THĂM THẲM MỘT ĐỜI









Quý vị đang nghe 6th Symphony của Beethoven



    2.



   MẸ TÔI

   Kí ức đầu tiên của tôi về mẹ là cái giờ phút hai mẹ con ở bên nhau trên chiếc sân gạch của ngôi nhà tại đầu Dốc Võng làng Quỳnh Lâu. Lúc ấy gia đình tôi đã hồi cư (1947) khi tôi chừng bốn năm tuổi. Mẹ ngồi xổm, trên tay cầm một cái hộp vuông bằng sắt tây đựng gạo rang, dáng thanh thản, nét mặt vô cùng hiền hậu, mắt luôn ngắm nhìn theo tôi với tình yêu thầm lặng nhưng sâu xa của bà. Bà yêu tôi hơn tất cả mọi thứ trên đời, vì tôi là đứa con trai duy nhất, là giấc mộng đã thành sự thật của bà. Tôi lăng xăng đi quanh mẹ trong cái sân gạch, không bao giờ rời xa mẹ quá mười bước, chốc chốc lại chạy đến bên cạnh và há miệng để mẹ bón cho tôi một thìa gạo rang rất bùi và thơm – thứ đặc sản của gia đình tôi lúc đó.

Trong kí ức của cả đời tôi, đó là khoảnh khắc hạnh phúc lắng đọng vô ngần của tình mẫu tử. Tâm hồn tôi cũng giống hệt tâm hồn mẹ, tuyệt đối vô tư, tuyệt đối bình yên, như một mặt ao hoàn toàn tĩnh lặng đến nỗi ta có thể nghe thấy cả tiếng xẹt cánh của một chú chuồn chuồn vì đậu mãi một chỗ đã chán liền cất mình nhẹ bay lên và lượn lờ thảnh thơi trên mặt nước. Một khoảnh khắc như vậy là vô cùng hiếm hoi đối với mẹ tôi, bởi bà mang tuổi “Tân biến vi toan”, cuộc đời bà là một chuỗi vất vả gian nan khôn xiết kể.

Ôi, hơn sáu thập kỉ đã trôi qua mà cái khoảnh khắc thần tiên ấy của mẹ con tôi vẫn còn nguyên vẹn trong tâm khảm tôi, bất chấp tất cả mọi chấn động của cuộc đời.

MONG MẸ VỀ CHỢ

Một ngày hè năm 1949. Trời đã sáng bạch từ lâu.

Giá như không bị cái trận ốm đáng ghét này giam hãm thì chắc hẳn vào giờ này, lúc mặt trời đã sáng loé sau cây nhãn trước cổng, cậu bé lên sáu chính là tôi đã mắt nhắm mắt mở chạy vụt ra góc vườn. Việc đầu tiên là cu cậu vắt vòi rồng xả một cách cực kì dữ dội nhè trúng vào đàn kiến gió đông nghìn nghịt đang trong giai đoạn nước rút hoàn thành công trình thế kỉ của chúng: một toà lâu đài bán lộ thiên. Thế giới loài kiến, một loài có khả năng siêu phàm về dự báo thời tiết, vậy mà lần này chúng đã hết sức kinh hoàng và không kịp trở tay trước trận bão lụt xảy ra mà không có một dấu hiệu gì báo trước. Từ trên lưng chừng trời, vòi rồng di chuyển đến đâu, lập tức tất cả thành quách, cung điện, lâu đài, nhà cửa đều sụp đổ tan tành và chìm nghỉm trong lụt lội. Khốn khổ hơn nữa, đây là trận lụt gây ra bởi nước cường toan cộng với chất độc thì phải, bởi nước xối đến đâu thì sinh dân chết như ngả rạ đến đó.

Sau khi đã gây ra trận thiên tai làm khiếp đảm chúng sinh, cu cậu thản nhiên tới đánh bệt ở bậc thềm gạch trong trạng thái lơ mơ ngái ngủ. Trước mắt cậu, giữa không trung mấy con nhặng xanh cứ rung cánh vù vù và treo mình tại chỗ như một chiếc máy bay trực thăng nhỏ xíu, không hề nhúc nhích. Không biết chúng làm cái trò ấy để tập diễn xiếc hay để làm gì? Ngứa mắt, cậu vớ ngay lấy một chiếc que ở dưới chân nhằm một con vụt một phát chí mạng. Nhưng nhặng xanh là giống tinh nhanh thượng hạng. Để tránh nhát roi, nó chỉ nhẹ nhàng liệng đi một cái, rồi ngay sau đó, như không hề có chuyện gì xảy ra, nó lại tiếp tục cái trò treo mình tại chỗ trông đến là lộn ruột ấy.

Riêng sáng hôm nay thì khác, cu cậu dậy rất muộn, ngạc nhiên vì không thấy mẹ đâu cả, bởi vì xung quanh cậu im ắng như tờ. Chỉ có tiếng mấy con lợn kêu ụt ịt trong chuồng đòi ăn, tiếng chị Phiến húng hắng ho dưới bếp. Trán cậu còn nhơm nhớp mồ hôi vì cơn sốt đêm qua. Ánh sáng trắng bao bọc lấy chiếc màn của cậu làm cậu phát ngốt. Có tiếng gì như tiếng một con ve sầu kêu o o tận bên trong óc cậu. Lại có tiếng gà nhà ai gáy xa lắc xa lơ. Tất cả chỉ tổ làm cho cậu thêm mệt nhọc và thấy thời gian trôi chậm chạp quá chừng.

Cậu đoán không sai: hẳn là mẹ dậy sớm trốn cậu để đi chợ từ lúc cậu còn đang ngủ, không biết đến đời nào mới về? Sao cái bà này khoẻ đi chợ thế không biết! Mà con đường từ nhà đến chợ Rộc Vỏ thì xa tít mù tắp lên được!

Càng nghĩ cậu càng thấy giận mẹ. Cậu đang ốm kịch liệt thế này mà bà dám bỏ cậu ở nhà một mình! Nỗi tức giận làm cậu tỉnh ngủ hẳn. Nhưng càng tỉnh thì nỗi mong càng đốt cháy ruột gan cậu. Miệng cậu đắng ngắt, đầu nhức như búa bổ. Cậu oằn oại ngồi dậy, liền nghe như có một cục đá lăn ịch một cái trong đầu khiến mặt cậu nhăn nhó như một cái bị rách. Cậu những muốn khóc muốn gào lên cho bõ tức. Nhưng trong nhà bây giờ nào có ai đáng để cho cậu gào khóc? Còn gào khóc để chị Phiến ở dưới bếp chạy xộc lên sà lại bên cậu mà dỗ dỗ dành dành như dỗ trẻ con mới đẻ thì cậu chẳng thèm! Cậu bèn ngồi chống hai tay xuống giường mà mếu máo… Rồi thất vọng, cậu lại bấm bụng nằm xuống ráng sức chờ đợi. Một giây, hai giây, ba giây… Bỗng trong đầu óc cậu hình ảnh mẹ hiện ra rõ mồn một: kìa, mẹ đã về đến đầu cầu Kim Lăng rồi! Vai bà quẩy gánh, áo bà màu ghi nhạt, dải bao tượng màu phớt vàng bay lất phất. Đi nhanh không đi, bà cứ đủng đà đủng đỉnh, thế có chết người ta không chứ! Bỗng từ phía trước bà có một người đàn bà khác đang gánh rau cải đi tới. Cậu đoán ngay sự gì sẽ xảy ra: bà kia gánh hai sảo rau to kềnh đang đi băng băng như thế, ấy vậy mà vừa trông thấy mẹ cậu, bà ta liền dừng phắt ngay lại nghếch cái nón lên mà hỏi mẹ cậu những câu con cà con kê gì đó khiến mẹ cậu cũng đứng lại nốt. Cậu liền điên tiết quát to: “Này, cái bà mặc áo thâm sì như tro bếp kia, hỏi mới han cái gì? Xéo đi để mẹ người ta còn về với người ta!”. May quá, ngay sau câu quát mắng của cậu thì họ dứt được nhau ra. Rồi lát sau mẹ về tới sân. Cậu chạy vụt ra đón, thấy trong thúng có mấy món quà vô cùng hấp dẫn: một chiếc bánh đa tẩm đường, một gói kẹo đạn, mấy quả na to khự, có quả chín đến nỗi nứt toác ra, trông thấy cả ruột bên trong…

Đang lúc mê sảng như vậy thì cậu nghe thấy tiếng một người đàn bà nói oang oang ở ngoài sân:

– Khiếp, chợ búa hôm nay ngày rằm đông đông là! Chen chân không được!

Cậu giật bắn mình ngồi phắt dậy. Cậu còn lạ gì đó là bà mợ nhà ở xóm dưới, hàng ngày vẫn đi nhờ qua sân nhà cậu, vậy mà cậu lại bật lên tiếng gọi “mẹ ơi” mới lạ chứ. Cậu không hiểu tại sao mình lại nhầm lẫn tai hại như vậy. Lấy làm xấu hổ, cậu ép mình nằm xuống và càng cảm thấy một nỗi đau khổ ê chề. Rồi bất ngờ một cơn sốt rùng rùng kéo đến. Cậu có cảm nghĩ rằng có lẽ đến lúc mẹ đi chợ về thì cậu đã chết ngoẻo từ đời nào rồi. Mặt trời càng lên cao, ánh sáng càng chói nhức mắt. Không chịu đựng nổi nữa, cậu lịm hẳn đi…

Lúc mở mắt, cậu thấy mẹ đang ngồi bên giường, tay bà sờ trán cậu, mắt bà lo lắng nhìn vào mặt cậu. Và bà nói bằng một giọng êm như ru, thấm vào tận ruột gan cậu:

– Con ơi, dậy ăn quà rồi uống thuốc mẹ mua cho con đây này, hôm nay mẹ mua đủ thứ cho con.

Cậu ngồi dậy nép vào lòng mẹ, ôm lấy mẹ và ngửi thấy mùi hơi người dìu dịu của mẹ hoà lẫn với mùi đăng đắng của dải bao tượng. Tất cả cái khí phách của một cậu con trai lên sáu đành hanh biến đâu mất. Cậu đã biến thành một phần của con người mẹ và cũng dịu dàng y như thế. Cậu ngoan ngoãn uống thuốc rồi lần lượt ăn nếm từng thức quà mà lúc nãy trong cơn mê sảng cậu đã tưởng tượng thấy, nhưng bây giờ cậu chỉ ăn được mỗi thứ một tí tẹo mà thôi. Thật thần tình: cơn sốt dịu hẳn, và cậu cảm thấy như mình sắp khỏi đến nơi…

– Con cứ nằm nghỉ để mẹ đi nấu cháo thịt cho con ăn nhé! – giọng mẹ dịu dàng rót vào tai cậu.

Cậu gật đầu, vui lòng nằm xuống với đống quà ngon bên cạnh mà cậu chỉ có thể ăn được bằng mắt. Tai cậu vẫn luôn luôn theo dõi tiếng chân mẹ bước, lệt sệt lệt sệt, lúc gần lúc xa, tiếng chiếc gáo dừa mỗi lần mẹ đặt lên chum nước lại âm vang lên, tiếng mẹ khe khẽ sai bảo chị Phiến dưới bếp điều gì mà lại nhắc đến tên cậu... Cậu hài lòng về tất cả nhưng riêng cái việc cần thiết nhất là yêu cầu mẹ từ nay đừng có đi chợ nữa thì cậu lại quên béng đi mất!

Một chiều cuối đông, mẹ dắt tôi đi trên con đường làng, băng qua cánh đồng Ao Vá bạt ngàn cuống rạ sau vụ gặt và lên lễ trên đền làng Quỳnh Lâu. Ôi đền Quỳnh Lâu mà dấu hiệu từ xa là một cây đa cổ thụ cao ngất từng xanh. Đền toạ lạc trên sườn ngọn núi thấp mang tên Nguyệt Lĩnh, tạo nên một cảnh thần tiên giữa một vùng đồng quê đẹp như tranh vẽ. Ngoài cây đa, xung quanh đền là cả một rừng cây cao chót vót, những tán cây giao nhau ở trên tạo thành một cái vòm mát rượi. Rất nhiều cò trắng làm tổ trên ngọn cây, suốt ngày người ta nghe thấy tiếng chúng kêu “cò cò” không ngớt. Bên cạnh sân đền là một bể cạn có mái cong như chiếc mui thuyền. Cảnh ngôi đền trong buổi chiều hôm sao mà im vắng! Tôi thơ thẩn dạo chơi, ngửng nhìn những chiếc lá to rơi lác đác xuống sân đền rộng rãi, hơi sợ khi thấy những cành đa to lớn vươn ra như những con trăn khổng lồ. Mẹ tôi bước lại dắt tôi vào đền gặp bà đồng (người đàn bà vừa làm nghề đồng bóng vừa là thủ đền). Tôi ngồi lắng nghe câu chuyện của hai người đàn bà nông thôn: giọng bà đồng rổn rảng, giọng mẹ tôi êm ái, họ nói với nhau thân thiết như hai chị em, thỉnh thoảng lại điểm một chuỗi cười. Mẹ tôi đội bát nhang ở đền này, cho nên đối với bà đồng, mẹ tôi là người cùng hội.

Bà đồng biệt đãi tôi một bát chè bột lọc, phía trên điểm dăm bảy hạt lạc. Chao ôi, đó chính là bát chè ngon nhất trong cả cuộc đời tôi, đến nỗi khi tôi viết những dòng này (30–9–2004), nghĩa là sau 57 năm trời, tôi vẫn còn nhớ nguyên cái hương vị vừa ngon ngọt vừa dịu mát không gì sánh nổi của bát chè đó.

Hai mẹ con nán chơi với bà đồng cho đến tận tối mịt mới từ giã bà, bước xuống mấy chục bậc thềm, băng qua con đường đất đỏ và đi tiếp xuống con đường xuyên cánh đồng để trở về nhà ở xóm Đường Ngang. Bằng những cuộc dẫn tôi đi chơi đền, chơi đình, hoặc đi ăn giỗ ở các gia đình họ hàng, hoặc đi ra đồng xem cảnh cày bừa cấy gặt của nông dân, hoặc đi chơi chợ Rộc Vỏ, mẹ tôi đã đào luyện nên trái tim tôi, đã gây dựng nên tâm hồn tôi. Sau này lớn lên, tôi đã khẳng định rằng tâm hồn tôi hoàn toàn là của mẹ cho tôi: nó cũng dịu dàng, giàu yêu thương và rung rinh cảm xúc y như thế!

Ngôi đền thờ Mẫu nghi thiên hạ toạ lạc giữa một thiên nhiên tuyệt diệu nhất của làng Quỳnh Lâu ấy thật là một cảnh Bồng Lai mà trời đất đã ban tặng cho làng Quỳnh Lâu quê mẹ tôi. Và nó sẽ mãi mãi là chốn Bồng Lai trong tâm khảm của tôi. Trong đời tôi, không ở đâu khác tôi có được niềm sung sướng ngất ngây và sự yên tĩnh tâm hồn bằng khi tôi đến tắm mình trong bóng mát của chốn Bồng Lai ấy, nơi đã lưu lại bóng dáng xa xưa của mẹ tôi bên cạnh tôi lúc tôi mới sáu bảy tuổi.

Nhưng than ôi, cảnh Bồng Lai ấy gặp phải buổi trời sầu đất thảm những năm 1956–1957, đã bị tàn phá thành bình địa! Sau đó, không biết dùng khoảnh đất vô giá ấy vào việc gì, người ta bèn xây dựng tại đó một một… trạm thuỷ nông! Cảnh Bồng Lai của văn hoá và tâm linh làng Quỳnh Lâu biến thành nơi điều tiết nước canh tác. Kể từ đấy, quê hương tôi mất hẳn bốn kì tích kiến trúc–văn hoá vào hạng ưu tú không những của xứ Quảng Yên mà còn của cả đất nước: đình Quỳnh Lâu, đền Quỳnh Lâu, chùa Vãng và chùa Khê Chanh. Cha tôi có câu thơ khóc mẹ vợ “Con tiếc mẹ biết thuở nào nguôi!”, còn tôi thì muốn kêu lên: “Tôi tiếc những di tích văn hoá của quê hương tôi biết thuở nào nguôi!”.

Năm 2001, tôi về quê mẹ và đã đi thăm tàn tích của ngôi đình, ngôi đền và ngôi chùa ấy, nhưng tôi đã không tìm thấy gì nữa cả ngoài mươi hòn đá tảng to lớn thuở trước là chân đế của những cây cột đình gỗ lim to cự đại và thẳng tắp mà ngày ấu thơ tôi vẫn dang tay ôm thử rồi áp má vào làn da nâu thẫm để tận hưởng cái cảm giác mát lạnh diệu kì của nó. Tôi đau lòng nhìn những tấm hoành phi và câu đối bị vứt lỏng chỏng trong nhà kho chứa đồ. Tôi chăm chú lắng nghe những truyền thuyết về đình chùa miếu mạo làng Quỳnh Lâu mà một người làng kể lại cho tôi. Người xưa có câu “thương hải biến vi tang điền” nghĩa là như thế đó chăng? Tôi chợt nhớ đến những câu thơ của Tản Đà mà cảm thấy vô hạn đắng cay:

Ấy trước ông cha mua để lại
Mà sau con cháu lấy làm chơi…

Nỗi đau tiếc của lòng tôi thôi đành xin gửi lại ngàn năm…

Trong tôi còn sống mãi một kí ức tuyệt thú. Khoảng bảy tám tuổi, tôi đã được đi cùng mẹ trong những chuyến canot chạy đường sông từ Quảng Yên sang Hải Phòng để cất vải về bán ở chợ Rộc Vỏ. Xuất phát từ bến sông Chanh, chiếc canot không tên của chúng tôi chạy ngược sông Bạch Đằng một đoạn rồi uốn lượn quanh co, chẳng mấy chốc đã chui qua chiếc cầu cao của thành phố Hải Phòng mà từ dưới sông trông lên tôi thấy có những xe cộ phóng vun vút rất là vui mắt. Cuối cùng canot cập bến sông Tam Bạc gần chợ Sắt.

Đối với một cậu bé, có gì so sánh được với niềm vui thích khi ngồi bên cửa sổ của chiếc canot đang lướt sóng, nhìn ra cảnh sông nước mênh mông với những bãi sú, những nhà lều ở ven sông, những người cất vó, những người câu cáy trên bãi lầy, và xa xa là những mái nhà ngói xinh đẹp. Và điều thú nhất là tôi làm trọng tài cho cuộc đua tốc độ giữa canot của mình với một chiếc canot khác lúc ấy cũng đang chạy trên mặt sông. Chiếc canot kia bên mạn mang dòng chữ Vạn Lợi, xé nước bắn vọt sang hai bên mũi lao đi và để lại phía sau đuôi những luồng sóng dữ dằn. Cuộc đua được phân thắng bại một cách mau chóng: chiếc Vạn Lợi lướt băng băng lên phía trước rất dễ dàng trong khi chiếc canot của tôi lạch bà lạch bạch tụt lại đằng sau như thể cam chịu phận hèn! Tôi tức lắm giậm cả hai chân xuống sàn thình thịch giục nó cố chạy nhanh lên, nhưng nó cứ ỳ ra như thể một người điếc. Tôi bèn vặn hỏi mẹ rằng tại sao không đi chiếc canot chạy như xé nước kia mà lại đi chiếc canot chạy chậm như rùa này? Nhưng mẹ đã ôn tồn giải thích cho tôi rằng mẹ chọn chiếc canot chạy hơi chậm này vì chủ của nó là chỗ quen biết, lại là con người tử tế, ăn ở có trước có sau.

Lúc canot cập bến, mọi người lũ lượt lên bờ. Vốn là một tay leo trèo có hạng, tôi lập tức nghĩ ra một một trò chơi mạo hiểm nhưng khiến tôi thích thú: bước ra khỏi khoang, chạy dọc theo bờ thành gỗ hơi cong của canot để tiến về phía mũi, bất chấp phía dưới tôi vẫn là mặt sông. Nhưng tôi vừa định thực hiện ý đồ đó thì mẹ quát lên một tiếng và tóm lấy tay tôi với vẻ mặt hốt hoảng. Rõ ràng bà không cho phép tôi làm cái việc liều lĩnh đó. Rồi bà bế xốc tôi lên kẹp chặt vào ngực như con nhện ôm chặt bọc trứng, thận trọng dò từng bước đi dọc thành canot để xuống bến. Bị tước mất quyền tự do chạy nhảy, tôi hơi bực vì mẹ không tin vào năng lực có thừa của tôi. Tuy nhiên trái tim nhỏ bé của tôi đã cảm nhận được tất cả tình yêu thương và sự chăm sóc cẩn thận nhất mà mẹ dành cho tôi trong một chuyến đi sông nước.

Có một lần mẹ tôi bị ốm khá nặng. Lập tức bà được cha tôi bố trí cho xuống nằm ở nhà ngang, giải chiếu ngay xuống đất sát bên cạnh chiếc cối xay thóc. Luật lệ của cha tôi là như vậy: hễ mẹ tôi ốm thì phải bị cách li ra một nơi. Bà nằm mê mệt và rên hừ hừ. Cứ ốm là rên: đó là đặc tính của bà, hình như rên như vậy làm cho bà cảm thấy dễ chịu.

Phải chăng tôi là đứa trẻ có trái tim lạnh nên sau khi đi chơi chán chê bên hàng xóm, tôi chạy về tạt xuống nhà ngang hé cánh cửa tò mò nhìn mẹ đang nằm rên, rồi tôi lại khép cửa và chạy biến đi chơi tiếp với lũ bạn?

Sau vài ba ngày uống tàn hương nước thải thánh ban, mẹ tôi lại khỏi. Có lẽ bà là hiện thân của câu tục ngữ “ốm no bò dậy”. Bà lại gồng gánh lên đường bươn chải ngược xuôi như thường. Kể cả sau này khi tôi đã lớn khôn, tôi vẫn phải kính phục sức chịu đựng và khả năng làm việc dẻo dai phi thường của bà. Câu “làm cùn chân cùn tay” bà thường nói không phải ngoa ngữ mà là sự thật. Thì ra trời đất đã sinh ra những con người như mẹ tôi, hiền hậu dịu dàng nhất đời nhưng lại tàng trữ một sức mạnh kiên cường sánh bằng gang thép.

Mẹ tôi lao động không thua ai, nhưng bà cũng có những niềm đam mê của mình, mà mãnh liệt nhất chính là thú chơi “đánh lú”. Bà có cả một nhóm bạn phụ nữ tuổi sàn sàn nhau, khoảng trên dưới 40 tuổi, có chung một sở thích và họ thường nhóm họp ở Rặng Thông cách nhà tôi chừng hơn một cây số để đánh lú. Trò chơi cờ bạc này tôi chưa được thấy ở địa phương nào khác ngoài xứ Quảng Yên. Cách chơi như sau: người chơi nắm trong lòng tay một cọc đồng tiền chinh rồi dùng cả hai bàn tay bẻ đôi cọc tiền ấy, loại đi một cọc, cọc còn lại trong tay được xỉa xuống chiếu từng nhát bốn đồng chinh một. Nhát xỉa cuối cùng tất nhiên chỉ còn từ bốn đồng chinh trở xuống. Nếu còn cả bốn đồng thì gọi là “túc”, còn ba đồng thì gọi là “tam”, còn hai đồng thì gọi là “lưỡng”, còn một đồng thì gọi là “yêu”. Nếu kết quả cú xỉa đúng như con số mình đã chọn trước thì thắng. Trong trò chơi này, mẹ tôi là người có số đỏ, bởi có hôm bà được liên tiếp mấy ván liền khiến cả chiếu “lú” phải kinh ngạc cho là bà có thánh độ. Cái thú ham mê cờ bạc nhưng chỉ chơi với số tiền vừa phải, không đến mức sát phạt nhau ấy đã làm tròn trịa thêm bức chân dung cuộc sống của mẹ tôi.

Trong vô số hồi ức của tôi về mẹ, có một pha “chết hụt” của tôi khiến mẹ tôi cũng bị một phen chết hụt theo. Hôm ấy vào lúc chập tối, mẹ cùng các chị tôi bận rộn soạn sửa vải vóc để hôm sau mang đi chợ Rộc Vỏ bán. Tôi một mình tha thẩn chơi ở ngoài sân và đang thích thú nhấm nháp một quả thanh trà có vị chua ngon hết sức hấp dẫn. Bất thình lình hột thanh trà khá to và trơn nhẫy chui tọt vào cổ họng tôi và mắc kẹt ở đấy. Ngay lập tức tôi hoàn toàn tắc thở, và kinh khủng hơn, cổ đã tắc nên tôi không thể nào cất tiếng kêu cứu được, dù mẹ và chị tôi chỉ ở cách tôi mười bước chân! Nghẹt thở chừng năm sáu giây trong tâm trạng tuyệt vọng, tôi biết chắc chắn chỉ lát nữa thôi mình sẽ chết. Chính trong phút nguy ngập ấy thì một bản năng đã thôi thúc tôi chạy ào đến bên cạnh mẹ ôm chặt lấy bà: nếu tôi phải chết thì chết trong cánh tay bà. Mẹ tôi nhận thấy nét mặt và cử chỉ hoảng loạn của tôi nhưng không hiểu được chuyện gì xảy ra. Trong lúc mẹ vô cùng hốt hoảng thì may thay, do phản xạ tự nhiên của cơ thể, tôi bỗng cúi thấp đầu và ói mạnh một cái khiến hột thanh trà từ trong họng bắn vọt ra ngoài. Lúc ấy mẹ và các chị tôi mới hiểu cái tai nạn khủng khiếp ấy. Tôi thoát chết trong gang tấc. Thì ra trong những phút sống cuối cùng của một đứa con, bao giờ nó cũng hướng về người đã sinh ra nó để cầu cứu, để được xót thương. Về sau này tôi được xem bộ phim của Nga trong đó có một cảnh rất cảm động: một người lính Nga đâm trúng ngực đối phương trong một cuộc giáp chiến, nhưng anh ta lại nghe thấy kẻ bị tử thương kêu lên lời cuối cùng bằng chính tiếng Nga: “Ma-ch!” (Mẹ!). Người lính Nga vô cùng kinh hoảng vội ném gươm xuống đất và lao tới ôm lấy người đồng bào mà mình đã giết lầm trong những giọt nước mắt hối hận sâu xa.

Có lần vừa đi học về tôi thấy mẹ ốm nằm trong giường mà quanh bà không hề có một thức quà gì cả, khiến lòng tôi vô cùng xót xa. Lúc ấy mùa nhãn đã qua rồi nhưng tôi vẫn bước ra vườn để tìm kiếm lại một lần nữa và bỗng nhìn thấy trên đỉnh ngọn cây nhãn còn sót lại một quả rất to. Tôi liền trổ tài leo trèo và chỉ sau vài phút đã hái được quả nhãn ấy mang vào giường biếu mẹ. Mẹ tôi dướn mắt nhìn và tỏ vẻ ngạc nhiên về sự xuất hiện của quả nhãn trái mùa quý hiếm đó. Ăn cơm xong tôi trở lại bên mẹ thì bà nói: “Trời ơi, quả nhãn con đưa cho mẹ khi nãy, đang lúc miệng đắng cổ háo, mẹ ăn thấy ngon quá chừng, ngon đến nỗi làm mẹ tỉnh cả người!”. Lời khen đó có sức mạnh lạ lùng khiến tôi vô cùng vui sướng.

Hình như ít có đứa con trai nào như tôi, thích tự tay dùng thìa bón cháo cho mẹ những khi mẹ ốm. Dường như tôi có năng khiếu đặc biệt để làm cái công việc tế nhị mà đáng lẽ thuộc bổn phận của các chị tôi. Mẹ tôi rất hài lòng với việc làm ấy của tôi: nằm trên giường, người ngoan ngoãn há miệng ăn thun thút, chỉ một lúc hết bát cháo. Tôi nhận thấy mỗi bát cháo bình thường ấy có tác dụng chữa khỏi bệnh cho mẹ hiệu nghiệm hơn cả mọi thứ thuốc men, bởi vì cùng lắm chỉ ăn đến bát cháo thứ ba là bà đã ngồi dậy và nhúc nhắc đi lại được rồi.

Mẹ tôi là biểu trưng cho mẫu phụ nữ suốt đời toàn tâm toàn ý vì gia đình và dòng họ.

Nhà của bốn người anh em trai bà ở liền kề với nhà bà trong xóm Đường Ngang. So với họ, bà giàu có hơn bởi vợ chồng bà vừa có chí vừa biết cách làm giàu.

Mặc dù “anh em kiến giải nhất phận” nhưng suốt bao nhiêu năm trời tôi đã chứng kiến ở bà tấm lòng thảo lảo của một người em gái đối với anh và một người chị gái đối với các em. Không khi nào anh em bà cần đến sự trợ giúp của bà mà bà lại không sẵn lòng. Một dạo người anh ruột của bà gặp cơn đen vận túng đến nỗi phải tính chuyện bán con trâu duy nhất là đầu cơ nghiệp mà cha mẹ để lại. Một nỗi thương xót lớn lao đã khiến bà ra tay giúp anh một món tiền khá lớn trả hết nợ nần để quyết giữ lại con trâu cho anh cày ruộng. Tình thương yêu của bà đã tràn xuống cả thế hệ con cháu. Hồi còn nhỏ ở Quảng Yên, bất kì thời khắc nào trong ngày tôi cũng có thể nghe thấy hai tiếng “cô Phiến” (gọi mẹ tôi bằng tên chị cả tôi), giống như một điệp khúc rất đỗi thân thương và tin cậy mà những người anh em hoặc vợ con của họ réo gọi bà, không ngoài mục đích nhờ cậy một việc gì đó. Câu khẩu ngữ nổi tiếng khúc ruột trên khúc ruột dưới của bà nhằm khẳng định tình cảm ruột thịt không gì ở đời làm suy suyển được, đã khắc sâu trong tâm khảm của tôi. Trong lúc tuổi già, bà vẫn thường xuyên rời gia đình mình ở Hải Phòng trở về Quảng Yên để được sống gần gũi anh chị em và con cháu, và cho dù sức tàn lực kiệt, bà vẫn có những việc làm nhỏ bé để cưu mang săn sóc mọi người cho đến tận phút cuối cùng của cuộc đời bà. Tình thương yêu gia tộc là một điểm sáng nổi trội trong nhân cách của bà mà chúng tôi, những đứa con của bà, luôn lấy đó làm gương.

Trong tâm trí tôi còn lưu giữ mãi một kí ức trong đó tôi hết sức kinh ngạc chứng kiến một nét tính cách hoàn toàn khác lạ của mẹ tôi.

Hôm ấy tại thôn Quỳnh Lâu có cuộc họp nhân dân quan trọng dưới sự chủ toạ của đội trưởng đội cải cách ruộng đất, một người địa phương khác được cử về để phát động phong trào tại đây. Dưới trướng anh là những phần tử nòng cốt gồm các du kích xã và một số bần cố nông đã được chọn lựa và tập huấn từ trước. Nội dung cuộc họp là khui ra bằng hết những gia đình thuộc thành phần địa chủ và phú nông. Mọi người không khỏi ngạc nhiên thấy có những anh nông dân trong làng xưa nay hiền như cục đất, cạy miệng cũng không nói một câu, vậy mà trong buổi họp này đột nhiên đứng lên nói oang oang hết ý kiến nọ đến ý kiến kia như một diễn giả. Người nổi đình nổi đám nhất trong số đó là anh Đãng du kích xã. Không hiểu có thù hằn gì với gia đình ông Tét trong thôn mà anh hùng hổ đề xuất với Đội như sau:

– Nhà lão Tét, thằng bố đã bị quy địa chủ trong kì họp trước, vậy thì trong cuộc họp hôm nay tôi đề nghị thằng Đẹt con trai cả của nó cũng phải bị quy là địa chủ!

Sau khi vài người nữa trong thôn – mà hằng ngày tôi vẫn thấy họ quần nâu áo vá nón mê vác cày dắt bò đi ngang trước cửa nhà tôi để ra đồng làm việc – bị quy địa chủ hoặc phú nông, bỗng anh Đãng khui gia đình tôi ra để mổ xẻ:

– Gia đình bà Trà có nhiều ruộng cho phát canh thu tô, vậy theo tôi cũng thuộc thành phần địa chủ!

Anh ta không hề biết rằng mình nói câu đó là chọc phải tổ kiến lửa. Mẹ tôi liền đứng lên lớn tiếng đốp lại vào mặt anh ta như sau:

– Mày mà dám nói câu ấy thì tao cắm cừ vào mồm mày , nghe chửa? Cả cái làng này, cả cái tổng này, ai mà không biết gia đình tao xưa nay chỉ sống bằng nghề thủ công may vá quần áo và buôn bán hàng tấm? Tao bóp mồm bóp miệng, ăn chắt để dành bao nhiêu năm giời, tích cóp được một ít tiền mua cho con cái ít sào ruộng làm của để dành phòng khi cơ nhỡ sau này. Tất cả các ruộng ấy tao đều giao cho người làng trồng cấy lấy thóc mà ăn, không thu của ai một đồng tiền, một bát gạo nào. Tất cả những người ấy đều hãy còn sờ sờ ra kia, mày hãy hỏi họ, hay mày về hỏi ngay mẹ mày xem có phải đúng như thế không? Vậy mà mày dám mở mồm vu cho tao là địa chủ phát canh thu tô, để hại gia đình tao hả? Mày còn nhớ không hở đồ vô ơn: nếu mẹ mày mà không được ông Điệp nhà tao đứng ra xọng với Tây nhận mẹ mày là cô, và cam đoan rằng bà chỉ đi cắt cỏ cho bò ăn chứ không phải Việt Minh đi đặt mìn, thì đã bị chúng đạp cho chết rục xác ở hàng rào thép gai cạnh lô cốt Cây Vè rồi?

Anh du kích xã bất ngờ bị mẹ tôi té tát cho một thôi một hồi tối tăm mặt mũi, bị bẽ mặt trước bà con , bèn tức sôi sùng sục nói:

– Bà nên nhớ đây là cuộc họp cải cách ruộng đất chứ không phải cái chợ, bà mà còn già mồm tôi cho du kích trói bà lại bây giờ!

Mẹ tôi đanh mặt lên quát:

– Tao thách mày trói tao đấy! Mày có giỏi thì về gọi ngay mẹ mày ra đây, xem bà ấy có vả cho rơi răng hộc máu mồm mày ra không?

Anh du kích Đãng do hăng tiết vịt quá nên quên béng mất một điều cực kì quan trọng: mẹ tôi và mẹ anh ta vốn là chị em bạn con chấy cắn đôi suốt từ lúc còn cùng nhau đánh chắt đánh chuyền đến tận bây giờ!

Có lẽ lần đầu tiên trong đời, Đãng được nếm cái cảm giác của một dũng sĩ đụng phải một dũng sĩ khác dữ dằn không kém. Anh ta không khỏi cảm thấy chột dạ bởi sự cương cường khác thường và những lí lẽ đanh thép của bà già nên đâm ra ngọng nghịu không tìm được lời nào để phản công. Giữa lúc ấy, thật bất ngờ, chính anh đội trưởng đội cải cách đã kịp thời can thiệp để giải toả. Là một cán bộ chuyên trách, nắm rất vững nguyên tắc “các thành phần công thương nghiệp không thuộc đối tượng của cuộc cải cách ruộng đất”, anh hiểu ngay rằng Đãng đã quy kết bậy bạ khiến bà già nổi xung. Vả lại nếu để cho một cuộc họp quan trọng xảy ra một cuộc cãi lộn vô lối như thế thì còn ra thể thống gì nữa! Anh cũng rất tinh ý nhận thấy có nhiều tiếng xì xào phản đối chứng tỏ hầu hết bà con trong cuộc họp đều đứng về phía bà già. Anh kịp thời lên tiếng:

– Thôi, đồng chí Đãng, việc bình xét thành phần, “trên” đã có tiêu chuẩn rõ ràng. Chúng ta còn nhiều đối tượng khác cần xét hơn trong cuộc họp hôm nay. Việc cụ Trà, ta hãy tạm để lại đã.

Lúc ấy tôi mới mười hai tuổi, còn rất non nớt, đã sửng sốt chứng kiến hành vi động trời của mẹ tôi: giữa đám đông, một thân một mình đứng lên dũng mãnh đối chọi với một người là tay chân khét tiếng của Đội. Và nếu “anh Đội” về hùa với Đãng thì chắc chắn bà cũng không ngần ngại đốp chát cả với anh ta bất chấp lúc ấy “Đội” được coi là to hơn trời. Chỉ tôi, kẻ biết rõ cái cốt cách cương cường của mẹ mình mới thấu hiểu được cội nguồn những suy nghĩ và hành động của bà. Đối với bà, những kẻ cày thuê cuốc mướn vừa mới mọc mũi sủi tăm lên được một tí như Đãng, chẳng qua cũng chỉ bằng vai với lũ con cháu của bà mà thôi chứ vương tướng gí! Phải chăng mẹ tôi tuổi Tân Hợi mang mệnh “xuyến thoa kim” nên không hề sợ bất cứ một thứ lửa nào?

Sau cuộc họp ấy, tôi cứ suy nghĩ mãi về sự mềm mỏng, khiêm nhường của “anh Đội” trước mẹ tôi. Tại sao anh không đứng về phía Đãng và giữ thể diện cho anh ta? Cuối cùng thì tôi đã tìm ra câu trả lời: chính sự dũng mãnh và cái thế thượng phong của mẹ tôi đã bất ngờ làm bật dậy trong tiềm thức của “anh Đội” cái hình ảnh vĩ đại không gì có thể đọ sánh và khuất phục được của NGƯỜI MẸ VIỆT NAM MUÔN THUỞ trong đó có mẹ anh. Bản chất của tất cả những bà mẹ ấy là một: có bao giờ họ lại đi “sợ ngược” những thằng nhãi ranh chưa sạch máu đầu vốn chỉ là hòn máu mà các bà đã thai nghén chín tháng mười ngày trong dạ con và “banh l. xé váy” đẻ ra nó? Hẳn khi nghe mẹ tôi quát mắng Đãng, anh ta bỗng giật mình tưởng như nghe thấy rõ mồn một tiếng mẹ mình cầm roi quát mắng mình ngày nào, và anh không thể không rúng sợ.

Năm 1963, mùa hè năm học thứ nhất đại học chấm dứt. Lúc ấy giữa tôi và cô nàng Lê, người yêu của tôi là sinh viên trường Y, đang xảy ra một cuộc giận nhau trầm trọng. Đã bốn tuần lễ, tuy cùng ở thành phố quê hương Hải Phòng nhưng chúng tôi cố tình không gặp nhau. Thế nhưng đến giờ phút đáp tàu hoả để trở lại thủ đô bước vào năm học mới thì là cả một chuyện khác chứ! Cô nàng đinh ninh rằng dù trái tim tôi có là sắt là đồng đi nữa thì trong ngày cuối cùng ở Hải Phòng, thế nào tôi cũng phải dẹp chuyện giận hờn sang một bên để sang nhà nàng thống nhất kế hoạch đi cùng với nhau một chuyến tàu lên Hà Nội. Nàng đã đặt hết hi vọng vào tôi ở cái giờ phút chót ấy, và tôi biết trong lòng nàng nỗi giận đã “chuyển hoá hết sang mặt đối lập” là nỗi yêu và nỗi mong rồi. Nhưng tôi là một anh chàng đáng sợ hơn là nàng tưởng: tôi đã quyết định không gặp nàng gì hết và để nàng tự lo liệu mà đi một mình! Tôi đã cư xử với nàng tàn nhẫn không khác gì Grigôri cư xử với Natalia trong “Sông Đông êm đềm” vậy! (nửa tháng sau nàng viết thư thổ lộ với tôi rằng phải thui thủi ra đi một mình, ở trên tàu nàng cảm thấy tủi thân và chỉ muốn khóc). Rõ ràng nỗi đau buồn của nàng đã bằng thần giao cách cảm mà truyền đến tôi. Đúng 13 giờ 30 phút, tôi nghe tiếng còi tàu ngoài ga rúc lên hồi cuối cùng trong lúc nó chuyển bánh, và cả tâm hồn tôi bỗng chao đảo khủng khiếp. Đó chính là lúc sợi dây tình cảm trong lòng hai kẻ yêu nhau mà không được thấy nhau căng ra như muốn rứt đứt cả tim gan! Hình như lúc đó mẹ tôi đang đăm đăm nhìn tôi và hỏi tôi những câu gì đó nhưng tôi hoàn toàn không nghe thấy. Hẳn bà đã đoán ra được có nỗi buồn lớn lao nào đó trong lòng tôi. Thế rồi khi xách chiếc xắc chuẩn bị ra ga đi chuyến tàu cuối ngày lên Hà Nội, vì trong lòng nặng trĩu nỗi buồn của tình yêu nên tôi không còn lòng nào quan tâm đến mẹ. Tôi chào mẹ để sẵn sàng bước ra cửa thì mẹ tôi chợt mếu máo khóc nhìn vào khuôn mặt tôi và buột miệng thốt lên: “Ôi, tôi nhớ con tôi!”. Đó là tiếng kêu đau đớn từ đáy lòng một bà mẹ quê và nó dội vào lòng tôi mãnh liệt đến nỗi nước mắt tôi bỗng trào ra. Tôi dịu dàng ôm lấy mẹ rồi lựa lời an ủi mẹ theo cách riêng của tôi:

– Mẹ đừng buồn, không có gì đáng sợ đâu mẹ ạ! Hà Nội–Hải Phòng chỉ cách nhau có hơn một trăm cây số, bất cứ lúc nào mẹ con mình cần gặp nhau, hết giờ học con chỉ việc nhảy tàu tối, vài ba tiếng sau là con đã có mặt ở nhà với mẹ ngay thôi mà!

Nỗi buồn chia li của hai mẹ con vừa nhóm lên đã bị tôi dập tắt cốt để tránh cho mẹ nỗi khổ vì phải sống xa tôi. Hình như nỗi buồn của mẹ tôi có vơi đi thật. Bà không khóc nữa và rút khăn mù xoa lau mắt, tiễn tôi ra cửa:

– Ừ, con đi cho mạnh khoẻ, học hành cho bằng chúng bằng bạn, thỉnh thoảng về với cha mẹ con nhé!

Rồi bà đứng lặng ở trước cửa nhìn theo tôi sải bước trên dọc đường phố Chùa Hàng.

Ôi tình mẹ mà không có gì ở trên đời này – kể cả tình yêu – có thể so sánh nổi! Sau này, vào năm 1965, khi tôi đã bị hất khỏi trường đại học và trở thành một người thợ lấm lem dầu mỡ, lần đầu tiên phải nếm vị mật đắng của tình yêu, không nén nổi tôi đã thổ lộ với mẹ nỗi đau buồn của mình. Bà đã lặng đi giây lâu rồi nói giọng ngậm ngùi:

– Mẹ biết rồi, lúc trước con thông đồng bén giọt thì êm thấm chẳng có chuyện gì, còn bây giờ con gặp phải cơn đen vận túng thì người ta rời con ra chứ gì?

Tôi hiểu Lê, người con gái tôi yêu không đến nỗi tầm thường như mẹ tôi nghĩ, nhưng rốt cuộc tôi không thể chối cãi được rằng: chính cảnh thất cơ lơ vận của tôi là nguyên do chính đưa đến những rạn vỡ trong tình yêu. Sau những cơn thống khổ đó, tôi đã đi đến kết luận rằng: tình yêu của trai gái, dù sâu nặng đến đâu đi nữa vẫn là một thứ tình cảm có điều kiện. Khi những điều kiện ấy, vì lí do này hay lí do khác mà không còn nữa thì tình yêu ấy rất dễ đi đến tan vỡ. Chỉ có tình mẹ là hoàn toàn vô điều kiện, không thể lạt phai, không bao giờ tàn tạ! Thậm chí người mẹ, trong đắng cay tột độ, vẫn yêu đứa con phản phúc của mình, vẫn nghĩ rằng nó chỉ vì quá dại dột hay vì tiền oan nghiệp chướng mà mắc phải tội lỗi. Bà vẫn đến bên nấm mồ của nó nhỏ nước mắt khóc thương nó, an ủi nó, vẫn cầu nguyện cho nó được trời phật tha thứ và cứu rỗi. Thi sĩ Đức Henrich Heine đã viết về mẹ những câu thơ làm chấn động trái tim cả ức triệu người trên thế giới:

Trong cơn mê, con từ mẹ ra đi,
Con đã đi cùng trời cuối đất
Để tìm kiếm tình yêu đẹp nhất
Trong đôi cánh tay con sẽ ôm ghì.

Con đã đi khắp nơi khắp nẻo,
Con đập vào các cửa mỏi rời tay,
Con đã van xin như một kẻ ăn mày
Nhưng chỉ nhận những cái nhìn lạnh lẽo.

Tìm không thấy tình yêu, con trở về với mẹ,
Tâm trí chán chê, thân thể rã rời,
Con bỗng thấy một tình yêu chân thật
Trong đôi mắt dịu hiền của mẹ, mẹ ơi!


(Tế Hanh dịch )

Năm 1980, sau khi đã bị rơi vào cảnh đường cùng trên đất Bắc, tôi bèn hạ một quyết định táo bạo: đưa cả gia đình di chuyển vào thành phố Sài Gòn để tìm một cuộc sống mới. Mặc dù già nua, mẹ tôi đã can đảm tán thành ý định đó của tôi. Bà thuộc mẫu phụ nữ mạnh mẽ và ưa hành động. Vì đinh ninh rằng ngay trong năm ấy sẽ rời đất Bắc để đến một xứ sở không có mùa đông, bà đã mang chiếc áo bông đẹp duy nhất của mình tặng lại cho người em ruột của bà ở Quảng Yên để làm kỉ niệm. Nhưng rủi thay, cuộc đi Sài Gòn ấy bị đổ bể! Không còn áo bông, mẹ biết lấy gì để mặc trong mùa đông tới? Vào thời buổi gạo châu củi quế bấy giờ, vải không ai bán, sắm cho mẹ một chiếc áo bông là cả một chuyện gay go. Cho nên ở ngoài đường biết bao bà mẹ già đã phải mang trên người những tấm áo vá víu tả tơi. Tôi bèn hạ quyết tâm sẽ tự tay làm một chiếc áo bông cho mẹ mặc. Tôi vốn là con nhà thợ may, lại thêm có con mắt thợ nên tôi tin chắc mình sẽ làm được. Tôi bèn ra chợ Sắt mua một chiếc áo bông hàng chợ rộng thùng thình về vứt vỏ bọc ngoài, chỉ lấy mền bông đem cắt xén và khâu lại cho vừa với vóc người mẹ. Còn vải bọc thì tôi lấy từ hai chiếc áo dài cũ bằng lụa khá đẹp mà mẹ không dùng nữa nhưng vẫn cất trong rương từ lâu. Cuối cùng thì tôi cũng mày mò làm xong một chiếc áo bông phụ nữ trông tạm được, chỉ có điều tay áo bị chật một chút do… may vụng. Nhưng mẹ tôi đã vui lòng mặc chiếc áo ấy cho đến tận lúc cuối đời.

Có một ấn tượng về mẹ đã khắc sâu mãi trong trái tim tôi. Trong những năm cuối cùng tôi còn ở Hải Phòng, mẹ đã gần 80 tuổi, vậy mà mỗi khi mẹ thắp hương cúng song thân, tôi thấy lần nào nước mắt cũng ứa ra trên đôi mắt người. Chao ôi, thì ra tình phụ tử và tình mẫu tử là thứ tình cảm bất diệt trong cõi càn khôn này, nhưng lúc ấy tôi chưa được trải nghiệm như mẹ nên tôi chưa thấu hiểu. Sau này khi cha mẹ tôi không còn nữa tôi mới hiểu ra thì than ôi, tất cả đã muộn mất rồi! Tôi chỉ còn biết hối hận bằng nước mắt. Hèn nào ông Tử Lộ, một trong 28 gương hiếu thảo ngày xưa khi đạt được vinh hoa phú quý rồi đã vô cùng đau xót thốt lên với mọi người rằng: “Tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả cảnh sống giàu sang này để lại được đội gạo nuôi song thân tôi như thuở trước!”.

Kí ức đậm nét nhất về mẹ tôi trong quãng thời gian cuối cùng của cuộc đời mẹ là hình ảnh mẹ đứng ở bên này đầu Dốc Võng làng Quỳnh Lâu mỏi mắt nhìn về phía bên kia đầu dốc để ngóng chờ tôi đang cùng mấy người bạn thân là anh Nghi, anh Dung, Đại Bàng và Lệ Hoàng đi chơi trong núi trở về. Từ rất xa, tôi đã trông thấy cái bóng dáng không thể lẫn được của mẹ tôi đang đứng bên đầu dốc, và không chỉ thế, tôi còn thấy được tất cả nỗi bồn chồn lo lắng của bà nữa. Tội nghiệp, mẹ không chỉ mong chúng tôi trở về nhà, bà còn lo rằng cuộc du chơi vào rừng núi của bọn tôi lỡ xảy ra điều gì bất trắc chăng? Giống hệt như ngày xưa, mỗi khi tôi ra sông Cấm bơi lội thì ở nhà mẹ tôi lo lắng không phút nào nguôi. Vâng, những nỗi lo hão lo huyền ấy, nhiều người cho là lẩn thẩn, nhưng chính nó diễn đạt đầy đủ nhất sự nhạy cảm thiên chân trong tâm hồn người mẹ hiền của tôi. Bởi vì sự an toàn của tôi luôn luôn là mối quan tâm lớn nhất trong cả cuộc đời bà.

Khi được tin mẹ ốm, tôi bỏ hết công việc, hối hả phóng xe máy từ Hải Phòng về Quảng Yên với mẹ lúc ấy đang ở với chị Phiến tôi. Tôi chạy đến bên mẹ rồi nâng mẹ dậy để mẹ ngồi dựa lưng vào ngực tôi ở trên giường. Trong phút giây ôm ấp tha thiết ấy, người đã được nghe những lời thương yêu, ân hận từ miệng tôi và được thấy những cử chỉ săn sóc tỉ mỉ nhất của tôi. Nhưng tôi bỗng thấy người lên tiếng trách móc:

– Sao lâu quá con không về với mẹ? Con định bỏ mẹ ư? Bây giờ con quý mẹ thế này mà sao mẹ vẫn không thấy vui?

Chao ôi, đó chính là những lời nói cuối cùng của mẹ tôi. Từ đấy bà không nói thêm một lời nào nữa. Lời trách cứ quá đúng khiến tôi không thể chối cãi. Chỉ tôi mới cắt nghĩa được cái nông nỗi ấy: thời gian đó đời tôi đang bị đẩy đến bên bờ vực của cuộc đấu tranh khốc liệt “tồn tại hay không tồn tại” về tất cả mọi phương diện từ vật chất, sự nghiệp đến tình yêu, hôn nhân và gia đình. Chính vì vậy mẹ buộc phải về sống ở bên quê, phải xa đứa con trai duy nhất mà bao giờ cũng là tất cả đối với mẹ. Trong cách xa đằng đẵng, mẹ đã dùng toàn bộ thời gian mẹ còn sống trên đời, đếm đến từng giây từng phút một để mong ngóng mỗi một mình tôi thôi, đúng như những câu thơ trong bài hát “Thuyền viễn xứ” của Phạm Duy:

Quay lại hướng làng Đà Giang lệ ướt nồng
Mẹ già ngồi im bóng
Mái tuyết sương mong con bạc lòng…

Sau vài hôm ở Quảng Yên sắc và bón cho mẹ những chén thuốc bắc hảo hạng của cụ Vũ Ngọc Lung, thầy lang trứ danh và là bạn vong niên của tôi, tôi thuê một chiếc ôtô đưa mẹ tôi về Hải Phòng trong căn nhà riêng tôi vừa dựng được ở phố Cát Dài. Trong lòng tôi bỗng bừng dậy một quyết tâm sắt đá: đương đầu và chống trả định mệnh để cứu sống mẹ bằng tất cả sự thông thái của mình, để hai mẹ con lại được tiếp tục sống những ngày hạnh phúc bên nhau nhưng chắc chắn sẽ với một cung bậc hoàn toàn mới.

Thế nhưng hỡi ôi, cánh cửa của số mệnh đã khép lại rồi: sau một tuần nằm bệnh với một đêm rên rỉ đau thương trong cô đơn và chua xót, mẹ tôi đã lặng lẽ ra đi…

Đêm hôm ấy, trong khi mọi người trong gia đình đều rã rời mệt mỏi và chìm vào giấc ngủ thì một mình tôi thức trắng ngồi bên quan tài mẹ để tâm sự tất cả với mẹ trong nước mắt chan hoà. Suốt cuộc đời, tôi chưa bao giờ nói với mẹ những điều thiết tha và sâu lắng đến thế. Và chính trong giờ phút thiêng liêng nhất của cuộc đời tôi ấy, một câu tâm tưởng có lẽ là sâu sắc bậc nhất viết về tình cảm của hai mẹ con tôi đã hình thành: “Mẹ con ta xa nhau để làm sống lại một tình yêu vĩ đại và vĩnh viễn”.

Vâng, chỉ có sự tử biệt mới khẳng định được những điều gì là vĩ đại và vĩnh viễn trong cõi đời này. Sự tử biệt ấy chính là một phép mầu do Thượng Đế tạo ra nhằm răn dạy con người về điều cao quý nhất trên thế gian: tình thương yêu cao cả thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái, giữa con người với con người nói chung. Bởi một khi con người hãy còn được sống cùng nhau trên đời thì buồn thay, ngay cả những cái vĩ đại và thiêng liêng nhất cũng có thể bị che lấp, thậm chí bị xúc phạm bởi sự tầm thường của cuộc sống trần gian cũng như bởi sự tồi tàn không sao tưởng tượng nổi của chính con người phàm tục chúng ta.


... CÒN TIẾP


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SaìGòn ngày 12.02.2013.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com