Người Bạn 102 Tuổi Của Tôi











HGươm đầu năm 2013. Một sớm rét hại gió hàn. Chuông điện thoại reo. Đầu giây bên kia, giọng nữ Sài Gòn uyển chuyển dễ thương gọi tôi:

- Thưa bà có phi nhà văn Mai Thc không ?

- Em nói đi. Mai Thc đang nghe.

- Thưa bà, ông ni cháu là ha sĩ Dương Cm

- Ôi! Vui quá. Ông có khỏe không con? Ông năm nay đại thượng thọ.

- Vâng. Ông con tròn 102 tuổi.

Cô cháu chuyển máy. Họa sĩ Dương Cẩm Chương gọi tôi. Dăm năm nay, tôi chưa gặp lại ông. Vẫn giọng nói trong ấm, ngọt ngào, pha chút hài của chàng lãng tử Hà Thành.

Dương Cẩm Chương nói:

- Chào Mai Thục. Em có nhớ ngày này của năm 1994, em làm gì không?

Tôi thoảng xúc động:

- Dạ không. Em không muốn nhớ chuyện cũ mà anh.

Ông cười bảo:

- Hôm nay anh mở nhật ký đọc, thấy Mai Thục hiện lên nhiều quá. Ngày này của năm 1994, em nhận việc Tổng biên tập Báo Phụ Nữ Thủ Đô.

Im lặng một giây. Nghẹn ngào. Tôi nhớ lại. Cả cuộc đời Dương Cẩm Chương đã ghi nhật ký. Sáng nào ông cũng dậy từ bốn giờ sáng tập thể dục trí não bằng cách ghi nhật ký.

Tôi nâng niu hỏi thăm ông:

- Dạo này anh có đi vẽ ngoài trời không ạ?

- Anh ngồi xe lăn dạo vườn, tay yếu không vẽ được. Mỗi ngày anh dành vài giờ viết sách bằng cách đọc cho cháu nó viết. Anh gửi bưu điện ra Hà Nội tặng Mai Thục tập thơ vừa in xong… “Múa rìu qua mắt thợ”.

Trong máy điện thoại, tôi và ông hòa tiếng cười thanh thản. Trong sáng xuyên năm tháng. Chẳng thời gian, không gian.

Niềm xúc động lạ lùng. Niềm xao xuyến thiêng liêng tràn ngập trong tôi. Món quà vô giá của Thượng đế trao tặng tôi một người bạn nghệ sĩ thân thương 102 tuổi.

Bác sĩ, họa sĩ Dương Cẩm Chương quốc tịch Pháp, con trai thứ nhà chí sĩ yêu nước Dương Bá Trạc của Hà Thành đầu thế kỷ XX. Dương Cẩm Chương từng sống ở Sài Gòn, cả nhà sang định cư tại Paris từ rất lâu. Hai ông bà có một đàn con cháu sinh sống trên đất Pháp và khắp hành tinh.

Tết 1990. Ông cùng vợ là Thân Thị Ngọc Quế về Hà Nội. Ông dâng quê hương cuộc triển lãm tranh Tình yêu Non nước. Bà Quế dâng hai tập thơ thoảng màu Thiền, nhớ thương quê nhà, nơi chân trời tuyết lạnh. Bà sinh ra từ sông Hương núi Ngự.

Tại tầng hai ngôi biệt thự kiêu sa, cửa sổ luôn mở đón mây trời Hồ Gươm của ban Văn xã Báo Hà Nội Mới, Dương Cẩm Chương gặp tôi như gặp một Hà Nội thân thương, mà ông da diết nhớ một đời xa xứ.

Lúc này, Dương Cẩm Chương tuổi Tám mươi. Ông hiện lên trong đôi mắt cố Ni sư Thích Trí Hải ở một ngôi chùa Vũng Tàu: “Cụ là một bá tước, một nghệ sĩ, một họa sĩ, một thiền sư”.

Dù tôi bằng nửa số tuổi của ông, nhưng trong sự giao tiếp thân thương với tôi, ông là Anh Dương Cẩm Chương. Trẻ trung. Lịch lãm. Thánh thiện. Phong độ hào hoa. Nghệ sĩ. Tri thức uyên thâm. Trải nghiệm tình người, tình nước non, tình nhân loại bằng những triết lý giản dị thấm đẫm Phật pháp. Trong tôi, ông là một thế giới mới ùa tràn. Một chân trời xa chan hòa ánh sáng. Một người bạn lớn khó gặp trong đời.

Tôi yêu những bức tranh thắm đỏ màu son Hà Thành. Màu Văn hiến. Màu máu. Chen lấn bóng tối và ánh sáng của ông.

Sau đó, Tết nào Dương Cẩm Chương cũng về Hà Nội thăm con cháu họ hàng, về Mễ Sở- Hải Dương cúng giỗ Tổ tiên, cha mẹ. Dương Cẩm Chương và tôi trở thành đôi bạn thân thiện trong cả hai gia đình ông và gia đình tôi.

Ông cùng tôi dạo băm sáu phố phường, những mùa Xuân muôn sắc hoa. Vườn đào Nhật Tân thắm đỏ một vùng đất, một vùng trời dâng tình yêu trên sóng nước Hồng Hà yêu dấu. Dòng sông hoa đường Nhật Tân. Chợ Hoa Hàng Lược. Phố cổ. Ông cùng tôi nhâm nhi Café Lâm, Café vỉa hè dưới gốc đa Đền Bà Kiệu, thân thiện với bà Nghĩa bán bún riêu cua ngõ Tạm Thương, bún chả Hàng Mành. Rất nhiều những buổi chiều Hồ Tây mây hồng tím, dìu dịu hoàng hôn, tôi ngồi ngắm ông vẽ chim sâm cầm bay đi.

Văn Miếu những buổi sáng lất phất mưa Xuân, dưới gốc cây đại hơn bảy trăm năm tuổi, tôi ngắm ông mải mê vẽ màu son Khuê Văn Các.

Đêm hội Lim, ông lăn lóc cùng tôi và các bạn Báo Phụ Nữ Thủ Đô ngủ trong nhà liền anh, liền chị làng Lim- Bắc Ninh, đàn muỗi vo ve suốt năm canh trường.

Hơn tuổi chín mươi, ông vẫn cứ đi về, từ Paris về Hà Nội, dạo phố cổ cùng tôi, và vẽ, đắm say không biết mệt.

Mỗi lần đặt chân đến một nơi xa lạ trên thế giới, ông viết cho tôi, mấy dòng chữ nhỏ trong tấm bưu thiếp phong cảnh nơi đó.

“Một chiều Hồ Tây mờ mưa bụi, dòng người lại qua, anh nhận ra em, khi em đặt cây bút thiêng liêng trên môi”…

“Anh thương mến cái vẻ chơi vơi trong ngòi bút của em. Cái nan đạo tôi đi tìm tôi thật vô cùng cực nhọc. Sự cô đơn của kiếp người khó ai chạm đến được, dù là cha và con…”

“Đà Lạt với thông reo như bao giờ. Nhớ Vườn Đào Nhật Tân. Gửi bưu ảnh Thác Pongua cho Mai Thục kỷ niệm vài ngày ghé lại đây. Quyển Hanoi Tinh Hoa là một kỷ niệm đẹp mùa Xuân”.

Thư cuối cùng ông viết: “Tuổi già là một khu rừng rậm bí ẩn, mình phải khám phá nó”.

Ông đi nhiều, đi xa lắm và luôn viết thư cho tôi thoang thoảng hương đời. Không chờ mong tôi viết trả lời. Ông biết. Ông là cánh chim trời. Tôi là con cá mại cờ nhởn nhơ dưới đáy Hồ Gươm rêu phủ. Là bến Nhị Hà những bình minh, gọi ông trở về Thăng Long- Hà Nội.

Ông bảo: “Thời gian trôi. Mây bay ngàn dặm. Không có quá khứ. Không có tương lai. Chỉ có hiện tại mà thôi. Em hãy vui sống trong từng thời khắc của hiện tại. Quá khứ và tương lai ở trong hiện tại. Đức Phật và Albert Einstein đều nói như vậy”.

Cứ như thế… Ông truyền ánh sáng cho tôi viết Tinh Hoa Hà Nội trong nhịp điệu Ánh Sáng & Bóng Tối, hòa tình yêu, nỗi nhớ thời gian, không gian đã mất. Tôi cùng ông đi tìm Cái Đẹp giữa bụi bặm, ồn ã phố phường, giữa nắng mưa Hà Nội ngày thường.

Năm 1990. Những bài viết “Chả Cá Lã Vọng”, “Bún riêu cua ngõ Tạm Thương” của tôi in báo Hà Nội Mới, thức gọi Người Hà Nội tìm về Cái Đẹp giữa đời thường sau mấy cuộc chiến tranh hủy diệt. Tinh Hoa Hà Nội được viết trong từng bước chân bỏng cát của tôi suốt mười lăm năm. Một thân Kiều.

Khi Tinh Hoa Hà Nội hoàn thành sau bốn lần in bổ sung tái bản, tôi tặng Dương Cẩm Chương với lời đề tặng: “ Kính tặng người bạn nghệ sĩ lớn mà bóng hình và tâm hồn in đậm trong từng trang sách”.

Dương Cẩm Chương là nhân vật lớn xuyên suốt Tinh Hoa Hà Nội. Rất nhiều bài có tên ông, kể chuyện về ông. Một nghệ sĩ phong trần cùng thế kỷ XX trong bão táp mấy cuộc chiến tranh, mà vẫn đẫm tình yêu Hà Nội. Một người con Hà Nội đi khắp bốn bể năm châu, luôn tìm về bến đậu sông Hồng, thắp ngọn nến tình yêu Thăng Long- Hà Nội linh thiêng hào hoa. Không năm tháng.

Rồi một mai tôi đi mãi mãi ( Thân Thị Ngọc Quế)

Trước sau cũng trả cho tình thương yêu (Dương Cẩm Chương)

Hà Nội đầu năm 2013. Dương Cẩm Chương tròn 102 tuổi. Ông gửi tặng tôi tập Thi Tâm của mình gồm 118 bài thơ, là một khu rừng rậm bí ẩn. Tôi lần giở từng trang, khám phá khu rừng rậm bí ẩn với tình cảm trân trọng thiêng liêng.

Khu rừng rậm là đây. Họa sĩ Dương Cẩm Chương với vợ mình, nữ sĩ Thân Thị Ngọc Quế lưu lạc trời Âu và trở về Tổ quốc những tháng năm cuối đời.

Những đêm Paris trăng dõi trùng khơi. Hai vợ chồng nghệ sĩ kính trọng nhau như khách. Họ làm thơ đối chữ, giao tình. Dòng đời mờ mờ nhân ảnh. Mỗi người ôm một khối cô đơn. Không thể sẻ chia.

Dù họ trao nhau những bài thơ Phu thê đối đáp: Nhớ cõi đi về, Đâu cõi đi về, Về với bao la, Tình yêu bao la, Lá vô thường, Lá bay, Nỗi sầu thiên mã, Xa bóng trần gian, Cô liêu trầm tư, Đường thứ lữ, Về cõi trăng khơi, Túi càn khôn…

Đường đời đau khổ đã thăng hoa. Thân Thị Ngọc Quế viết:

Về cõi trăng khơi

Bước phiêu du mãi khắp ngàn nơi

Như chiếc thân đơn lạc cuối trời

Quên những đắng cay tình ấm lạnh

Mặc bao chua xót nỗi đầy vơi

Giọt sương biêng biếc hòa mây nước

Ánh ngọc lung linh nhẹ tiếng lời

Vẫn gọi chiều qua ngàn gió cát

Nhớ ai về với cõi trăng khơi.

Dương Cẩm Chương đối lại:

Tình Trăng khơi

Đêm thanh ánh ngọc bóng muôn nơi

Giấc điệp xa vời lạc đất trời

Đáy nước Hằng Nga thơ túy lúy

Sau màn Trinh Nữ lệ chơi vơi

Cành rung bóng động mung lung tứ

Gió thổi thông reo man mác lời

Le lói đêm mây trăng ấm lạnh

Tình đời ngàn thuở mộng trùng khơi.

Rồi một ngày, bà Thân Thị Ngọc Quế (1918- 2007) rời Paris về Huế quê mình, trở thành ni sư Thích Từ Tâm Mãn, tại ngôi chùa Huyền Không ở Huế. Bà ra đi, để lại bài thơ lưu bút khắc trên tháp chuông chùa Huyền Không:

Thơ Lạnh

Ra đi trăng lạnh chiếu bên vườn

Lạnh cả vần thơ chiếc bóng sương

Để lại cánh chim mờ dặm khuất

Chỉ còn màu khói nhạt mây vương

Sao bơ vơ, nắng chừng theo nắng

Gió lạ lùng, hương vẫn ngát hương

Bèo nước ai hay là huyễn cảnh

Bên chùa thanh thản một hồi chuông.

Ngày tiểu tường Tâm Mãn Thân Thị Ngọc Quế

( 24- 5- 2008 âm lịch) Dương Cẩm Chương gần trăm tuổi, tìm về ngôi chùa cổ Huyền Không, đứng dưới tháp chuông nghe 108 tiếng chuông thu không, quên sầu não và nghe “thanh thản một hồi chuông” khói mây ảo ảnh, như gặp bóng hình vợ yêu, mà phụng họa Thơ Lạnh:

Thư Gửi Muôn Trùng (*)

Hồn mây thanh thản bước qua vườn

Ấp ủ duyên thơ giọt lệ sương

Vẫn biết tình đời theo nẻo khuất

Sao nhìn sen ngó tơ còn vương

Am thanh chiếc bóng ngoài hiên nắng

Kinh sử đêm trường nhạt ánh hương

Thân thế phù trầm ôi viễn cảnh

Xin cùng Thiền mộng tiếng vang chuông.

Tiếng chuông Thiền mộng trong khu vườn quê vắng lặng đưa đón hồn giao hồn. Phu thê vương vấn nghiêng ngả Âm- Dương. Lay động bầu trời xứ sở.

Ngôi chùa làng Việt Nam mãi mãi là nơi trở về của người Việt thấu vô thường. Dù lưu lạc tha hương trời Âu tuyết lạnh, nữ sĩ Thân Thị Ngọc Quế đã chuẩn bị cho cuộc trở về của mình nơi chôn nhau cắt rốn, nơi Đất Mẹ dấu yêu, một cách nhẹ nhàng “thanh thản một hồi chuông”.

Những ngôi chùa Việt Nam “Một vùng Tâm thức, một vùng thi ca” là nơi nương tựa của tâm hồn Việt đậm màu Thiền.

Xa xa, thoảng tiếng chuông Bát Nhã đưa gió mưa Xuân thơm hương trầm thánh thiện.

Tôi nghe đâu đây, tiếng thơ Dương Cẩm Chương hòa trong tiếng chuông Bát Nhã, ngày ông tròn Một Trăm tuổi đời:

Hoàng hôn đã xuống dặm đường dài

Gánh nặng đôi vai không một ai

Sóng vỗ ngọn tùng cây chẳng động

Sương mờ đỉnh biếc nhạn còn bay

Nguồn ân bể ái bọt trùng dương

Sự nghiệp công danh bóng viễn đài

Cái lụy trần gian là đạo sống

Giấc mơ tiên cảnh bất trùng lai.

(Sài Gòn 2010)

Không gian cách trở. Giờ đây, tôi chẳng thể nào đến thăm người bạn 102 tuổi mà Thượng đế đã ban tặng cho tôi. Một niềm hạnh phúc trang trọng, thiêng liêng trong đời.

Ngày xuân trân trọng khơi trầm hương trong phòng văn tĩnh lặng, tôi gửi đến người bạn nghệ sĩ lớn của mình bài thơ Chùa Đông Sơn của vua Trần Anh Tông, là con trưởng vua Trần Nhân Tông, nối nghiệp cha sau chiến thắng quân Nguyên, đưa đất nước vào thời kỳ sửa sang văn trị, nhiều nhân tài xuất hiện: Nguyễn Trung Ngạn, Mạc Đĩnh Chi, Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu.

Chùa Đông Sơn làm từ đời Lý trên núi Chương Sơn, huyện Ý Yên- Nam Định là một trong những danh thắng nước Nam.

Đông Sơn Tự

Phong dao giải hổ thu thiền quýnh

Nguyệt tả quân trì dạ giải hàn

Hưu hướng Ngũ Đài lao mộng mị

Khan lai thiên hạ kỷ Đông San

Dịch ý:

Gió lay gậy thần tích, tiếng ve mùa thu im vắng

Trăng tãi ánh sáng xuống bình nước, dòng suối đêm lạnh lẽo

Đừng nhọc lòng mơ tưởng đến núi Ngũ Đài mà làm gì (*)

Xem trong thiên hạ được mấy cảnh như Đông Sơn.

Huệ Chi dịch:

Gió lay Thiền trượng ve im tiếng

Trăng chảy trong bình suối lạnh tràn

Mơ ước Ngũ Đài chi nữa nhỉ

Trên đời hồ dễ mấy Đông San.

(*) Tên một tập thơ của Thân Thị Ngọc Quế.
(*) Ngũ Đài là dãy núi gồm năm ngọn rất cao phía Đông Bắc huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây- Trung Quốc.

___________________________

Hồ Gươm Mùa Hoa Ban 2013



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 07.04.2013.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com