TÀI XẾ XE TANG



Tôi đã ngoài năm mươi, nói như ngôn ngữ thời thượng, U 60. Một thời đoạn của tuổi tác bắt đầu cho sự nghỉ ngơi. Nhưng nghỉ ngơi vào tuổi này thì thật còn quá sớm. Bởi còn lắm nhu cầu cần được đáp ứng, còn lắm tâm tư cần được giãi bày, còn lắm ngõ ngách cần được săm soi. Tóm lại còn rất muốn sống. SỐNG với đầy đủ ý nghĩa của nó. Mà điều quan trọng nhất của SỐNG là làm việc. Một công việc không chỉ đáp ứng nguồn chi tiêu, mà còn được thấy mình tồn tại, được giao thoa, giao hảo, giao hữu, giao lưu, giao tất tật những gì có thể giao được. Không phải sao ? Cái sự giao chuyển giữa mình và cuộc đời, nó luôn hiện hữu như mắt mình đang mở, tim mình đang đập và hơi mình đang thở. Tuy những gì thuộc về khát vọng đã heo mòn đi dần so với chừng dăm mươi năm về trước, cũng không lắm thôi thúc xốc xáo tham cầu, nhưng vẫn còn tạm đủ để làm một cái đích cho cuộc sống, một cái neo cho hồn người, và cho cả một vùng huyễn ảo để không cảm thấy nhàm chán khi đoạn đường mình đang đi đã dần hẹp lại.

Nhưng biết phải làm sao đây ? Khi đã mấy chục năm ròng rã trên những tuyến đường xuôi ngược cùng chiếc vô lăng quen thuộc. Quen thuộc như một phần cơ thể vậy, quen thuộc đến nỗi không cần phải chủ tâm quyền lệnh, nó cứ mặc nhiên mà vận hành theo một sự quán tính ăn sâu đến tận cùng mọi thao tác. Mỗi một tế bào cơ thể, mỗi một nơ ron thần kinh, mỗi một phản xạ trực giác, và đến cả hệ thống sinh học ăn uống ngủ nghỉ đã được hình thành như một lập trình mặc định. Có nghĩa là nếu tôi một vài ngày không được ngồi vào cái ghế trong ca bin, không dược làm những động tác nhuẫn nhuyễn, không được đón làn gió ngược qua cửa xe, không được nghe tiếng động cơ rù rù, không được nhìn thấy những con đưòng trải dài trước mắt, thì một góc mê mải của lòng tôi lịm tắt, thì cả một khối cơ hoành cơ dọc trong tôi buông chùng, thì hết đến hai phần ba cõi hồn tôi vật vờ vô định. Có nghĩa tôi không còn thấy mình tồn tại, có nghĩa tôi không còn đang sống, có nghĩa hình như tôi đang chết di rồi.

Nhưng vào cái tuổi của tôi bây giờ, không chỉ những nhà lập pháp tràn đầy kinh nghiệm, không chỉ những nhà tuyển dụng tràn đầy yêu cầu, không chỉ trong con mắt người thân của tôi tràn đầy âu lo, mà chính trong cái bản thể dẫu đã dọc dài dãi dầu tôi luyện cũng đã rụt rè phản kháng. Nó rụt rè là bởi nó còn phải chống đỡ cái sự giằng giật từ phía bên kia, phía của cái gọi là sức bền độ dẻo. Chống đỡ lại một tâm thế không muốn thừa nhận những bước lùi của phong độ. Nhưng mà có cố chống đỡ đến thế nào thì con mắt thực tế vẫn trợn trừng đòi hỏi người ta phải nhìn thẳng vào nó, không thể tránh né, không thể làm ngơ. Mà có muốn tránh né, có muốn làm ngơ cũng không hề dễ dàng trước những cái lắc đầu, dù lắc rất nhẹ và rất lịch sự. Một khoảng thời gian đủ ngấm đòn của sự phản kháng. Những thườn thuợt ngắn dài, những hậm hực cau có, những chập chờn mong mỏi đã được chấm dứt sau một thông tin. Một thông tin không có một chút hấp dẫn, một thông tin mà mới nghe qua đã muốn lắc đầu, Một thông tin báo hiệu trước những cảm giác khó nuốt. Giá như có một lựa chọn khác. Người ta cứ luôn phải giá như khi không thể. Đã biết không thể thì thôi đừng giá như đi. Chấp nhận hoặc không chấp nhận cứ việc thẳng thừng cho rõ ra, giá như làm gì cho thêm nặng nhọc. “Có còn hơn không…có còn hơn không…” Câu hát trong bài Thà như giọt mưa luôn là một câu khuyến nghị hợp thời khi người ta còn đang phân vân trước một quyết định. Ừ thì đúng là có dù chỉ một ít thôi vẫn hơn là không có rất nhiều. Vậy đừng nghĩ ngợi gì cho thêm mệt óc nữa, cứ dấn đi một bước thứ nhất thì sẽ biết bước thứ hai là thế nào.

“Không biết anh sẽ trụ nổi bao lâu trong công việc này ? Tôi cứ phải tuyển người liên tục, có người chỉ một ngày đã phải bỏ chạy. Ui trời, một công việc chẳng có gì khó nhọc mà sao..?”

Quả đúng là chẳng có gì khó nhọc cả. Này nhé, không phải căng mắt mà điều khển vô lăng một cách điệu nghệ trên một con phố đông người, không phải phập phồng mắt trước mắt sau với tiếng còi toét cùng một màu áo vì lý do bị bắn tốc độ hay kiểm tra đột xuất, không chập chờn nỗi lo âu xảy ra tai nạn bất kỳ cho dù tay lái đã thuộc hàng lụa thượng đẳng. Quá nhẹ nhàng chứ còn gì nữa. Vậy sao lại phải chạy ?

Trời ơi ! Nếu bạn đã phải nghe ai than vãn kêu khóc một lúc chắc cũng váng hết cả đầu, ù hết cả tai, gai chối hết cả người rồi, huống chi không chỉ một tiếng kêu khóc, mà có khi râm ri cả một dàn đồng âm, chưa hết, tiếng ỉ o của phường kèn bát âm, tiếng ề a kinh kệ của những nhà sư, tiếng thùng …thùng đệm nhịp cứ ong ong bên tai, cùng với những hình thái ảm đạm thê lương của một đám tang, cả cái cảm giác rờn rợn của chiếc quan tài sau lưng mình….Ôi trời, cái ngày đầu tiên ấy tôi như có cảm giác mình đang bị chìm xuống đáy cùng của địa ngục. Không vì cái trách nhiệm đang khoác vào mình, tôi đã tông cửa xe mà bỏ chạy cho xa. Chạy một mạch không ngoái đầu lại nữa. Đúng như ông chủ dịch vụ đã nói “…chẳng khó nhọc gì mà sao…” Ông ta không hiểu nổi vì có lẽ ông ta chưa từng ngồi vào vị trí này, chưa từng bị nhấn chìm trong cái thứ cảm giác kinh khủng này, cho dù với nghề nghiệp, ông ta đã có thể chai đi một phần cảm xúc trước những chiếc quan tài chồng cao trong gian nhà. Thì đúng là cái sự quen mắt lâu ngày, người ta sẽ không còn sự lợn cợn của một vật biểu trưng cho cái chết nữa. Nhưng dẫu sao thì nó cũng chỉ là một thứ tĩnh vật. Còn đây là cả một chuỗi âm thanh hình sắc bủa vây. Tuy tôi cũng đã thuộc vào loại gan lỳ, tôi không có cảm giác sợ trước xác chết. Tôi thấy thật vô lý khi con người kia nếu còn sống, có thể đánh mình, gây hại cho mình thì lại không sợ, vậy mà khi họ nằm ngay đơ ra rồi, muốn làm sao thì làm chả biết trời trăng mây gió gì nữa thì lại lắm người rúm lại vì sợ, thậm chí tái ngắt mặt mày đến cả mấy hôm. Thật ra, ngoài cái lý do là yếu bóng vía thì còn một thứ ám ảnh khác khiến người ta sợ, đó là hỉnh ảnh tương lai của họ. Và nếu đã sợ chết thì người ta luôn phải sợ rất nhiều thứ. Tất nhiên là chết là điều đáng sợ rồi. Bởi con người ta được mấy lần sống mà không sợ chết. Nhưng nếu quá nhiều cái sợ thì có vẻ như con người ấy đã chết đi mất mấy phần rồi.

“Khi không còn cách nào khác thì chỉ còn mỗi một cách là bắt buộc mình phải thích ứng với hoàn cảnh.”

Cái câu be sườn này thật là một phương thuốc đặc hiệu. Không tin thì cứ thử mà xem. Tôi đã thử nó bằng cách kín đáo nhét hai cục bông gòn vào tai khi bắt đầu ngồi vào cái ghế ấy. Tất nhiên là bất tiện, nhưng ít nhất cũng phải tạo cho mình một cơ hội để làm quen. Khi đã quen rồi hẳn sẽ dễ dàng hơn thôi. Đúng là thế, chỉ một tuần, tôi đã giảm dần cảm giác bức bối ong ong đó. Mắt đã quen, tai cũng hơi quen, vì tuy đã có bông gòn, nhưng âm thanh vẫn thẩm thấu phần nào. Bởi không thể dùng mãi phương pháp không lấy gì làm tối ưu ấy, nên tôi tăng dần cường độ âm thanh bằng cách giảm dần kích thước hai cục bông. Cuối cùng thì nó được bỏ hẳn ra. Nói thật, cũng không dễ chịu hoàn toàn đâu, làm sao mà dễ chịu trước sự đau khổ mất mát của người đời chứ. Nhìn người ta khóc lóc vật vã đau đớn thế mà mình lại dễ chịu thì…Nhưng cái sự chai lỳ cảm giác thì dần hiện rõ. Là thế, với một vật gớm ghiếc nhìn vào một lần thì thật đáng sợ, hai lần bớt đi một ít, ba bốn năm sáu bảy tám lần thì nó thật quá bình thường. Cũng như thế với tất tật các hình thái khác, đẹp lắm lắm thì nhìn mãi cũng không còn đẹp nữa, xấu lắm lắm thì cũng nhìn mãi cũng không còn xấu nữa, hay lắm lắm thì nghe mãi cũng không còn hay nữa, dở lắm lắm mà đã lậm sâu vào rồi thì cũng không còn dở nữa, khổ lắm lắm nhưng khổ mãi quen rồi không thấy khổ nữa, một câu chuyện cười nghe một lần thì buồn cười, nghe thêm vài lần nữa thì cười hổng nổi. Thế mới có câu đúc kết từ bao đời “ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt”. Khi cái sự “quen” đã đủ tầm mức bão hoà cảm xúc, làm nhoà đi sự phân ranh của cảm trạng thì “bình thường hoá” được hết những bất cập. Nhờ đó mà xã hội mới có những người làm được những loại hình công việc mà mới nghe qua thật không dễ nuốt như : bốc mộ, khám nghiệm tử thi, thông ống cống, vệ sinh đường phố, công nhân cầu đường, hầm mỏ, nghiên cứu khoa học… và cả những loại tội phạm.

Chao ôi ! Cái chết ! Nó là sự kết thúc của một đời người, nhưng không phải đã kết thúc được tất cả. Nói cho chính xác thì chỉ kết thúc sự sống của một thân xác, hoài bão ước vọng của một cá nhân, làm gián đoạn một số liên quan hoạt động. Phần còn lại thì thuộc về những người đang còn sống. Nhưng ý nghĩa rốt cùng của nó thì cũng là khép lại những bi hài kịch mang chung một cái tên. Có quá nhiều lý do để dẫn đến cái chết. Nhiều nhất vẫn là bệnh hoạn và tai nạn, một ít thì do sự chủ động tìm đến. Có cái bất ngờ, có cái được báo trước. Không thể nói, cái chết nào dễ tiếp nhận hơn. Có người ngày mai cưới, hôm nay quếnh quáng thế nào đâm vào gầm xe ô tô, có người mới trước đó vài phút còn nói cười ha há, bất chợt tái sám mặt mày lăn đùng ra bất động, có người đang còn hứa hẹn một tương lai rực rỡ với bao thành công đang trên đà phấn phát, bỗng nhiên thấy mình bị hất ra ngoài khoảng không mất trọng lượng rồi đầm sầm vào một tảng đá khi chiếc máy bay cũng đang cùng một số phận. Có người đang huênh hoác những kỳ tích, đang hăm hở với ước mơ, đang cháy bỏng những thành tựu, thì một cái phiếu xét nghiệm chìa ra trước mặt một căn bệnh nan y, con đường phía trước cứ như một sợi dây thun bị buông tay ngắn chùn lại. Nếu xốc nổi mất cân bằng thì khóc than vật vã, cuống cuồng quay đầu nọ trở đầu kia, túm vội chút mong manh dài thêm một ngày một phút. Nếu trầm tĩnh minh triết thì lựa chọn vài ba việc thiết yếu nhất để có thể hoàn thành, và tận dụng chút thời gian ít ỏi còn lại cho tình yêu thương và những niềm vui nho nhỏ. Tóm lại, cái chết luôn là điều phải đến với tất cả mọi người, khác nhau là độ ngắn dài ánh sáng với mặt trời, là cái cách khi nó tiếp cận, là dư âm còn lại trong thế giới con người.

Đám tang có thể xem như một bản tổng kết về công trạng, nhân cách và sự rộng hẹp trong quan hệ xã hội của mỗi người. Cả sự phân hoá giàu nghèo cũng được hiển hiện rất rõ ở đây. Có những đám với hàng xe đẹp sang trọng kéo dài đến mấy ngã tư, cùng bao nhiêu là vòng hoa, trướng liễn đến không đủ chỗ treo. Người đi đưa thì rõ là những tai mặt đình đám. Người bàng quan nhìn vào cũng có thể biết ngay người đã mất thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Ngược lại thì có những đám lèo tèo người đưa, ngoài chiếc xe đòn thì cùng lắm là vài ba chiếc xe khách hoặc xe tải, nhiều khi là do người nhà thuê cho người mất đở tủi, cũng là gỡ gạc chút sĩ diện cho người còn. Đa phần thì thuộc hàng trung trung, không nhiều không ít, hơn chục cái ô tô vài ba kiểu loại, dăm chục xe máy chở đôi, loe hoe những cành huệ trắng. Nghĩa trang cũng là nơi phân tầng. Người giàu có quyền thế thường được tự chọn những lô mặt tiền, thoáng đãng đường đi lối lại, người trung trung hơi ngặt nghèo đường nước một chút nhưng cũng tạm coi là ổn, người nghèo thì chịu khó lặn lội xó xỉnh xa tít cuối hàng, khổ nhất cho đội khênh quan phải len lỏi trong những dãy hàng phần mộ. Không ít khi người thân phải thót tim khi chiếc quan tài chao đảo trên những đôi vai. Kỳ lạ, khi còn sống, người ta rất nhiều khi chẳng tiếc lời mắng nhiếc nhau, không hiếm những người là thân thuộc bạn bè tỏ ra ghẻ lạnh, nhưng khi đã chết thì người ta lại lo lắng từng chút động chạm, sợ ngôi mộ lệch, sợ đằng đầu có đá, sợ quan tài bị kênh nghiêng. Thực ra , những cái sợ ấy chẳng phải sợ cho người đã mất, mà sợ cho những người còn lại, sợ bị ảnh hưởmg đến chuyện tài lộc gia cang, sợ bị nạn tai bất chừng do những tín nghi bất chứng. Mà phần lớn, người ta tự sợ những gì do chính mình tưởng tượng, và căn cơ của những sự tưởng tượng ấy bắt nguồn từ những bất bằng khi con người đối đãi với nhau. Người ta vốn quan niệm người chết sẽ có một thứ quyền năng tác động cao hơn đến mọi sinh hoạt đời sống của họ. Bởi thế nên họ thường van vái cầu xin, phủ phục lạy lục, bày biện lễ nghi to tát mà cầu cho linh hồn người mất siêu thăng. Đã siêu thăng rồi thì sẽ không quay về trả oán. Nhất là những người gián tiếp hay trực tiếp gây ra cái chết cho người mất thì lại càng lo lắng, lại càng tỏ ra thân tình hiếu nghĩa. Thật là cả một trường đoạn của nỗi bi ai. Nhưng chính thực của những nỗi sợ ấy, mấy ai tự hiểu, tự nhận thức được rằng “họ đang sợ sự hệ luỵ hệ quả từ chính những hành vi sống xử của bản thân họ”.

“Nghĩa tử là nghĩa tận”.

Con người ta cũng thật lạ. Khi còn sống luôn tranh chấp gây thù chuốc oán, đối xử với nhau thật tệ bạc. Những câu kia chuyện nọ nhỏ nhặt thôi có khi cũng thành một vấn đề nan giải, để đến nỗi phải lôi nhau ra toà, không tiếc lời mạt sát nhục mạ nhau, hùng hùng hổ hổ như muốn ăn tươi nuốt sống nhau, mưu toan ám muội bao thủ đoạn tàn hại nhau, hơn kém nhau từng phân vai ni tấc, thiệt một chút cũng bất bình, hơn một ly cũng bảnh bao mày mặt, vị lợi mà mang đến cho nhau những chiếc mặt nạ rất tinh vi, nhìn nhau như những miếng mồi, như những quân cờ, như những bức tường thành lông chông gai góc. Nhưng bất chừng nghe tin…Thôi thế là hết. Bao sân hận bon chen bỗng chốc tiêu tan. Lại một chút ăn năn, một chút hơ hỏng, một chút tiếc nuối. Và rồi nén hương ngọn nến, thầm thì đôi lời từ tạ, rằng người đi xin hãy nhẹ nhàng, bao nghiệt ngã nhân gian đã thành mây gió. Chuyện lỗi nghì đã hoá vô vi. Hư huyền một kiếp phận. Đến đi có ngờ.

Tôi là người thuộc chủ nghĩa hiện sinh. Tôi không tin có cái gọi là thế giới bên kia. Mọi vấn vụ chỉ thực sự tồn tại trong hơi thở. Tất cả những mơ hồ đằng sau sự chết đều do chứng tưởng tượng ân oán của con người mà ra. Khi người ta bất lực trong sự chế phục những bất toàn, những hiểm ác của đời sống, thì người ta phải dựng lên, phải vin vào một thứ quyền năng huyễn ảo để khắc chế. Bởi thông thường, con người luôn sợ những gì không hoặc chưa nhìn thấy, chứ khi đã rõ ràng hình hài thì người không còn thấy sợ nữa. Và hay nhất vẫn là một thanh kiếm vô hình lơ lửng trên đầu mang tính năng huấn giáo. Thực ra, đó cũng là một cách hay, bởi nếu không có những mơ mơ hồ hồ ấy thì thế giới này hẳn còn xảy ra lắm điều nghiệt oan khốc liệt, khi con người không còn biết sợ. Và ngày càng xảy ra những hình thái tương tàn bất nhẫn, thì những mãnh lực vô hình của các giáo chúng càng được khai thác và phục hiện. Ngay cả những cảnh trạng của con người khi đi vào cõi chết, vẫn được tận dụng làm cách huấn thị. Người đau lâu ốm dài, chết không chết được, sống thì không ra sống, ngươi ta bảo đó là nặng nợ trần không trả được. Người chết vì tai nạn không toàn thây, máu me lênh láng, thân thể dập nát, chết đường chết chợ, người ta bảo đó là nghiệp chướng phải mang vì chắc đã từng gieo thù chốc oán, đã từng bị nguyền rủa mắng nhiếc. Người chết vì bị sát hại hay bị kết án, nếu đã từng gây khổ nạn cho người khác, thì người ta bảo thật đáng đời đáng kiếp, chết không ai thương, chết cho rộng đất, nếu bị bức hại thì người ta không tiếc lời xót xa tội nghiệp, có chút tài hoa hay đóng góp công ích lại càng được tiếc thương và gây lên sự phẫn uất với kẻ vô lương nào đó, và phần nhiều người ta bảo đó là chết oan. Người tự tìm đến cái chết vì bất kỳ một nguyên nhân nghiệt ngã nào đó, thì hầu hết người ta bảo là ngu, chuyện gì cũng có thể tìm được cách giải quyết, việc gì phải huỷ cái thân mình, sống mới khó chứ chết thì dễ không, một số khác thì cho đó là cách giải thoát nếu thật sự bế tắc. Người chết thật nhẹ nhàng thanh thản sau một giấc ngủ, hay một cơn bệnh ngắn mà êm đềm nhắm mắt sau khi chào vĩnh biệt người thân, sau khi nhắn gửi được đôi lời trăn trối, người ta bảo đó là người có phúc, trọn nghiệp trần rồi thì thong thả bay cao. Sống đã luôn lắm điều nọ tiếng kia, chín người mười ý, chết cũng vẫn nóng giảo môi người. Thật đúng là bể dâu cuộc đời. Vì vậy nên cái chết chưa hẳn đã hết bởi tất cả những tương quan trong quá trình sống của mỗi người. Nhưng dẫu sao, đối với mỗi bản thể, cái chết là sự chấm dứt cuộc sống. Có nói gì làm gì thì cũng đã trở thành vô nghĩa với một xác thân lạnh giá, vùi sâu ba tấc đất hay một nhúm tro tàn trơ khốc. Sự tổn thất nặng hay nhẹ, nỗi tiếc thương dài hay ngắn thuộc về người còn sống.

Một công việc ngỡ thật đơn giản, không ngờ lại cho tôi có thêm nhiều góc nhìn về sự mất còn của cuộc đời này. Và rồi qua những ngẫm nghiệm ấy, tôi tự bảo mình “Hãy cứ sống một cách tự nhiên và ngay thẳng. Làm được việc gì tốt cho mình và cho người thì cứ làm. Hãy góp nhặt những yêu thương và những niềm vui nho nhỏ quanh mình hàng ngày vẫn có mà làm lẽ sống, đừng hoài hơi mà sợ cái chết. Nó cứ đến lúc nó phải đến. Điều quan trọng là khi nó đến thì mình để lại gì giữa chốn nhân trần nhiều mê mải và cũng lắm vênh vao. Ta được sinh ra từ chuỗi liên hoàn của tạo hoá. Rồi ta cũng sẽ mất đi bởi chu trình của tạo hoá. Cái đáng kể của một đời người là còn đọng lại gì trên môi người khi khuất bóng. Còn thì tất cả đều hư vô. Mỗi người khi được sinh ra từ trong khởi thuỷ đã có một mục đích cho đường đời. Cứ mặc nhiên mà đi theo sự dẫn dắt của nó. Hoà chung vào dòng lưu chuyển của trả vay được mất, những điều mà khi đã đặt chân vào cõi hư vô, thì “bản tổng kết” mới điểm ra được những đậm nhạt phết phẩy. Còn bây giờ, với tôi, một công việc đủ để sinh tồn, một gia đình đủ để ấm áp, một vài người bạn đủ để chung chia, thế là đủ. Mai kia mốt nọ…chỉ mong nhẹ nhàng cất gót, đừng hệ luỵ gì cho cháu con, đừng bia miệng nhân gian dè bỉu, cũng đừng vương vất “phải chăng còn có kiếp sau ?”. Hãy cứ tròn một kiếp thiện an đi đã.


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Ban Mê Thuột ngày 31.03.2013.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.