Sa với cô ta kết thân với nhau từ nhỏ. Hồi hè lớp chín, Sa định nghỉ học, cô ta lớn giọng can ngăn: « Ông ngu lắm, cả huyện, năm nay có mười một đứa được tuyển thẳng lên cấp ba; ông được vậy mà bỏ học hở, ông ăn trúng món gì mà ngu đột xuất vậy hở ? » Hè đó, cô ta nắm tay Sa lôi chạy lên đồi Sứ Trắng, cô ta lật một phiến đá thật to, móc một cái lỗ, nói lầm rầm một hồi rồi bắt Sa quỳ chân áp miệng xuống cái lỗ nói lời hứa của mình vào đó. « Hứa gì ? », « Hứa không bỏ học, hứa là hai đứa mình… » Cô ấy nói tới đó chợt đỏ rựng hai mang tai, đưa mắt nhìn bâng quơ cô ấy bỗng chộp được hình ảnh cặp hải âu đang bay lượn, mắt sáng rực lên rồi nói : « Hứa là sẽ bay đôi như cặêp hải âu kia.» Sa thực hiện xong, cả hai lật phiến đá lại chỗ cũ. Cô ấy nói : « Nếu có thay lòng đổi dạ thì nhớ đến phiến đá đậy lời hứa nha! »

Hai đứa lang thang trên dọc cát trắng phau… Những bước chân của hơn hai mươi năm trước giờ thoắt ẩn thoắt hiện trong đầu, đôi khi ông lơ đễnh nghe chính giọng nói của mình như nghe từ một người xa lạ,ï hoặc ngược lại, suốt thời gian dài, ông cư xử bằng các cảm xúc của quá khứ. Ông giận mình, giận cuộc đời, giận sự tự do trong run sợ và nhút nhát của chính bản thân ông khi bất đắc dĩ phải oằn mình giãy dụa trong cơn gió lớn mà số phần run rủi buộc ông phải đương đầu. Ông giận cuộc sống bằng cách cố lấp đầy khoảng trống của chính mình, đôi lúc ông tự nhủ : thật ra mọi sự cố gắng của con người trên trần gian này đều là cố gắng lấp đầy khoảng trống bên trong mình, nghĩ vậy ông thấy an tâm được chốc lát nhưng rồi đâu lại vào đấy, ông lại thấy buồn và giận mình. Tâm trí ông sẽ được yên khi dòng ngôn ngữ vấn tra dày vò kia chịu chấm dứt, nhưng đời nào cơn gió ngừng xô giật vàø cành cây khẳng khiu là ông lại ngừng bất an. Cánh chim hải âu đơn chiếc luôn chao đảo ngã nghiêng đã trở thành cái bóng lặng lẽ mà đầy sóng gió của ông.

Không phải tất cả các lời hứa trong đời một con người đều thực hiện được cả, dù anh là người trọng lời hứa đến mức nào. Ông đã hứa với vợ ông từ thời trẻ trung, phiến đá đậy lời hứa thiêng liêng và ngây thơ ấy chắc vẫn còn chỗ cũ, vẫn còn trên đồi Sứ Trắng. Ông hứa với mình : Khi con trai đậu vào đại học, ông sẽ rảnh rang, sẽ về nơi chốn ấy để nhấc phiến đá lên giải thoát cho một lời hứa không thể thực hiện trọn vẹn của mình. Điều đó thật đơn giản mà cũng thật khó khăn với ông, ông sợ mình sẽ không đứng vững trước nơi mang từ trường tình thương mạnh mẽ ấy, một nơi gợi nhớ nặng nề như vậy. Ông sợ cái cách lắng nghe con tim của mình, ông thường đổ lỗi cho tất cả mọi điều cuộc đời nhẫn tâm trút xuống đời ông. Đôi khi tiếng thở dài của một người nào đó đưa ta xuống địa ngục, ta trở nên thù hận, ta trở nên cay cú, ta uất hận và ta chai sạn, ta tưởng chừng trở thành một viên đá nhẫn tâm và tham vọng nhưng không giải thích được vì sao. Ta đã bị một cú đánh quá mạnh, bị dòng nham thạch đỏ lựng chảy tràn qua tâm hồn làm bỏng chai hết tất cả, ta điên tiết lao về phía trước, bằng mọi cách muốn chứng minh mình, ta vạch những đường hằn trong não bằng tất cả ý chí có được để chứa kiến thức, chẳng biết để làm gì, nhưng cứ điên lên những cơn điên ngắn như vậy thay vì phải chấp nhận một cơn điên dài là tự sát. Ta phi nhân tính và đã rã mất tự lúc nào.

Nguyên những năm tháng qua, ông Sa đã quên mất các loại cảm xúc của mình, dòng nham thạch đỏ lựng, nóng rát đã giúp ông ngốn rất nhiều sách vở Đông Tây kim cổ, ông đã già đi không hay biết, cái giá phải trả thật lớn lao, ông nhếch môi chua chát mỗi khi mường tượng đến một miếng vỏ cây nhăn nheo, một thùng nước thủng đáy, một kẻ vác đá đi lên đồi, một chiếc xe rời bến rồi lại rời bến mỗi ngày nhưng rốt cuộc tới một ngày mưa sa gió táp lại nhìn thấy mình đang nằm ủ ê một góc bến cũ, đi mà chưa bao giờ đến đâu cả.

…Ông cần đi học, cô ấy đã nuôi ông ăn học, ông cần làm người dịch sách, cần làm công việc của một trí thức, cô ấy gồng gánh hết mọi lo toan đời thường, cô ấy bỏ biển lên rừng, bất chấp cả nghề buôn gỗ lậu nguy hiểm, không cần đến sự chọn lựa nghề nghiệp. Cô ấy đã là vợ ông, đã sinh cho ông một cậu con trai có khuôn mặt sáng như thiên thần. Và buổi tối số mệnh của gia đình nhỏ bé đau thương, ruột rà duy nhất của ông đã đến. Sự hy sinh tận cùng của vợ ông đã đến hồi trả giá. Vợ ông hớt hãi chạy vào nhà, theo sau là tiếng quát tháo và những bàn chân rầm rập của bọn đầu trâu mặt ngựa, bọn quỷ dữ bảo kê cho một đường dây buôn gỗ lậu đang hoành hành thống trị cả vùng rừng núi này. Thằng đầu đàn có khuôn mặt và giọng nói mai mái chỉ vào mặt vợ ông, rít lên : « Mày dám cả gan giành mối gỗ của tao, mày thật có mắt như mù dám vuốt râu hùm hở ? ». Ông Sa đang còn đứng há hốc miệng bàng hoàng chưa biết chuyện gì xảy ra thì thấy vợ ông quỳ xuống vừa lết chân vừa lạy : « Tôi thật không biết nên mua chỗ gỗ đó. Tôi lạy các anh ! Các anh tha mạng sống cho tôi ! Tôi cần sống để nuôi chồng con tôi ăn học mà… Tôi lạy các anh ! Các anh cứ lấy chỗ gỗ đó. Thằng đầu đàn the thé giọng : « Đâu có dễ vậy con ! Bay đâu ! Cùm tay thằng chồng lại ! Ăn học hả ? Trí thức hả ? Cho nó biết nhục… » Nói chưa dứt câu, nó cởi phăng áo vất cho một thằng đàn em. Nó đè vợ ông xuống giữa nền nhà, trước mặt ông. Nó giựt phăng chiếc áo rồi tuột cả quần. Ông Sa nhào lên nhưng đã bị hai tên đàn em khóa tay lại. Ông đã điên lên, ông vùng vẫy, ông doạ sẽ giết bọn nó. « Giết nè con ! Giết nè con ! » Thằng thú vật ấy bấm mạnh hai bàn tay vào đôi vai trần đang run giật của vợ ông. Nó hùng hục như con heo sục cám. Ông đã bắt đầu ngã quỵ. Ông còn lao lên nhiều lần nữa, con thuyền cố vùng vẫy trong sóng dữ. Sợi dây neo xoắn lại bằng lòng uất hận, căng rạn xoắn cuộn. Phựt ! Và mảnh nối cuối cùng đã đứt phựt, mọi thứ bỗng tơi ra, rơi lả tả xuống dòng sông nước mắt. Ông đã khóc, bất lực gào khóc. Mắt ông nổ đom đóm tối sầm, mọi vật tối sầm, ông chỉ còn nhìn rõ mồn một chiếc nhẫn đeo trên ngón tay của hắn, chiếc nhẫn bạc hình con rắn. Ông ú ớ phều phào nguyền rủa : « Đồ rắn… độc… !». Thằng chó, thằng rắn đó vẫn đang hùng hục trên thân xác vợ ông. Ông không còn thấy gì cả, ông chỉ mang máng như vậy. Trong sự nhận biết mờ đục của ông chỉ còn hình ảnh chiếc nhẫn mang hình con rắn ngóc đầu đang cắn phập vào đôi vai vợ ông.

- Xong ! Thả ! Đi tụi bay ! Mày nhục chưa hở thằng trí thức ?

Ông chồm dậy mừng rơn, không kịp nghe câu nói sau của con ác thú ấy. Ông nhào tới thân xác vợ. Chắc vợ ông đã chết ?! Ông mang máng nhớ ra mọi chuyện. Ông gào lên : « Em ơi ! » Âm thanh ai oán kéo dài. Đúng ra là ông đang rú lên. Tay ông định ôm lấy đôi vai bất động của vợ nhưng vội rụt lại. Ông nhìn thấy chiếc nhẫn xoắn vòng hình con rắn. Ông rú một tiếng lớn xé toang đêm núi rừng hoang vắng, xé toang lồng ngực ông. Thật sự bây giờ ông mới trúng thương, trọng thương, ông xoài người ra giãy dụa. « Em ơi là em ơi !!! » Ông kéo tà áo rách che lên thân thể bầm dập, tái nhợt của vợ. Mắt vợ ông trợn dọc bất động. Ông đập mạnh vào ngực mình, ngửa cổ lên trời. Con thú trọng thương là ông chợt dồn hết sức tàn mà hú một tiếng kéo dài, kéo dài đến khàn dần, những tiếng « ơi, ơi », « ơ, ơ » khản đục, lạc dần, mất dần. Cái không gian đen quánh, quyện sệt xung quanh nuốt chửng thể xác, tâm hồn, linh hồn một gã đàn ông đang rã ra, lịm ngất bên cạnh một thể xác đàn bà đã tan rã từ lâu…

Tiếng trống thu bài trong sân trường vang lên đồng vọng. Bầy bồ câu lại giật thót người bay lên. Cánh chim câu đơn côi lại nghiêng nghiêng với đường bay đơn côi của mình. Ông Sa đưa tay dụi lau nước mắt. Ông chồm dậy hướng về phía cổng trường đại học. Khi cuộc sống của ta đã chết rồi, ta sống bằng đời sống của chính con ta, ông đã sống như vậy suốt thời gian qua vì thằng bé, vì chuyện ăn học của nó ông không được nghĩ tới điều gì khác. Cho tới tận bây giờ, nghĩ lại ông vẫn còn mừng là lúc ấy không có mặt thằng bé, nó học trọ trên trường huyện. Con trai ông và con bé lại song bước, ông thấy bàn chân chúng nhấc rất cao, vậy là chúng đã làm bài tốt lắm, kinh nghiệm một đời ăn học mách với ông như thế. Hai đứa nhỏ mười tám tuổi cứ quấn quýt bên nhau. Cô bé khoe với ông : « Nhờ đồng tiền may mắn của chú ». Ông gắng cười động viên chúng. Ông mừng vì thấy chúng có đôi, dù chỉ là đôi bạn. Chợt tự nhiên nỗi sợ hãi dâng lên trĩu nặng tim ông : Khi ta có hai người nỗi đau sẽ nặng lắm, sẽ nhân hai lần. Nỗi đau sẽ nhân hai lần… Ông lại bối rối quay mặt ra phía sau đưa tay dụi mắt : « ở đây, bụi dữ quá ! ». Từ ngày vợ ông hoá điên và qua đời, ông hay lẩn thẩn và chống chế kiểu như vậy, chắc là đã thành tật. Và cách nghĩ miên man trừu tượng sách vở của ông cũng thành tật. Tại sao phải nghĩ và nói đến Vĩnh cửu, Ước mơ, và những điều trừu tượng khác khi tâm hồn ta vẫn còn chìm trong dòng xoáy nghiệt ngã của uất hận ?! Cánh hải âu lại vẫn chao đảo không nguôi. Ông Sa biết đó là đường bay duy nhất giành cho mình. Cuối đường bay ấy là gì ? Không là gì cả. Hư vô. Nói rốt ráo và tri giác chủ quan thì nói là có cái gì đó, là ý muốn mong manh, duy nhất : Ông không muốn con trai ông có một vết bẩn nào trong tâm hồn, nó cứ trong sáng như đã từng trong sáng, nó cứ hiểu như đã từng hiểu « mẹ nó vì bệnh mà qua đời », bởi chính ông cũng đang cố sống bằng và bởi chính cuộc sống rạng ngời ước mơ kia. Khi tôi viết kể lại câu chuyện của người bạn thân thiết với tôi mang tên Sa trên đây thì cánh hải âu đơn chiếc tội nghiệp ấy đã thành ngọn-lửa-xanh-trê-trời, ngọn lửa xanh bước qua lời nguyền vĩnh viễn.


Dưới chân núi Tà Cú




NGUYỄN HIỆP


© Cấm trích đăng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả .




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC