Gáy Lên Đi Gà Ơi!











Các sĩ phu, kẻ sĩ Hà Nội ngày nay vẫn giữ tục Khai Bút Đầu Xuân. Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện (1913- 1997) dù đã sống nhiều năm trên đất Pháp, nhưng vẫn giữ được phong cách nhà Nho thanh cao. Tết đến, xuân về, ông Viện thường lặng lẽ khai bút bên cành Đào, chậu Quất, bình hoa Cúc rực màu nắng.

Hình ảnh ngày xưa thơ bé, cha ông thường cùng các con làm thơ khai bút để vui xuân và đoán xem khẩu khí của mỗi người, lại hiện lên, nao nức nhớ thương:

Mai trước ngõ lại khoe vàng đón nắng

Đào ngoài vườn lại chúm chím chào xuân

Gió xuân đưa trỗi dậy bao ước mơ

Lật trang thế kỷ đổi mới cuộc đời

( Khai Bút năm 1996).

Nguyễn Khắc Viện sinh ra trong một gia đình khoa bảng. Cụ Nguyễn Khắc Niêm, thân phụ của ông đậu Hoàng Giáp (đệ nhị giáp tiến sĩ) khi chưa đầy hai mươi tuổi, được phong chức Phủ Doãn Thừa Thiên, là quan chức đứng đầu thủ phủ triều Nguyễn. Nguyễn Khắc Viện là “thần đồng” xứ Huế, đỗ ba bằng tú tài ở trường Bưởi Hà Nội, học đại học Y khoa Hà Nội, năm 1937 sang Paris. Tiễn con đi Tây, cụ Niêm bảo :” Học gì thì học, nhưng tránh học làm quan như thầy”.

Những năm ở Pháp là cả một quãng đời phải chiến đấu với tử thần, giành lại sự sống. Ông Viện kể:” Đầu năm 1942, tôi làm việc ở một bệnh viện ngoại ô Paris thì bị bệnh lao, chưa có thuốc chữa, bệnh kéo dài gần chục năm, tôi phải lên bàn mổ bảy lần, cắt mất hẳn lá phổi bên phải, một phần ba lá phổi trái và tám cái xương sườn, nhiều lần tưởng nguy đến tính mạng. Nằm dài ở bệnh viện, tôi tìm đọc sách triết học của Trung Quốc và Ấn Độ. Là người bị suy giảm nghiêm trọng về sức thở, tôi đặc biệt chú ý đến phần Yoga

(Ấn Độ), Trung Quốc gọi là khí công, hay thiền- tôi biết trong đó quan trọng nhất là biết thở đúng phương pháp. Tôi đã tìm ra con đường sống cho mình từ đây.”

Vượt lên cái chết, Nguyễn Khắc Viện nâng niu từng thời khắc được sống làm người. Ông đã sống, đã yêu thương hết mình và ra đi thanh thản. Tình yêu của ông trải rộng cùng quê hương đất nước và bạn bè quốc tế.

Tết Nguyên Đán 1963, Nguyễn Khắc Viện ở Paris, các bạn Pháp tặng cành hoa Đào, ông khai bút bài thơ chữ Hán:

Song hàm bạch tuyết tha hương cảnh

Các mãn đào hoa hữu nghị tình

Tuyết thượng đào hoa tăng diễm sắc

Khán hoa trường dạ đáo bình minh.

Dịch: Cửa sổ đầy tuyết cảnh tha hương/ Phòng đầy hoa đào tình hữu nghị/ Trên tuyết hoa đào càng rõ đẹp/ Ngắm hoa đêm dài đợi bình minh.

Cuối năm 1963, về Hà Nội với bộn bề công việc và ước mơ, nhưng ngay tức khắc ông Viện viết sách giới thiệu phương pháp tập luyện khí công dưỡng sinh. Ông là người đầu tiên viết sách này ở Việt Nam. Từ kinh nghiệm thở có phương pháp (điều hòa hơi thở- dẫn đến tĩnh tâm- còn gọi là thiền) tự cứu sống mình, ông muốn cứu đồng loại. Nhưng hồi đó người ta chưa hiểu, ngăn cản ông, mặc dù ông đã khôn khéo dùng ngôn từ khoa học, y học hiện đại, thay vào chữ “thiền”.

Cả cuộc đời hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, khoa học nhân văn, viết những bộ sách lớn, nhưng khi vừa trò chuyện vừa thở nhẹ nhàng”êm, chậm, sâu, đều”, ông Viện bảo:” Tôi biết đến nay nhiều độc giả nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam vẫn tìm đến những bộ sách của tôi. Dù vậy, cái gọi là “để đời” biết đâu lại là tập sách mỏng về dưỡng sinh, hoặc là chỉ mấy câu vè chỉ dẫn cách tập thở:

Thót bụng thở ra

Phình bụng thở vào

Hai vai bất động

Chân tay thả lỏng

Êm, chậm, sâu, đều

Bình thường qua mũi

Khi gấp qua mồm

Đứng ngồi hay nằm

Ở đâu cũng được

Lúc nào cũng được”.

Truyền bá kiến thức giúp con người giữ thân thể khỏe mạnh, ông Viện lại truyền thêm cả cách sống thẳng ngay, giảm bớt lòng tham quyền chức, tiền bạc để tinh thần được an vui, sống trọn một kiếp người ngắn ngủi.

Tết năm Gà 1993, trong căn phòng hẹp ấm thắm hoa đào ở phố Nguyễn Chế Nghĩa- Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện khai bút năm Gà, ông đề

Tặng một số bạn thường dậy sớm”:

Có những người đã thức dậy

Lúc gà chưa gáy

Biết bao nhiêu còn ngái ngủ

Gáy lên đi, gà ơi!

Cho đời rộn lên, người người tỉnh thức

Bớt say mê trong cơn lốc thị trường

Bớt chìm đắm trong ao tù quan lại

Cho con người đứng thẳng lên

Không quì gối thờ đô- la

Không cúi đầu trước quyền lực…

Gáy vang lên hỡi gà ơi!

Bài thơ đầy khẩu khí của bậc sĩ phu Bắc Hà, thoát khỏi vòng danh lợi, vẫn nồng nhiệt và tâm huyết với thân phận người khác.

Ông đã dịch truyện Kiều sang tiếng Pháp. Dịch Truyện Kiều thật khó. Ai dịch hoàn hảo được?

Một người bạn Pháp viết:” Nguyễn Khắc Viện là một dịch giả phi thường. Chính anh đã cho ta tiếp cận với không chỉ câu chuyện, mà với cả nét kiều diễm và cảm xúc của Kim Vân Kiều. Tôi không thể mở Truyện Kiều mà không ngừng xúc động vì kiệt tác này; nỗi xúc động tăng lên gấp bội với sự hiện diện của Nguyễn Khắc Viện…”

Người dịch Truyện Kiều ắt hiểu đồng tiền và quyền lực gây ra bao bi kịch, bao tội ác, nhưng hấp dẫn con người ghê gớm lắm. Song ai say quyền- đắm tiền, cũng bị trả giá nát tan một đời. Câu chuyện Từ Hải chết đứng ghi sâu sự trả giá đó. Hồ Tôn Hiến mang ngọc vàng gấm vóc, dụ Từ Hải ra hàng, về làm quan trong triều. Từ Hải đắn đo suy tính:

Một tay gây dựng cơ đồ/ Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành/ Bó thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?/ Áo xiêm ràng buộc lấy nhau/ Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? Sao bằng riêng một biên thùy/ Sức này đã dễ làm gì được nhau! Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.”

Nhưng nàng Kiều sau khi được Hiến biếu lễ riêng thì ngã lòng: “ Nàng thì thật dạ tin người/ Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu/ Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân/ Bằng nay chịu tiếng vương thần/ Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì/… Cũng ngôi mệnh phụ đường đường/ Nở nang mày mặt, rỡ rằng mẹ cha/ Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng/ E dè sóng gió hãi hùng nước sa”

Nàng lựa lời khuyên Từ Hải:

Ngẫm từ việc dấy binh đao/ Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu/ Làm chi để tiếng về sau/ Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào/ Sao bằng lộc trọng quyền cao/ Công danh ai dứt lối nào cho qua”

Lời khuyên của Kiều nghe cũng hợp lòng người. Ai mà chẳng thích quyền cao, chức lớn, tiền nhiều, gái đẹp… Từ Hải đã nghe nàng, đầu hàng và sa lưới bủa vây của đồng tiền- quyền lực. Từ Hải chết đứng trơ trơ- không nói thành lời.

Từ Hải chết đứng là hình tượng thơ ca bi tráng Nguyễn Du yêu thương nhắc nhớ mọi kiếp người chớ u mê, say mê tiền và quyền lực. Nó là lò lửa, phút giây có thể thiêu rụi một kiếp sống, một cơ đồ, một giang san, đất nước. Trong cuộc đời mình, Nguyễn Du từ chối không ra làm quan phụng sự triều Tây Sơn, đi ở ẩn, bị bắt giam ba tháng rồi tha về sống ở quê Tiên Điền. Nhưng khi Gia Long lên, khéo mời Nguyễn Du ra làm tri huyện phủ Khoái Châu, rồi tri phủ Thường Tín… Nguyễn Du nhiều lần chán nản cáo bệnh xin về. Có lần về được hơn một tháng lại được triệu vào Phú Xuân thăng chức Đông các đại học hàn lâm ngũ phẩm… Thời kỳ làm quan trong triều đình ở Phú Xuân và làm Cai Bạ ở Quảng Bình, Nguyễn Du đau khổ tột bậc: kẻ trên thì nghi kỵ, kẻ dưới thì bon chen, ganh ghét. Nhà thơ đã nghĩ đến cái chết:” Ở đất khách đầu bạc mãi không chết( Tạp ngâm), “Sống chẳng ích gì, trai gái hàng đàn, chết cũng được”( Giang đầu tản bộ).

Nguyễn Khắc Viện thấm sâu bi kịch Truyện Kiều, con người ham tiền, ham quyền và ham gái, ông muốn thức tỉnh mọi người.

Trò chuyện với một bạn Việt kiều Mỹ, ông nói:

” Hiện nay tôi rất lo và rất sợ qui luật của kinh tế thị trường, những qui trình công nghệ, máy móc hiện đại … sẽ xa rời mục đích nhân văn trong mọi lĩnh vực. Không riêng gì y tế, giáo dục, cả chính trị, pháp quyền, kinh tế cũng vậy.

Tất nhiên đã thiết lập kinh tế thị trường thì không thể cưỡng lại qui luật” tiền trao cháo múc”,” cá lớn nuốt cá bé”. Đã thành một bộ máy nhà nước phải có hệ thống quan chức. Và bộ máy, tất dẫn đến tệ quan liêu. Vì thế, vấn đề không phải là tạo ra một lực lượng độc lập tiêu diệt tư bản thị trường và tệ quan liêu, mà phải tạo ra một đối trọng đủ mạnh, không để cho thị trường và tệ quan liêu muốn làm gì cũng được.

Nhiều học giả đã phân biệt tư bản man rợ và tư bản văn minh. Tôi cũng đồng tình với hai khái niệm ấy. Man rợ có nghĩa là hễ có lợi cá nhân là bất chấp lợi hại của toàn xã hội, bất chấp môi trường, bất chấp phân hóa giàu nghèo, bất chấp mâu thuẫn dân tộc, giai cấp.

Vấn đề là làm thế nào để tư bản man rợ trở thành tư bản văn minh, nghĩa là biết tự kiềm chế, biết tôn trọng phúc lợi người lao động, biết quan tâm bảo vệ môi trường, biết tôn trọng quyền con người. Đây vừa là mặt trận chính trị, vừa là mặt trận mà tên gọi là nhân văn. Vấn đề này rất khó. Nó chi phối mọi lĩnh vực của đời sống: từ việc đối xử với con em trong gia đình, đến việc đề xuất chính sách, luật pháp… Tất nhiên khoa học nhân văn khó có thể dạt đến trình độ chính xác như khoa học tự nhiên. Với con người, khó có có cái gì gọi là công nghệ. Tâm tư con người với bao nhiêu nguyên do, manh mối, dù có máy vi tính tinh xảo đến đâu cũng không dò được chiều sâu bí ẩn của con người… Khoa học nhân văn chỉ giúp chúng tôi suy nghĩ về con người, vì con người. Không ai áp đặt cho ai được một cách sống theo ý muốn, kể cả con cái của mình. Khoa học nhân văn giúp cho những người nắm quyền lực trong tay, trước lúc ra một quyết định, ít nhất cũng phải tự đặt cho mình một câu hỏi: Không biết mình làm thế này có đúng không? Bởi vì chỉ cần một quyết định xốc nổi vội vàng, hàng triệu triệu con người sẽ phải chuốc lấy những hiểm họa không lường hết được…”

Tư tưởng nhân văn ấy đeo bám Nguyễn Khắc Viện triền miên cả cuộc đời và đã bật ra thành tiếng gà gáy- gọi mọi người tỉnh thức. Nguyễn Khắc Viện đã về với trăng sao, nhưng tiếng gọi Gáy lên đi gà ơi! của ông phút Khai Bút Đầu Xuân vẫn vang lên trước bình minh, ngày ngày gọi chúng ta thức dậy.


___________________________



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 12.02.2013.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com