Thăm Huyện Cần Giờ và Huyện Đức Huệ
Nhớ Về Căn Cứ Chống Pháp của Các Anh Hùng Đồng Tháp Mười



Thành phố Hồ Chí Minh nay hay Sài Gòn xưa nằm giữa hai vùng miền Đông và Tây Nam Bộ luôn có một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, văn hóa và quân sự. Huyện Cần Giờ ở phía Đông thành phố là cửa ngõ của tàu thuyền – một cửa khẩu quan trọng có hai cửa sông Lòng Tàu và Soi Rạp là đầu mối của giao thông đường thủy từ biển Đông vào thành phố và ngược lại. Nay còn là đường biển chính ra vào cảng Cái Mép (Bà Rịa – Vũng Tàu).

Xưa cũng như nay, thời nào thành phố cũng có chiến lược phòng thủ chặt chẽ nhằm đấu tranh phòng chống lại những cuộc tấn công phá hoại của giặc từ xa đến, thường là ngoại xâm với hai cuộc ngoại xâm lớn nhất là của thực dân Pháp (năm 1859) và đế quốc Mỹ (năm 1956) và hai cuộc xâm lấn nhỏ hơn là từ Thái Lan (1784) đánh vào Hà Tiên và Mỹ Tho thời Tây Sơn -Nguyễn Huệ (trận đánh Rạch Gầm – Xoài Mút) và Cam-pu-chia (1979) thời Pôn Pốt tràn qua Hà Tiên và Châu Đốc sát hại nhiều dân địa phương.

Sài Gòn khi còn là dinh Phiên trấn hay dinh Điều khiển (1689) đều lâp đồn trại ở chung quanh để phòng thủ như đồn Đất (nay là bệnh viện Nhi đồng II thuộc quận 1). Khi hai dinh trên trở thành Trấn hay Thành (Thành Bát Quái hay Thành Quy và Thành Phụng) thì chiến lược phòng thủ mở rộng ra có đồn trại hay bờ lũy từ xa, như năm 1772, dinh Điều khiển có Lũy bán bích dài trên 8,5 km (nay còn có tên cũ nằm ở phía đông và tây Bà Quẹo (thuộc quận Tân Bình), có thể chạy dài từ cầu Phú Lâm tới cầu Tham Lương tạo thành một chiến lũy đất hình vòng bán nguyệt bảo vệ dinh Điều Khiển từ xa (nay là khu vực nhà thờ Huyện sĩ thuộc phường Phạm Ngũ Lão). Lũy này được xây dựng nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công của quân Xiêm và quân Chân Lạp, thường xâm nhập Gia Định từ hướng Tây Bắc.

Sài Gòn xưa còn có cửa khẩu Cần Giờ ở cách xa 60 km nằm giữa cửa sông Lòng Tàu và sông Soi Rạp nhưng sông sâu thuận lợi cho thuyền tàu từ biển Đông vào thành phố đều thông qua sông Lòng Tàu. Khi quân chúa Nguyễn Gia Long chặn đánh quân của Tây Sơn Nguyễn Huệ xâm nhập từ biển Đông ở Thất Kỳ giang (nay là sông Ngã Bảy, gần cầu Dần Xay) huyện Cần Giờ vào năm 1780. Sông Lòng Tàu từ cửa biển Cần Giờ vào Sài Côn (Sài Gòn) qua Thất kỳ giang dẫn tới Nhà Bè, nơi đây chia làm hai ngã theo hình thái chứa đựng trong hai câu ca dao :

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

Khi mở đường xâm lược Việt Nam từ Nam Bộ, đoàn tàu của Hải quân Pháp và Tây Ban Nha vào cửa Cần Giờ do Trung tướng Rigault de Genouilly chỉ huy đã bắn phá các pháo đài phòng thủ của triều đình Tự Đức ở dọc hai bên sông Lòng Tàu rồi tiến lên đánh thành Gia Định vào đầu năm 1859 (Việt Nam sử lược, NXB VHTT 1999, trang 518).

Ngày nay, sông Lòng Tàu vẫn còn phát huy tác dụng của một dòng sông không lớn nhưng có độ sâu an toàn đủ khả năng cho nhiều tàu chở hàng hóa quốc tế hàng chục ngàn tấn ra vào thoải mái và tàu chiến Mỹ trong thời chiến tranh xâm lược miền Nam đều tới Sài Gòn qua sông này. Nhằm chống lại các cuộc xâm nhập tàu chiến, tàu chở quân, chở hàng viện trợ của Mỹ cho chính phủ Sài Gòn, quân đội giải phóng đã thường xuyên tấn công họ từ hai bờ sông này. Chiến khu rừng Sát có cả một lực lượng đặc công nước hoạt động ngày đêm ở khu vực này suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955-1975). Họ hy sinh rất nhiều nhưng công lao chiến đấu cũng không ít, góp phần không nhỏ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi vẻ vang, trong đó có phá nổ kho bom thành Tuy Hạ (nay thuộc huyện Long Thành), kho xăng Nhà Bè (nay thuộc huyện Nhà Bè), pháo kích dinh Độc Lập, tòa Đại sứ Hoa Kỳ, đánh chìm nhiều tàu quân sự, chở vũ khí của Mỹ tiếp tế cho Sài Gòn…

Ông Lê Bá Ước từng là người chỉ huy ở chiến khu Rừng Sát thời ấy (Trung đoàn đặc công 10), về sau trở thành nhà thơ, nhà văn của Hội văn học – nghệ thuật Đồng Nai. Tác phẩm “Một thời rừng Sát” của ông được giải thưởng B Văn học năm 2000 của tỉnh Đồng Nai, trong đó qua Lời tựa ông đã viết mấy câu thơ hồi tưởng như sau :

Bâng khuâng tấc dạ niềm thương nhớ
Lộng gió trên sông đẹp bóng cờ
Mãi mãi hiên ngang rừng Sát đứng
Mỗi người ngã xuống một bài thơ.

Ngày nay, thành phố Hồ Chí Minh có lực lượng biên phòng ở Thạnh An, hải đảo cách thị trấn Cần Giờ hơn hai giờ tàu chạy, là điểm xung yếu bảo vệ cửa khẩu Cần Giờ lẫn cửa sông Lòng Tàu. Ngay tại thị trấn Cần Giờ còn có Hải đội trấn giữ, bảo vệ cả khu vực bờ biển Đông của huyện này. Nhiệm vụ của các đội biên phòng và Hải đội thuộc QĐND Việt Nam đóng chốt ở khu vực bờ biển Đông Nam và hai cửa sông lớn Lòng Tàu và Soi Rạp chắc chắn có đầy đủ khả năng để tích cực làm nhiệm vụ ứng phó kịp thời trong việc phòng chống các lực lượng thù địch hải xâm từ biển Đông khi mà Hoàng Sa đã bị quân Trung Quốc chiếm giữ tổ chức thành huyện Tam Sa và đang ra sức vẽ đường ranh giới biển Đông kiểu Lưỡi bò để bao vây Trường Sa thì việc chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào khi mà cả tàu chiến lẫn tàu cá của nước bạn luôn lảng vảng khu vực này sẵn sàng gây hấn và xâm lấn khi ta lơ là canh phòng.

Đối xứng với biên giới ở bờ biển Đông Nam thành phố còn có các đội biên phòng ở phía Tây Nam nhưng lại nằm ở tận biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia thuộc xã Thạnh Mỹ Tây và Mỹ Quới Tây huyện Đức Huệ tỉnh Long An. Trong xã Thạnh Mỹ Tây có ấp Dinh là căn cứ cũ của Thiên Hộ Dương (tức Võ Duy Dương, con trai của ông Võ Duy Ninh trấn thủ thành Gia Định - thành Phụng bị thất thủ và tự sát đầu năm 1859 khi liên quân giặc Pháp và Tây Ban Nha tấn công từ sông Sài Gòn và sông Thị Nghè như nói ở trên) từng lập chiến khu Đồng Tháp Mười chống lại quân Pháp vào những năm 1863-1873 sau khi quân Pháp – Tây Ban Nha chiếm ba tỉnh miền Đông, miền Tây và nơi ông Hộ đóng bộ chỉ huy mà ngày nay còn có tên ấp Dinh, ấp Voi.

Liên tiếp trong 10 năm, không lúc nào ngừng, bốn cuộc khởi nghĩa lớn nhất ở miền Nam thay phiên nhau lập căn cứ, cố định hoặc di động kháng chiến chống giặc Pháp. Đó là :

1-Trương Định tức Bình Tây nguyên soái nổi lên ở Gò Công đánh phá các đồn Pháp ở Tân An (nay là Long An), Chợ Lớn, đồn trú ở đám lá tối trời Lý Nhơn bên bờ sông Soi Rạp thuộc huyện Cần Giờ, đối diện với Gò Công và Long An. Con trai của ông là Trương Quyền đánh chiếm đồn Thuận Kiều sau khi Đại đồn Kỳ Hòa do Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương xây dựng và trấn thủ (Chí Hòa, nay thuộc quận 10 TP HCM) thất thủ, giặc Pháp chiếm đóng Tiểu đồn này (nay là khu vực Tân Thới Nhứt – Bà Điểm, Hóc Môn).

2-Nguyễn Trung Trực đánh phá giặc Pháp ở Tân An và Kiên Giang, trong đó nổi tiếng trận tập kích đường thủy bằng ghe xuồng đốt bất ngờ đột nhập và đốt cháy tàu chiến Espérance ở đoạn sông Vàm Cỏ thuộc làng Nhật Tảo (nay huyện Tân Trụ, Long An). Thời ấy có câu thơ :

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần !
Anh hùng cường cảnh phương danh thọ
Tu sát đê đầu vị tử nhân..

Dịch tạm :

Lửa Nhật Tảo nung hồng trời đất
Kiếm Kiên Giang quỷ khốc thần sầu
Anh hùng chết để thơm lâu
Sống còn bao kẻ cúi đầu thẹn thay !

Ở Kiên Giang, ông Nguyễn chỉ huy lực lượng nghĩa quân đánh chiếm đồn binh của Pháp giết chết trên 60 tên. Sau Thế chiến thứ II thực dân Pháp phải xây đài tưởng niệm ghi dòng chữ như sau : “Aux morts de la Grande Guerre 1914-1918 et de la surprise de 1868”. (Để tưởng niệm các tử sĩ trong trận đại chiến 1914-1918 và tử sĩ của trận công đồn năm 1868).

3-Thủ Khoa Huân dấy binh ở Mỹ Tho, bị giặc Pháp bắt đày ra Côn Đảo, sau trở về tiếp tục kéo cờ khởi nghĩa ở Mỹ Tho.

4-Võ Duy Dương như nói ở trên, được vua Tự Đức phong chức Thiên hộ và chức Lãnh binh.

Thiên hộ Dương ban đầu đóng quân ở ấp Dinh (nơi ông đồn trú sau khi thành Gia Định thất thủ, cha ông tự sát, dinh cơ lúc đầu của ông) và ấp Voi (nơi nghĩa quân đồn trú, có voi để ông đi lại trong vùng đồng Tháp Mười còn ngập nước quanh năm hoặc chuyển vận khí giới, lương thực tới căn cứ Tháp Mười lúc đang xây dựng. Căn cứ này lấy gò Tháp Mười là tổng hành dinh, chung quanh bốn phía có bốn đồn binh gọi Tiền, Hậu, Tả, Hữu. Mỗi đồn chứa 200-300 nghĩa quân, có 10 khẩu súng trường, vài khẩu đại bác và 4-5 thớt bắn đá (pierrier) kiểu thời Trung Cổ ở châu Âu. Ngoài ra ở xa hơn thuộc vòng đai ngoài căn cứ có 5-6 đồn nhỏ do nghĩa quân canh gác giặc tới từ xa. Tổng cộng nghĩa quân lúc đó lên tới 1.000 người, trong đó có một số lính lê dương của Pháp đào ngũ sang tham gia chiến đấu.

Ngày 14/4/1866, Hải quân Đô đốc De Lagrandière cao tuổi thường gọi là tướng đầu bạc chỉ huy trên 500 quân Pháp trang bị đầy đủ vũ khí tấn công vào căn cứ Tháp Mười theo ba mặt. Trận đánh không cân sức nhưng phải mất tới 5 ngày, căn cứ Tháp Mười mới bị đốt phá và nghĩa quân phản ứng dũng cảm đã giết gần 100 lính Pháp đa số bằng đường thủy.(Nguyễn Hiến Lê – Bảy ngày trong đồng Tháp Mười, năm 1954).

Theo ghi chép của cụ Nguyễn Hiến Lê, Thiên hộ Dương có một trận đấu kiếm tay đôi với tướng De Lagrandière vào một buổi tối trong sân rộng của một gia đình nghĩa quân ở vòng đai căn cứ Tháp Mười bị giặc Pháp phá hủy. Cụ Lê dẫn lời ông Phan Thân Việt trong tờ báo Mới số 73 trước 1945, sau khi căn cứ Tháp Mười thất thủ, ông Hộ lẩn trốn trong các xóm làng gần căn cứ cũ được đồng bào che giấu. Truy tìm mãi không được, tướng Pháp nói trên mới nghĩ cách thử tài đấu gươm cao thượng kiểu hiệp sĩ thời Trung Cổ ở châu Âu của địch thủ anh hùng này nên rao truyền rằng nếu ông Hộ chịu đấu kiếm để phân tài cao thấp mà thắng thì Pháp không truy bắt nữa. Biết không thể lẩn tránh mãi nên ông Hộ liền nhận lời đấu kiếm với kẻ thù. Cuộc đấu kiếm kéo vài giờ trong đêm tối không phân thắng bại mà rất cân sức. Nhưng về phía ông Hộ tự nhận thấy thanh gươm của mình ngắn hơn thanh kiếm hiêp sĩ nên trận đấu càng kéo dài ông sẽ thất bại. Do đó, ông liền ra sức thọc thẳng một đường gươm như sao xẹt khiến đối thủ lách người đưa kiếm ngăn đỡ khá vất vả. Thừa cơ hội này, ông Hộ nhanh chóng phóng người ra khỏi hàng rào nhà rồi biến mất trong đêm tối. De Lagrandière rất khâm phục tài đấu kiếm của người chỉ huy nghĩa quân anh hùng nên ra lệnh cho lính hộ vệ của mình không truy đuổi…

Ngày nay ở vùng Đồng Tháp Mười còn lưu truyền câu ca dao :

Ai về Đồng Tháp mà coi
Mả ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng !

Kỳ thật, trên gò Tháp khi xưa có hai ngôi mộ đất lớn được bà con đồn đãi là mộ của Đốc binh Kiều và của Thiên Hộ. Nhưng sự thật, chỉ có mộ của Đốc binh Kiều, trợ thủ của ông Hộ bị thương qua đời sau trận đánh bảo vệ căn cứ Tháp Mười được nghĩa quân đem về chôn nơi đây. Còn mộ của ông Hộ bên cạnh chỉ là mộ giả, không có thi thể. Theo sách “Anh hùng Võ Duy Dương chống Pháp ở Đồng Tháp Mười”, NXB Thanh Niên năm 2005, ông Hộ sau khi căn cứ bị phá hủy thì lánh mình về Bình Thuận ẩn dật, tới nay chưa có tài liệu nào nói tiếp..

Hiện nay, thị trấn Đức Huệ có tên Đông Thành, một địa danh được đặt tên lúc tướng Nguyễn Bình từ miền Bắc được Chính phủ VNDCCH cử vào Nam để lập chiến khu kháng chiến chống Pháp khi chúng trở lại chiếm đóng Sài Gòn lần thứ hai cuối tháng 9/1945 (nổ ra Nam bộ kháng chiến), đã tới đây trú đóng một thời gian trước khi về Đồng Nai lập chiến khu Đ. “Đông Thành” có nghĩa “Miền Đông thành công”.

Giữa ấp Dinh và ấp Voi có con rạch nhỏ và gần đó có một nhà bia tưởng niệm chiến thắng Giồng Dinh của đoàn quân hải ngoại Việt kiều yêu nước ở Thái Lan kéo về đây để tham gia kháng chiến chống Pháp trên đường hội quân ở căn cứ Đồng Tháp nằm bên cạnh kinh Thiên Hộ Dương, nơi Ủy ban kháng chiến, Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn và Xứ ủy Nam Kỳ về đồn trú sau khi rút khỏi Sài Gòn – Gia Định.

Chi đội 25 tức bộ đội An Điền (Thủ Đức) được thành lập tại xã Bình Hòa nay là Bình Hòa Hưng huyện Đức Huệ (Long An) có tướng Nguyễn Bình tới dự năm 1946. Chi đội này đã cùng chi đội hải ngoại phối hợp mở trận đánh đầu tiên rất nổi tiếng sau Nam Bộ kháng chiến tại ấp Dinh và Voi đã phá tan trận càn lớn của quân Pháp gồm nhiều xe lội nước, tàu chiến, máy bay phối hợp nhằm tiêu diệt quân kháng chiến nhưng chúng đã thất bại chua cay.

_____________________________________________________

(3/3/2013)


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 13.03.2013 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .