TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái;
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).




















THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN


Chân thành cảm tạ anh Thế Phong đã cho phép đăng tải.
Từ Vũ


lá thư E-mail 5 nhờ chuyển :
_________________


Dacson N. Eustachon,
nhà làm từ điển () Houston,
Texas, 77002





“Nhận được thư tay, cùng với một số trang trong vần S và T bản thảo cuốn Từ điển Việt Anh mà ông đang soạn, nhấn mạnh: “Chữ nghĩa phải dồn cho đặc sệt, nhưng sẽ cố gắng cho đủ sáng sủa. Còn cả 5 hay 10 năm nữa mới hoàn tất. Như nuôi con mọn, săn sóc, kiểm tra, hàng ngày phải bắt chấy, rận từng chữ, từng câu một. Làm từ điển, chép lại một số cuốn từ điển của người đi trước không phải lối tôi làm. Chỉ có cái thú, hàng ngày làm việc đều, tìm được nhiều cái hay, cái lạ ẩn, nay mới phát giác được. Nếu làm để mưu sinh, không nên làm, vì một tiếng đồng hồ không kiếm được một đô la tiền lao động. Tôi mê làm việc này trong phần đời tôi còn lại hơn tất cả những đam mê khác. Như trên, tôi nói với ông, tôi không cóp của ai nhưng chỉ tham khảo và coi làm từ điển như tác phẩm sáng tạo (có thể cả ngôn ngữ lẫn ngữ pháp nữa). Nếu rảnh, ông mua dùm tôi ít sách theo danh sách đính kèm và có thể kể cho nghe vài câu chuyện nhà văn các ông, thời tiền chiến đến bây giờ còn cóp văn chương của nhau không?,…. (thư đề 4-12-98)
Ông Dacson N. Eustachon – phương danh ông, đúng là tên người có quốc tịch Mỹ. Người Mỹ hoặc Mỹ gốc Việt, hoặc mới sang Mỹ mới nhất trong số bạn của tôi, nhà thơ Thanh Chương, Không quân xưa - anh ấy đề ngày, tháng: Dec 22.98. Anh ấy rời Sài gòn vào 12.12.98. Tôi xin phép ông hơi dài dòng nói về phong bì của Thanh Chương gửi thư, sau đó sẽ đề cập đến vài trường hợp mà tôi biết về một số vị danh sĩ, nghệ nhân cóp tác phẩm của người khác. Xác đáng nhất, gọi là đạo văn. Phong bì anh Chương gửi - thứ nhất, không cùng cỡ như ở Huê Kỳ; bởi sản xuất tại Việt Nam, đúng hơn là Sài gòn. Bao thư y như thời 1954, trước 1975 cho tới hôm nay, mẫu mã chẳng thay đổi. Riêng phong thư người sản xuất ra nó sẽ không thể tiên đoán được nó vượt nửa trái địa cầu sang California rồi trở lại Sài Gòn, phường Tân Định, với hai tem dấu 32 cents, dấu bưu cục Oxnardo CA, PM 23 Dec 1998. Phong thư đi đủ một vòng trái đất, trở lại nơi bản địa sản xuất. Như vậy, chiếc phong bì tĩnh vật cũng có một số phận an bài từ đâu đó.
Việc năm năm hay mười năm nữa, cuốn Từ điển Việt Anh mới xuất bản, nay đã soạn đến vần S, T - tôi thấy ông kỹ quá đó. Từ điển chỉ trong một hai năm, một số ngôn từ được thay mới, ông luôn luôn phải cập nhật hóa; công việc vú em Dacson hơi mệt nhọc. Ông đừng phàn nàn với chữ vú em, tôi dùng từ này rất âu yếm, có tình mẫu tử. Như có một tập thơ của tôi, qua hai thứ tiếng Việt, Anh có chữ vú em: Nam Việt Nam, đứa trẻ thơ của vú em Huê Kỳ, Đàm Xuân Cận dịch thành South Vietnam, the baby in the arms of the American nurse. Hiện nay, tôi không có sách trong tay, đang viết thư nhờ Tiêu Dao, con gái Uyên Thao, ở đại học Iowa photo lại giúp và nếu gửi nhờ chuyển cho tác giả, ông vui lòng giúp nhé.
Bây giờ nói đến việc danh sĩ cóp văn. Thập niên 30, Miền Bắc có hai nhà xuất bản Tân Dân và Đời Nay thường trực kèn cựa hơn thua. Đời Nay có hai tờ Phong Hoá và Ngày Nay thì Tân Dân của Vũ Đình Long có Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Ích Hữu, Phổ thông Bán Nguyệt San. Như Đời Nay có loại sách hồng Lá Mạ rẻ tiền, hình như 0p25 (25xu), lập tức Tân Dân có Phổ Thông Bán Nguyệt San hạ giá cho bằng nhau. Như Thiên Hư (bút danh khác của Vũ Trọng Phụng), nhà văn là Thư ký tòa soạn Đông Dương tạp chí (La Revue Indochinoise có phần Pháp ngữ của Nguyễn Giang - con trai Nguyễn Văn Vĩnh). Trong bài báo Thiên Hư gọi là "vạch cho ta rõ những cái hay hay của làng văn, làng báo" tiền chiến. Tân Dân có các cây bút trụ cột, các nhà văn sừng sỏ như: Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan, Tchya, Lan Khai, Trương Tửu, …, còn Đời Nay là Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, …. Ngày Nay vạch đích danh Nguyễn Công Hoan, như là một sỉ nhục ăn cắp cốt truyện Đoạn tuyệt viết thành Cô giáo Minh xuất bản sau. Trong truyện này, ông Hoan kết cấu khác hẳn luận đề cải cách xã hội trong tiểu thuyết của Nhất Linh: “Cho cá nhân nhượng bộ, dung hoà mới cũ, đành hy sinh hạnh phúc riêng tư”. Cuộc bút chiến bùng lên rồi xẹp dần. Để trả đũa, báo Ích Hữu tố cáo đích danh danh sĩ Khái Hưng ăn cắp truyện Ngược giòng gửi dự thi giải văn chương Tự lực văn đoàn, viết thành truyện Thoát ly đăng trên Ngày Nay. Thầy giáo Từ Ngọc, tác giả, đang lo chạy đôn đáo xuất bản Ngược giòng hầu độc giả có chứng cớ so sánh. Và, Thiên Hư cũng đặt dấu hỏi nước đôi: “Nếu sự ấy mà có thật thì hẳn có một sự ghê gớm cho Tự lực văn đoàn, báo Ngày Nay, cho ông Khái Hưng. Trái lại, nếu Từ Ngọc không chứng minh được Khái Hưng mượn cốt truyện của mình, sẽ mắc tội vu cáo và báo Ích Hữu liên đới chịu trách nhiệm”. Tóm tắt cốt truyện Ngược giòng và Thoát ly đăng trên Ngày Nay (đến số 87) đều na ná giống nhau, riêng Vũ Trọng Phụng cho là giống như in. Nhà văn này còn đưa ra ý kiến, nếu Thoát ly của Khái Hưng giải quyết đoạn cuối không thoát ly hoặc kết lơ lửng theo lối kết truyện của nhà văn Đỗ Đức Thu (cộng tác với TLVĐ) thì cũng không cấm. Vậy ta hãy chờ.
Tiếp số báo sau, vẫn trên Đông Dương Tạp Chí, bài: “Quanh việc nhà văn sĩ Khái Hưng bị buộc tội ăn cắp văn”, Thiên Hư Vũ Trọng Phụng thêm một tiêu đề (xưa gọi là sur titre): “Cần phải chiêu tập ban thẩm phán danh dự lần nữa”.
"…Trong báo Ích Hữu, nhà văn sĩ Từ Ngọc, giáo sư, tác giả cuốn Cậu bé nhà quê và Khói hương, sau khi đưa ra một áng văn nhan đề là Ngược giòng dự thi Giải thưởng Tự lực văn đoàn mà không được (tất nhiên) đã tố cáo nhà danh sĩ Khái Hưng ăn cắp cốt truyện của ông ta để viết nên truyện Thoát ly, hiện đăng ở báo Ngày Nay. Ông Từ Ngọc thận trọng lắm, đã vẽ rạch ròi hai cái cốt truyện ấy trên Í.H (Ích Hữu) mà chúng tôi phải trích lên đây thì độc giả mới hiểu đầu đuôi cho rành mạch được.
"Khi xưa, thấy Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng truyện Cô giáo Minh của ông Nguyễn Công Hoan, cũng có chuyện mẹ chồng nàng dâu như trong truyện Đoạn tuyệt, các ông ở TLVĐ reo ầm lên để vu cho ông Hoan ăn cắp ý văn trong truyện Đoạn tuyệt. Thế thì lần này, không biết tôi có thể dùng chữ ăn cắp mà tặng lại ông Khái Hưng không nhỉ?!.
“Muốn có chứng cớ xin tóm tắt đoạn đầu quyển Ngược giòng: Cô Châu, con một ông Thừa ở Chợ Chu, vì bồ côi mẹ, phải ở với một người dì ghẻ ác nghiệt. Mẹ cô sở dĩ chết đi là vì từ khi người dì ghẻ đẻ được đứa con giai, ông chồng tình phụ, vợ lẽ lăng loàn. Người dì ghẻ xui ông Thừa bắt cô Châu ở nhà không cho đi học nữa, để dễ hành hạ…. Nhưng một dạo, cô Châu thấy dì ghẻ ân cần săn sóc tới mình, cô đoán chắc có ý gì đây…. Thì ra bà Thừa muốn gả cô cho Khả, một cháu gọi bà bằng cô. Cô nhất định không chịu, rồi muốn thoát ly cái gia đình ấy.
“Còn Thoát ly thì độc giả Ngày Nay chắc cũng cùng ý với tôi mà cho rằng đến số báo cuối cùng (87), có thể tóm tắt như sau này: Cô Hồng, con một ông Phán ở Ninh Giang, vì bồ côi mẹ, phải ở với một người dì ghẻ ác nghiệt. Mẹ cô sở dĩ chết đi là vì từ khi người dì ghẻ đẻ được đứa con giai, ông chồng tình phụ, vợ lẽ lăng loàn. Người dì ghẻ xui ông Phán bắt cô Hồng ở nhà, không cho đi học nữa, để dễ hành hạ…. Nhưng một dạo, cô Hồng thấy dì ghẻ ân cần săn sóc tới mình. Cô đoán chắc là có ý gì đây. Thì ra bà Phán muốn gả cô cho Điện, một người cháu gọi bằng dì. Cô nhất định không chiïu, rồi muốn thoát ly cái gia đình ấy…". “Ông Khái Hưng, cũng như tôi, là người được đọc cả hai quyển truyện ấy, tôi xin ông cho các bạn làng văn biết có phải đoạn đầu hai quyển ấy đều có thể tóm tắt như thế không?. “Trong báo Ngày Nay vừa rồi, nhà danh sĩ Khái Hưng đã đáp lại ông Từ Ngọc. Ngoài những lời mỉa mai ông Từ Ngọc là vô tài, là không được thưởng nên ghen ghét, bất tự tri, vu cáo v.v…, mà chúng tôi không cần trích ở đây (vì dài quá) thì có những câu này để nói đến hai truyện ấy:
"Muốn rõ tôi (Khái Hưng) có ăn cắp văn của Từ Ngọc không, ông Từ Ngọc chỉ việc đem đăng báo hay cho xuất bản truyện Ngược giòng. Chứ tóm tắt cốt truyện như ông ta, tôi thấy ngây thơ và tức cười quá!. Ông Từ Ngọc tưởng văn là một vật có thể giấu kín được nên mới đặt điều vu cáo một cách dễ dàng và trẻ con như thế…. Khốn nạn!. Ở đời thì còn thiếu gì cốt truyện mà còn cần phải đi lấy cốt truyện của người khác!. Làm như văn chương chỉ toàn là cốt truyện cả. Một anh phu xe kể cho tôi nghe một câu chuyện kéo xe. Tôi đem viết thành truyện ngắn dễ thường anh ấy cũng đến nhà tôi đòi cái cốt truyện của anh ấy chăng?. Huống hồ tôi không hề nghĩ đến truyện Ngược giòng khi bắt đầu viết truyện Thoát ly thì ông định đòi xương cốt gì?.
“Nhân tiện tôi thuật lại câu chuyện rất buồn cười mà rất khó chịu cho tôi. Một hôm anh Thế Lữ kể cho tôi nghe một câu chuyện hay hay. Tôi liều viết thành truyện ngắn và in lên sách nữa. Một hôm anh Đoàn Phú Tứ bảo tôi: “…Này truyện Thưa chị của anh, người ta đã viết rồi, y như truyện của anh". Tôi chỉ cười nhưng trong lòng rất lo lắng, vì biết rằng kẻ thù cũng lợi dụng sự đó mà chuốc cho mình (?) những điều không hay…"
“Cuối cùng nhà danh sĩ Khái Hưng mời ông Từ Ngọc in ngay Ngược giòng để ai nấy biết nó có là cốt truyện hay giống truyện Thoát ly không?.
Dẫu rằng có ý muốn trung lập, chúng tôi (Thiên Hư và Đông Dương Tạp Chí) cũng không thể nào thấy ông Khái Hưng là quân tử được. Vì rằng cả một bài dài ấy, ông có đáp lại ông Từ Ngọc, mà sự thực thì không đáp tí nào cả. Hay tất cả nghệ thuật của ông Khái Hưng là ở chỗ mập mờ, khôn khéo ấy chăng?
“Văn chương không phải chỉ là cốt truyện, cái đó chúng tôi xin tạm đồng ý, vì văn chương còn phải có nhiều cái tiểu xảo nữa. Một người phu xe sau khi kể truyện cho ông Khái Hưng để ông viết thì không có quyền đòi cốt truyện, cái đó chúng tôi lại cũng xin đồng ý. Nhưng mà ông Từ Ngọc gửi văn dự giải thưởng đến người phu xe kể truyện cho ông Khái Hưng, hai người ấy có thể so sánh với nhau được không, và có cùng làm một việc như nhau hay không?. Ông Khái Hưng nói thế tưởng là sỏ ngọt được ông Từ Ngọc, nhưng cái vũng bùn mà ông đập ấy nó chỉ bắn lại vào ông thôi. Vì sao?. Vì rằng khi ông Từ Ngọc gửi một truyện đến dự thi, rồi ông Khái Hưng chấm, rồi cuốn truyện bị loại một cách nhục nhã, mà rồi cuối cùng, thấy ông Khái Hưng viết một truyện giống với truyện ấy thì chúng tôi xin cam đoan rằng ông Từ Ngọc rất có quyền kêu rằng mình mất cắp.
“Nhất là khi ông Từ Ngọc lại không có một cơ quan ngôn luận trong tay để đăng truyện của mình, và dùng cái dã tâm và nếu cần – và thứ nhì là ông Nguyễn Công Hoan cũng đã bị Tự lực văn đoàn buộc tội là ăn cắp văn.
“Ông Khái Hưng kêu văn chương không phải là cốt truyện, nhưng mà tự cổ chí kim, cốt truyện, than ôi chính nó cũng lại là văn chương, và ở bên Âu châu, tác giả và những nhà xuất bản nhiều khi phải in lên sách để cấm không cho mọi người, hoặc dịch, hoặc trích, hoặc phỏng theo cốt truyện của mình.
“Tóm lại một câu, xin độc giả chớ quên cái điều cốt yếu này :
“1- Ông Từ Ngọc đem truyện ông và truyện của ông Khái Hưng tóm tắt lại để so sánh.
“2- Ông Khái Hưng bảo thế là ngây thơ và tức cười quá.
“Độc giả cũng như chúng tôi, chúng ta thấy hai truyện ấy rất giống nhau. Nhưng ông Khái Hưng còn bảo ông Từ Ngọc là có khối óc chứa đầy những tư tưởng ăn cắp, ăn trộm. Và quên ở mình, ở Tự lực văn đoàn. Và quên rằng Tự lực văn đoàn vào trường hợp ấy, đã sỉ nhục Nguyễn Công Hoan là ăn cắp văn.
“Làng báo Bắc kỳ cần phải họp ngay một ban thẩm phán danh dự!
“Xưa kia, báo Ngày Nay dọa ông Phan Trần Chúc, mà nhiều người lại còn nghe, báo ấy họp một ban danh dự. Vậy những người ấy nên họp một lần nữa, để bênh vực ông Từ Ngọc, một nhà văn chưa có địa vị to như nhà danh sĩ Khái Hưng, mà lại còn bị mất cắp, mà lại còn bị sỉ nhục ê trệ nữa. Và sau cùng là để cho ông Khái Hưng tự bào chữa, tìm cách rửa sạch cái danh dự của ông, nếu ông ta còn biết cái gì là danh dự…!”
THIÊN HƯ
(trích Đông Dương Tạp Chí )
Khoảng 1937, Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa sau này) trên báo Ích Hữu tố cáo đích danh Nguyễn Tường Tam chỉ vì xin Ngài Nguyễn Hữu Bài một chân Tri huyện, không được đáp ứng; nên dùng báo Phong Hoá bôi nhọ quan trường, bất chấp người tốt xấu. Rồi, tại sao Tự lực văn đoàn lập ra Hội ánh sáng, với mục đích muốn xin trợ cấp của Chính phủ Bảo hộ và người đã đưa Hội ánh sáng này từ lý luận vào văn chương trong Con đường sáng của Hoàng Đạo sau này. Tiện vụ Từ Ngọc và Khái Hưng, Tự lực văn đoàn tổ chức cuộc thi thơ, thi truyện – đó là cách ăn cắp ý tưởng hay, cốt truyện lạ của người dự thi – bằng chứng hiển nhiên là Ngược giòng và Thoát ly. Và linh mục Cras, có tên Việt Nam Đỗ Minh Vọng, người tài trợ Tự lực văn đoàn đã được chỉ đích danh trong loạt bài tranh luận với TLVĐ của Trương Tửu; không phải là điều vu cáo không có bằng chứng?
Phân tích lý lẽ để bào chữa của Khái Hưng về việc đạo văn Ngược giòng, Khái Hưng có những điểm ưu áp đảo Từ Ngọc. Ông thách thức tác giả Từ Ngọc đem in Ngược giòng lên báo hoặc xuất bản cho độc giả dễ so sánh, chỉ là cách nói để nói. Muốn in truyện lên báo không dễ; in thành sách càng khó hơn. Về tài chính, giấy phép, mà rất có thể, Từ Ngọc đem sách xin kiểm duyệt, đã có bàn tay vô hình nào đó qua thế lực TLVĐ bóp chết từ trứng nước. Thứ hai, Khái Hưng đem truyện kể của anh phu xe kéo kể cho một nhà văn nghe, ông viết lại truyện này, anh phu xe đọc được đến đòi lại cốt truyện – chỉ là cách nói lấy được của kẻ xảo ngôn, ngụy biện. Như Vũ Trọng Phụng đã đặt việc so sánh này không có những điểm tương đồng sự vật so sánh. Một đằng, anh phu xe không là nhà văn, không quan tâm đến truyện kể của mình – có hay không được kể lại và viết ra – vì đó là cốt truyện được truyền khẩu, không có bằng chứng. Còn Từ Ngọc gửi truyện dự giải văn chương, Khái Hưng một trong thành phần giám khảo được đọc trước (hai cốt truyện giống nhau từng chi tiết; thời đoạn sống giống nhau của nhân vật, gia cảnh tuy hai truyện là một, chỉ thay danh xưng) – gạt bỏ ra ngoài danh sách dự thi. Rồi chính giám khảo đem cốt truyện rất hay ấy (hạp nhãn) viết lại đem đăng trước trên báo tuần Ngày Nay; - trước khi Từ Ngọc có cơ hội đưa Ngược giòng ra trước công chúng. Với bút pháp một danh sĩ, hẳn là Thoát ly sẽ vượt trội về phương diện văn chương, nhưng không thể thay đổi cốt truyện Khái Hưng đã ăn cắp. Đến lập luận của Khái Hưng qua chuyện kể với Đoàn Phú Tứ về truyện ngắn Thưa chị, với mục đích bạch hoá cốt truyện Ngược giòng và Thoát ly giống nhau như giọt nước. Lại đánh trống lảng, cốt truyện không quan trọng bằng văn chương, mấy nhà văn ưa chuộng đánh giá trị tác phẩm; điểm quan trọng là chú trọng đến văn chương, bút pháp. Đã nhẫn tâm và chẳng còn biết cái gì là danh dự như Thiên Hư viết, Khái Hưng còn sỉ nhục kẻ có được cốt truyện hay cho ông ăn cắp là: “khối óc chứa đầy những tư tưởng ăn cắp ăn trộm” (thật ra chỉ Khái Hưng mới xác đáng). Còn nữa, Nguyễn Công Hoan mới có hai phần ba cốt truyện được gọi giống như Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Ngày Nay xúm vào phê bình hội đồng, sỉ nhục Nguyễn Công Hoan hết lời. Như không có Đoạn tuyệt, sẽ không bao giờ có Cô giáo Minh. Tất nhiên, địa vị danh sĩ của Khái Hưng, như một võ sĩ quyền Anh, giao đấu với một võ sĩ khác, không đồng cân lượng so với nhà văn bước khởi đầu vào trường văn trận bút, sức và lực đâu để thi đấu?
Vũ Trọng Phụng cũng đã rất không muốn dính vào cuộc bút chiến văn chương bẩn thỉu này. Nhưng khi thấy hai đối thủ không đồng sức, đồng cân, đồng tài, đồng thế và có lẽ vì cảnh ức hiếp trắng trợn của Ngày Nay đối với Từ Ngọc, nên ông đứng ra bênh vực qua bài báo tranh luận trích trên, đăng trên cơ quan ngôn luận có vai vế Đông Dương Tạp Chí là điều ích lợi để đòi sự công bằng.
Và phe cánh Ngày Nay phản pháo bằng nhiều cách để bênh vực nhau. Này, nhà thơ chủ soái thơ mới trong Tự lực văn đoàn, từng đề tựa cho Xuân Diệu, cho Nguyễn Nhược Pháp, …, những tác giả trở thành thi nhân tài ba danh tiếng sau này trong nền thi nghệ Việt Nam. Người ấy, Thế Lữ, bút hiệu Lê Ta, đã phản kích Trương Tửu, Nguyễn Vỹ (bạn thân của Trương Tửu, như cùng cánh văn chương), cả Vũ Trọng Phụng nữa, được nêu tên trong Tin văn…vắn của Lê Ta vào những năm 1937 đến 1939 như thế nào?.
Xin bắt đầu vào cuộc. Trước hết vào 1937, Khi chiếc yếm rơi xuống của Trương Tửu xuất bản, Lê Ta phản pháo gián tiếp tác phẩm này như không thèm để ý tới. Không phê phán nội dung mà chỉ đả theo lối định đề (postulatum): “Mày hư lắm con ạ!. Nhưng cậu bố lại không dẫn chứng cho cậu con biết thế nào là hư?”. Ở đây, Lê Ta còn ghép những câu khác, lồng khi chiếc yếm rơi xuống vào giữa, trước khi người đàn bà trần truồng rồi tắt đèn,… với nhiều chấm bỏ lửng. Thế Lữ - Lê Ta có đả kích gì tác giả Khi chiếc yếm rơi xuống đâu?.()
Với Nguyễn Vỹ, chàng thi nhân đoản tướng, bước vào nền thi nghệ Việt Nam có cú chơi trội ngoạn mục, phủ đầu. Như phô trương ta đây không chỉ giỏi thơ bạch nga, sương rơi, còn tài hoa chẳng kém danh nhân, thi sĩ năm châu, bốn bể. Ra tập thơ tiếng Pháp (may không phải là dịch từ tiếng mẹ đẻ) tên Poésies grises. Thơ xám, đúng nghĩa, đúng cả nội dung. Nhưng Lê Ta giới thiệu vào Tin văn … vắn, Poésies grises là Thơ xám xịt. Chữ Xịt này đáng tiền, một cú đấm thôi sơn như trời giáng vào đầu tác giả Thơ xám. Bởi bè lũ hai tên công kênh nhau bằng bài thơ khác của Nguyễn Vỹ tặng Trương Tửu: Nhà văn An Nam khổ như chó… (dẫn theo trí nhớ).
Với Thiên Hư, Lê Ta-Thế Lữ tặng tác giả Làm đĩ, những dòng chữ này, cũng trong Tin văn… vắn. Bởi vì Thiên Hư bênh vực kẻ bị ăn cắp văn không có cơ quan ngôn luận, thấp cổ bé miệng, thiếu mạnh vì gạo, bạo vì tiền, văn chương ngược giòng thoát ly khỏi tác giả. Thế Lữ đả Thiên Hư là cách bênh vực phe ta trong Tự lực văn đoàn:
"…Đã có lần người ta nói đùa đến tên một cuốn sách. Người ta kể đến cái trường hợp ranh mãnh một người mua sách vào hỏi cô bán hàng:
- Có Làm đĩ không?.
Rồi người ta mách cô hàng câu trả lời :
- Không, ông lấy Một cái tát nhé!
Một cái tát cũng là một cái tên kêu lắm đấy. Xin hiến mấy nhà xuất bản mới ra đời…"
Thực ra, Lê Ta bịa ra Một cái tát (không có trong nhan đề tiểu thuyết đã xuất bản, mà chỉ nhắm muốn tát một cái vào mặt Thiên Hư). Đúng ra, truyện này thường được truyền khẩu đúng với thực tế như sau:
- Cô có Làm đĩ không?
Cô hàng trả lời khách đàn ông rất tỉnh:
- Không, chỉ có Tôi là mẹ!.
Tôi là Mẹ trên thực tế, một tiểu thuyết của Lê Văn Trương do Tân Dân xuất bản, bán chạy. Khi Vũ Trọng Phụng qua đời, Lê Ta lại ghi vào cuối bài Tin văn… vắn tặng tác giả Làm đĩ chỉ cần một câu; nói theo kiểu thơ chua, thơ dấm, đàn ngang cung, ba que xỏ lá (xin đọc ở câu cuối cùng). Và nguyên văn đoạn văn đăng trên Ngày Nay số 185, năm Vũ Trọng Phụng qua đời:
"… Một chuyện thóc mách, Vũ Trọng Phụng, tác giả thiên phóng sự giá trị Kỹ Nghệ Lấy Tây vừa tạ thế sau một hồi can đảm chịu bệnh.
“Một bài điếu văn đã đọc. Đó là lệ thường.
“Vũ quân, ngay trước lúc từ trần, đã được nghe mọi lời phúng viếng. Đó là một đôi câu đối mà một nhà văn hài hước, ông Đồ Phồn, đã làm và đọc cho tác giả Cạm Bẫy Người nghe.
“Câu đối đây:
“Cạm bẫy người tạo hoá khéo căng chi, qua Giông tố tưởng thêm Số đỏ.
“Số độc đắc văn chương vừa trúng thế, bỗng Dứt tình, Không một tiếng vang.
“Ông đồ khóc bạn bằng tên những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng.
“Chúng ta nghe và bảo nhau:
“- Này cái anh chàng ấy khóc khéo đấy nhỉ.
(LÊ TA - Báo Ngày Nay số 185, 1939)
“Cái đểu khéo của Lê Ta không coi cái chết của Vũ Trọng Phụng như đời quan niệm: nghĩa tử nghĩa tận.
Vũ Trọng Phụng qua đi, Lê Ta-Thế Lữ cũng qua đi, chỉ khác mấy chục năm kẻ trước người sau - cả hai đều bước vào cửa lớn văn học của thế kỷ hai mươi, ấy thế buổi sinh thời còn xảnh xẹ, tị nạnh. Câu này dành cho Lê Ta.
Còn nhà văn Khái Hưng của Tự lực văn đoàn, nay biết bao cuốn sách nghị luận bàn về tư tưởng tác giả, văn phong mẫu mực, lãng mạn tiền phong, nội dung tranh chấp mới cũ, đề cao nếp sống mới v.v…. Không nói đến Tự lực văn đoàn, đến Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam. Hoàng Đạo, Thế Lữ, …, hẳn một mình Xuân Diệu, Huy Cận, Tú Mỡ chẳng thể đóng nổi trò trống gì trong nền văn chương lãng mạn cực thịnh?. Bởi Khái Hưng, Nhất Linh – chiếc đinh không thể thiếu trong văn chương lãng mạn nòng cốt. Hồ Hữu Tường kể lại quen Khái Hưng như thế nào, từ bao giờ: “…Khái Hưng tìm làm quen với tôi trước. Lúc ấy, tôi ở Hà Nội, trốn trong một cái phòng, không bước chân ra ngoài…. Viết sách phổ thông với mục đích là kiếm tiền sống. Viết sách tư tưởng không cần xuất bản… Theo lời của Khái Hưng nói lại, Khái Hưng đọc sách Muốn làm chính trị một mạch. Và không xin phép tác giả … trích một khúc rất dài đăng trong tờ tuần báo … được Khái Hưng coi sóc việc biên tập.... Khái Hưng hiền lành, ít nói, hay cười, chứ không nghịch như Đoàn Phú Tứ, ranh mãnh như Nguyễn Tuân…!”.
Và đầu đề bài tưởng niệm này, Hồ Hữu Tường gọi: "…Khái Hưng, người thứ nhất muốn làm Nguyên soái của văn chương sáng giá ". (Tạp chí Văn, Sài gòn - số 22, 1964) Vậy, có ai nhắc lại chuyện đạo văn đê tiện của Nguyên soái đầu tiên trong văn chương sáng giá đâu?. Chẳng còn mấy ai biết chuyện Ngược giòng Từ Ngọc lội để dòng văn chương thoát ly lai láng tuôn chảy vào lịch sử văn học làm nổi đình nổi đám Khái Hưng hơn lên. Cũng chẳng ai tìm lục những bài "Hai nhà xuất bản Tân Dân và Đời Nay…" và "Quanh việc nhà văn sĩ Khái Hưng bị buộc tội là ăn cắp văn ", như một cáo trạng của nhà văn phóng sự tiểu thuyết kỳ tài Vũ Trọng Phụng dưới một bút danh khác viết báo lên án vụ đạo văn bẩn thỉu ấy!.
Trách cứ như vậy, chính tôi cũng phải tự trách khi viết Nhà văn tiền chiến 1930-1945 (tập I trong Lược sử văn nghệ Việt Nam 1900-1956) có dòng nào đề cập đến Khái Hưng cướp tài sản văn chương của người mới vào nghề, thấp cổ bé miệng, không thần chẳng thế, không bạc chẳng tiền đâu?. Như Từ Ngọc, từ Ngược giòng chuyển sang cho Khái Hưng Thoát ly. Là đồ Nho, phải bình luận về việc đạo văn của Khái Hưng, ông đồ sẽ giải thích đó là sở chi chướng – có nghĩa biết chướng ngại từ bản thân nổi danh, tài năng tự mãn, giỏi hơn người bị mình tước đoạt tài sản văn chương, làm của mình – rồi mình không đủ can đảm dám nói ra, nhận lỗi.
Tôi sống ở Sài gòn trên bốn mươi năm. Tính từ ngày 3 tháng 5 năm 1954, rời cầu thang tàu thủy Ville de Sài gòn bước xuống Hòn Ngọc Viễn Đông. Nếu nói về những vụ án đạo văn, gọi là văn chương gió tanh mưa máu, như vụ Khái Hưng - Từ Ngọc tiền chiến, không phải không có ở Miền Nam. Một số vụ đạo văn, tôi đã viết trên báo chương, đưa vào sách, như Hoàng Trọng Miên đạo văn của Nguyễn Đổng Chi (vụ đạo văn này có Uyên Thao nhảy vào vòng bút chiến). Cuộc bút chiến văn chương này lôi kéo thêm bao nhiêu phe nhóm liên kết với nhau để tiêu diệt đối phương. Nguyễn Mạnh Côn bênh Hoàng Trọng Miên, sau phản tỉnh, xin lỗi trên tạp chí Bách Khoa. Cũng trên tạp chí Bách Khoa, Lê Ngộ Châu can đảm đăng loạt bài Phạm Công Thiện lên án Nguyễn Nam Châu (Nhóm Đại Học Huế) đạo văn giáo khoa, tư tưởng triết học nhà trường của Pháp, như là của mình giỏi giang sáng tạo. Hoặc sau 1975, một nhạc sĩ có vai vế từ Cộng hoà Miền Nam Việt Nam bước ra Sài gòn hoa lệ, thuở nhỏ trên lưng trâu đã say mê âm nhạc. Thời gian chiến đấu chống Mỹ, ông đi qua các sóc, bản, mường, cao nguyên, uống rượu cần với người thiểu số, ngắm các nàng người dân tộc Rhadé, Ba na… hát nhạc tình. Nhạc sĩ cảm động, sáng tác Tiếng chày trên sóc Bombo mà có nhạc sĩ Sài gòn cũ cho là sao chép một bản nhạc mang tên Quán nửa khuya của Tuấn Khanh ra đời từ thập niên 60 ở Sài gòn. Một người khác nghe chuyện giải thích: "…Bombo ra đời sau hai chục năm là ít. Tác giả bản nhạc sau này, khi ấy là một thanh niên lam lũ trên cánh đồng lúa Tây ninh, có thể bản nhạc của Tuấn Khanh nhập vào trí óc anh ta từ bao giờ không kiểm soát được đâu là của người, của mình. Hứng cảm đến với nhạc sĩ sáng tác, vậy như là rút từ trí óc sáng tạo của anh ta; như thế có thể gọi là sao chép?. Thực ra, ông ăn cắp mà không biết mình đã đạo nhạc của tiền bối?, Tiếng chày trên sóc Bombo chỉ là bản nhạc của Tuấn Khanh được thay lời qua ca khúc Quán nửa khuya". Chiếc bánh mì có một nửa vẫn là bánh mì, nhưng bản nhạc này chỉ một nửa là lời của mình, anh nghĩ sao?.
Nhắc chuyện này, người nhạc sĩ Sài gòn cũ kia bắt chước nhà thơ Hoàng Tấn (bút danh khác Hồ Tăng Ấn) vái lậy vong hồn bạn thân Nguyễn Bính, khi viết lên hàng chữ đại để: “tác giả Lỡ bước sang ngang có đến bốn nàng thơ là vợ hẳn hoi”, ở đây nên vái lậy nhạc sĩ đạo nhạc qua đời để nói sự cần phải nói. Chẳng hạn những bản nhạc khác của Xuân Hồng rất nổi tiếng, như bài Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh, Màu hoa chiều Đà Lạt. Tháng 12 năm 1998, Sài gòn kỷ niệm 300 năm, lễ bế mạc tổ chức ở sân Thống Nhất, thanh thiếu nữ, học sinh sinh viên, thiếu nhi, …đã trình diễn nhiều pha ngoạn mục: người sáp người thành hoa, thành chữ, thành chân dung nhân vật lịch sử … thành hàng chữ Sài gòn 300 năm thật tráng lệ, huy hoàng – kỷ luật diễu hành trật tự thẳng hàng…. Vừa lúc tôi đến thăm Hoàng Hương Trang đang dõi mắt trên TV.
Từng là giáo sư trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định, họa sĩ, nhà thơ, viết văn nghị luận, phê bình văn học,… nổi danh trong giới nữ lưu người Huế vào lập nghiệp ở Sài gòn, như nhận định của Nguyễn Đắc Xuân trong cuốn sách Thơ tình và chuyện tình xứ Huế (Huế 1998); Hoàng Hương Trang xứng đáng bậc đàn chị trong số các nhà văn nữ gốc Huế như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, v.v…
- Ông uống rượu hay nước trà gừng Huế?
- Nước trà tuyệt nhất.
- Uống nước trà rồi đọc một lá thư tôi mới viết cho nhà thơ Tuệ Nga ở Mỹ; được chứ?. Ông biết danh nhà thơ này không?.
- Không nhiều lắm, hình như từng là Phó Chủ tịch Văn bút Miền Đông? (hải ngoại)
Hoàng Hương Trang gật đầu, đưa cho tôi đọc trước lá thư gửi Tuệ Nga. HHT cũng thuộc vào hàng nữ tướng biết nhiều chuyện hậu trường văn nghệ Sài gòn. Bà cho phép tôi được sử dụng thư này làm tài liệu văn học.
Sài gòn, 1-12-98
“Tuệ Nga thân mến,
“Mười hôm nay T. bị đau cột sống, đau mấy đốt sống ở thắt lưng, không ngồi, nằm, đi, đứng được. Nằm cũng đau không trở người được, phải đi châm cứu và uống thuốc Bắc mới đỡ. Không ngồi đánh máy bài vở được, mà bài Tết thì sắp hết hạn nộp bài rồi, thế là Tết này đành không bánh, không thịt vậy. May, nó chỉ là thấp khớp vì trở trời chứ không phải gai cột sống hay lao cột sống (chị Vinh () bị lao cột sống đã ba năm nay ở Na Uy đấy). Cứ trở trời, mưa bão gì là đau vẹo cả người, chán thật!
“Cô Ng.L () đã chuyển cuốn băng thơ đến Nga rồi ư? Nhanh thế ! Cô ấy bảo đi Mỹ hai tuần lại trở về, nhưng nay bốn tuần rồi chưa thấy. Ng. L đã thi vào quốc tịch Mỹ nhưng vẫn có nhà cửa làm ăn khá lớn ở bên này, đi đi về về luôn luôn. Người ta có số sướng thế đấy! “T. đã chuyển cuốn thơ của Tuệ Nga đến chị Thục Oanh () lâu lắm rồi., ngay hôm nhận được. Chị Oanh cầm cuốn thơ của Nga trên tay để chụp ảnh đấy. Không biết T. có gửi tặng Nga tấm ảnh ấy không nhỉ?. Chị Oanh lúc này già lắm rồi, tuy không yếu đau gì, chỉ hom hem thôi. Cái tạng chị ấy vẫn ốm thế. Và ngay hôm nhận tiền US 270.00 Nga gửi, T. chuyển ngay cho chị Oanh 40 đô, trước hôm Trang đi Huế cơ. Vì thấy gần ngày giỗ anh Chương () mà. Chị Oanh rất cảm động vì Nga vẫn nhớ đến chị. Nhưng vì lười nên nhờ HHT nếu viết thư gửi lời của chị thăm và cảm ơn Nga luôn thể. Thế đấy, bây giờ cụ nào cũng lười cả. Cũng đã chuyển 30 đô cho Đ. () trước ngày thu băng thơ. Đ. lúc này mập ra và khá giả hơn trước, mua được một căn nhà ở Quận…, nhà khá lớn, sắm được xe Honda Cub rồi. Nhưng vẫn ở một mình không lấy vợ. Ở Sài gòn bây giờ, Đ. là cây ngâm thơ gạo cội, có giá, rất nhiều nơi mời trình diễn nên cũng kiếm được khá. Cũng mừng cho cậu ấy. Hôm nay được ngày đẹp trời, sau hai cơn bão khủng khiếp tàn phá cả dọc miền Trung, từ Quảng Bình vào tới Phú Yên. Có những làng xóm bị cuốn trôi đi mất, không còn cả cây cối nhà cửa gì nữa, cả mấy tỉnh chết hơn trăm người và nước lũ cuốn mấy trăm người nữa, chưa có tin tức. Nặng nhất là Quảng Nam, Quảng Ngãi, hai xứ quá nghèo đói, có câu hò: Tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm mà còn lũ lụt thì chắc mùa này sẽ dắt nhau đi ăn mày.
“Nga ơi, Hỷ Khương bây giờ khác trước nhiều lắm, kể từ mấy năm nay, khi Cách Mạng có vẻ o bế ông Ưng Bình Thúc Giạ Thị, coi ông cụ, tuy là con vua cháu Chúa mà đứng về lập trường nhân dân, căm ghét thực dân, khinh thường quan lại. (Nà, kể từ ngày Hỷ Khương và ông Trần Văn Kh. kết nghĩa anh em thì quận chúa Hỷ Khương coi bộ làm le ghê lắm). Nhất là những cử chỉ bợ đỡ ông Kh. coi chướng quá, mọi người ai cũng thấy chướng mắt. Ai đời cứ ông Kh. đi đâu là Hỷ Khương kè kè một bên, phải nói kè kè sau lưng mới đúng nghĩa đen, cứ đưa tay bợ bợ sau lưng ông Kh. Còn mặc kệ chồng, cho ngồi riêng một góc, im lặng không nói gì cả, cứ cúi mặt xuống bàn. Đến dự những buổi hội họp, diễn thuyết, hay tiệc tùng mới thấy cảnh Hỷ Khương bỏ chồng ngồi một góc xa lắc để sum xoe, loe toe chạy theo đỡ đỡ sau lưng ông Trần văn Kh. còn thấy ngượng chín cả người mà bà ta cứ vênh vênh làm như được bợ ông Kh. là vinh dự lắm. Mà lão Trần thì đại gian manh, ăn cắp cả tài liệu nghiên cứu của Lưu Hữu Phước () để làm luận án tiến sĩ bên Pháp, đến giờ này, vợ Lưu Hữu Phước, nhũ danh Trịnh Kim Vinh, (vốn là hoạ sĩ, cùng dạy trường Cao Đẳng Mỹ Thuật với HHT sau 1975) muốn in cho Lưu Hữu Phước một tuyển tập kỷ niệm 10 năm ngày mất (1999). Bà gửi thư đòi cả trăm lần, ông Trần cũng không trả lại xấp tài liệu (có lẽ chót ăn cắp làm luận án tiến sĩ, trả lại lòi mặt ăn cắp nên đành cướp luôn). Ông ta còn rất nhẫn tâm; về các tỉnh miền Bắc, miền Trung, tập hợp những nghệ nhân già, nghèo khổ, chuyên Hát chèo, Quan họ, Ca trù, Trống quân, Hát bội, Tuồng, Chầu văn, .v.v…, những môn hát cổ truyền, nay còn ít người am tường diễn cho ông ta xem, nghe, ghi âm, ghi hình lại. Ai ngờ ông đưa qua ngoại quốc, bán cho Ủy Ban Văn Hoá LHQ (Unesco), mỗi băng như thế cả mười ngàn đô mà không hề chia xẻ, giúp đỡ những nghệ sĩ già ấy một đồng nào, thật tham lam hèn hạ!. Ông nịnh CM quá xá, nên được nâng đỡ, viết báo bài nào cũng sai (). Mình viết bài phê bình ông, họ bênh vực, không dám đăng bài mình. Hèn nhất không dám nhận Trần Văn Trạch là em ruột, không bao giờ nhắc tên ông Trạch, vì khác lập trường chính trị. Bà Hỷ Khương chỉ đem những cuốn của cụ Ưng Bình in tái bản, chứ bản thân Hỷ Khương chẳng có gì cả (). Chơi rất thân với bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội mà bà này bị dân văn nghệ rất khinh ghét; nếu không vì quí nể ông Đông Hồ thì bà Mộng Tuyết đã được tặng vài bài vạch mặt - một người rất nhẫn tâm đã ba lần đối xử vô nhân đạo với bạn văn chương:
1- Ngày xưa, Nguyễn Bính lưu lạc về Hà Tiên, được ông Đông Hồ rất quí, mời về nhà ở. Ít lâu sau, có người cháu gái đem lòng yêu Nguyễn Bính và Nguyễn Bính cũng rất yêu cô này. Biết được, bà Mộng Tuyết đuổi ngay Nguyễn Bính, cấm cô cháu gái không được yêu Nguyễn Bính nữa. Tức tối, trở về Bắc, Nguyễn Bính có bốn câu thơ rất nặng nề:
Trọc phú ti toe bàn thế sự
Đĩ già tấp tểnh nói văn chương
Đã coi đồng bạc to hơn núi
Lại học đòi theo thói Mạnh Thường!
2- Trước 1975, ông Vũ Hoàng Chương được giải tuyên dương Văn học (Giải thưởng văn chương VNCH) có thể mua được một căn nhà để ở. (Vũ từ khi di cư vào Nam chỉ chuyên ở nhà thuê, vì không mua nổi một căn nhà). Ấy vậy mà bà Mộng Tuyết xúi đừng mua, rước ông Chương về ở trên lầu. Tuy cho ở không, nhưng phải trả chi phí điện nước, điện thoại, cũng ngang tiền thuê nhà. Do đấy tiền được giải thưởng, ông hút hết (hút thuốc phiện). Vừa sau ngày 30.4.75, bà Mộng Tuyết liền rước các vị văn nghệ sĩ tiền chiến như Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan v.v…, đến đãi tiệc om sòm ở phòng khách nhà dưới, nhưng không mời ông Chương ở trên gác xuống dự. Sau buổi tiệc ấy, bà Mộng Tuyết còn đánh tiếng đuổi ông Chương đi, vì sợ liên lụy. Ông Chương rất uất ức, bèn chưởi đổng cho bõ tức rồi xách gói ra đi, qua ở nhờ nhà vợ Đinh Hùng bên quận 4. Có 4 câu thơ của Chương rất nổi tiếng ():
…Sáng chưa sáng hẳn, tối chưa đành
Gà vịt om sòm rối bức tranh
Vách hẳn có tai, thơ có họa
Biết lòng ai Đỏ, mắt ai Xanh…!
(VHC - 1975)
“Sau bị bắt, rồi mất năm 1976. Bà Chương và con trai rất khổ, Tuân () xin đi làm gì cũng không được, làm cu li cũng không xong, chỉ làm dăm bữa nửa tháng, họ biết là con Vũ Hoàng Chương, thế là đuổi việc. Dạo ấy đói lắm, cũng không ai dám đến thăm nhau, sợ liên lụy, tù đầy. HHT thấy vậy bèn đứng ra đạp xe đạp đi rỉ tai xin một số người kính mến tài ông Chương, mỗi người cho một kí lô gạo mỗi tháng. Cứ gần cuối tháng, HHT đi gom từng nhà từng kí gạo, đem về gửi nhà bà Mỹ Phụng () đến 1 Tây là bà Chương qua lấy về. Có khi 20, 15, 18 kí … Nhờ đó mà hai mẹ con qua được cơn đói khổ hồi 75,76,77 cho đến lúc thằng Tuân đi làm được, không bị đuổi nữa thì chị Chương yêu cầu HHT thôi đừng đi xin gạo nữa. Cho đến giờ, cả hai mẹ con quí HHT là vì vậy.
3- Mộng Tuyết còn làm một việc ác đức nữa, số là anh Lê Ngọc Chấn sau mấy năm đi tù về, chuẩn bị đi Pháp do con cái bảo lãnh. Anh chị phải bán ngôi nhà ở Ngõ xóm Phượng (Khu cư xá nông tín cuộc) được 25 lượng vàng rồi về thuê căn lầu nhà Mộng Tuyết. Nhà bà MT là biệt thự rộng mênh mông ở góc đường Nguyễn Minh Chiếu - Thoại Ngọc Hầu (), ai dè đợi hoài mà vẫn chưa đi được, mấy năm sau anh Chấn bệnh rồi chết. Bà MT chủ nhà nhẫn tâm đuổi đi không cho làm đám ma trong nhà thuê. Chị Vân Nương phải chở xác chồng sang làm đám ma ở nhà anh Hà Thượng Nhân (HTN lấy em gái chị Vân Nương) cũng ở gần đó. Về việc thất đức này làm cho ai ai cũng ghê sợ Mộng Tuyết. Sau đó ít lâu, chị Vân Nương mới đi được, sang ở với con cái. Còn Mộng Tuyết gần đây đã bán biệt thự Úc Viên ấy đến gần 1000 lượng vàng, ôm về Hà Tiên làm một căn nhà nhỏ treo bảng Nhà lưu niệm Đông Hồ, ôm trọn tiền không chia cho con cháu ông Đông Hồ. Bà Mộng Tuyết không hề là vợ chính thức, chưa bao giờ dám xưng là quả phụ Đông Hồ, chỉ xưng Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội. Và, cũng không có con – con ông Đông Hồ là con với bà Linh Phượng (Linh Phượng ký đó), chúng không được hưởng gì của ông Đông Hồ cả. Nga ơi, đời là thế đấy, thấy chán chưa?.
Đã lâu mình định viết cho Nga rõ, nhưng chưa có dịp và cũng ngại bạn bè ở xa không hiểu, cho mình nói xấu người khác. Mình có viết một bài khá dài: Những người đàn bà đi qua đời thơ Nguyễn Bính, trong đó đụng chạm mạnh đến hai bà Anh Thơ và Mộng Tuyết. Có lẽ mình sẽ gửi sang Mỹ và Úc đăng thôi. Mình đã có thừa tác phẩm để in một tập văn (gồm truyện ngắn, ký, tùy bút, giai thoại) khoảng 300 đến 350 trang – nhưng không tiền in. Muốn in, ít lắm cũng phải có 10 triệu đồng VN (khoảng 800 đô) mới in nổi. Dù biết rằng in xong, bán cũng lấy lại được 80% vốn. Thế đó Nga ạ, người có tác phẩm thì không có tiền, người nhiều tiền lại không có tác phẩm.
4- Nga ơi, đến giờ này không còn mấy ai nói đến người trong nước, ngoài nước, theo chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ bởi nó xưa như trái đất rồi. Không hiểu sao các vị ở nước ngoài vẫn còn dai dẳng nói chuyện chính trị, trong khi ở đây chẳng ai thèm nói đến nữa. Họ thích cởi mở, làm giàu, cho con cái học tiếng Anh, bỏ tiếng Nga, đi du học Úc, Mỹ thôi. Và rất nhiều tay chống C. xưa oang oang, nay đã về làm sui gia với C. gộc. Ví dụ: đại úy tâm lý chiến Lương Minh Đức đã mang con trai về cưới con gái một tay cán bộ có 40 năm tuổi đảng, làm đám cưới rất to, đãi hơn 100 bàn tiệc ở khách sạn Saigon New World, một chỗ sang trọng bậc nhất, tốn kém nhất, mỗi bàn 300 đô – gấp tám lần giá các nhà hàng khác. Trong khi đó, anh ta mua tranh của bạn bè () thì cướp, không trả tiền - đã 17 năm đòi mà không trả (mua tranh của Đằng Giao và HHT 3 tấm tranh, 17 năm không trả tiền). Thật đáng buồn cho thế thái nhân tình!.
“Tờ báo Giác Ngộ có mặt từ rất lâu (1945 có báo Giác Ngộ rồi), qua nhiều đời chủ nhiệm, phát hành khắp nước, có gì mà phải ngại. Ở đời có vàng cũng có thau, Nga ạ. Việt Nam bây giờ nhà thơ mọc lên như nấm dại – và làm thơ bị ế, rẻ rúng. Báo nào cũng dội thơ, mà thơ các vị viết bây giờ, khoảng 3000 bài may ra chọn được một. Ai cũng in thơ, có chừng khoảng 250 đô là in được tập thơ 150 trang có danh nhà thơ. Thời mở cửa mà, ai làm gì cũng được, miễn là không phạm chính trị là được rồi. Tuy thế, người đọc rất tinh ý, họ lọc đãi rất tài tình, vàng thau đều không qua mắt dược họ đâu. Mà ở VN, đăng báo lại còn là mối lợi lộc kiếm tiền, phải thừa nhận sau 75, báo chí trả nhuận bút rất sòng phẳng, không ai ăn quỵt tác giả bao giờ, có giá biểu đàng hoàng. Tuy có báo trả giá cao, báo trả thấp, tùy theo báo in số lượng nhiều hay ít, báo địa phương hay thành phố lớn. Báo Sài Gòn trả cao hơn hết, nhưng Sài Gòn cũng có hai loại trả cao, thấp khác nhau. Vậy muốn sống được, phải viết đủ loại: truyện ngắn, giai thoại, tùy bút, ký sự, nghiên cứu vv… đăng dễ hơn, nhuận bút lại cao. T. thuộc loại già rồi, viết ít thôi, không xông xáo mấy nên không đăng nhiều đâu. Vả lại, mình không đảng, không hội nhà văn v.v…, cá nhân độc lập không ưu tiên. Bài nào họ chọn được thì đăng vậy thôi. Thỉnh thoảng T. bán thêm tranh, cộng mỗi nghề một chút nên cũng tạm đủ sống, sống nhẹ nhàng không đòi hỏi gì cao. Không tiện nghi, không xe cộ, không bếp gas, máy lạnh, không xài thứ gì cao cấp tốn kém cả, ăn mặc giản dị nhất, không cả uốn tóc, sơn móng tay cũng không luôn. Hoàn toàn như một bà già nhà quê, chỉ cốt sống khoẻ và vui vẻ làm việc là được rồi. Những người ở lại cũng lắm sự lố lăng, nhất là những tay lăng xăng, ồn ào, nịnh hót, hay tố cáo người này là chống C, người kia theo Đế quốc, người nọ nợ máu với nhân dân, người kia viết đồi trụy phản động. Như Minh Quân, Vũ Hạnh, Phan Kim Thịnh v.v…, chính những người đó nay bị đá đít rất đau – và đi tới đâu cũng bị người ta lạnh nhạt. Lố lăng và hèn nhất là Nguyễn thị Hoàng, tự treo tác phẩm Vòng tay học trò lên rồi từ bỏ đứa con tội lỗi ấy, xin CM ban ơn cho sống, để viết sạch sẽ hơn. Như Phạm Thiên Thư, tự khoe năm nào cũng làm đám giỗ Bác, kể từ khi nghe tin Bác đi xa vào năm 1969. Như Lệ Hằng vội vàng viết kịch bản phim Hạnh phúc ở quanh đây cống hiến CM, ca tụng hết lời và tự tố cáo, chôn sống tác phẩm cũ Tóc Mây, Thung Lũng Mùa Đông của chính mình.
“Và còn nhiều nữa, những tên lố lăng xí xộ vào thời điểm 75, nay bơ vơ giữa giòng đời, cả hai phe đều không chơi với. Nguyễn thị Hoàng đang âm thầm nuôi bệnh lao, hút thuốc lá như ống khói tàu và uống rượu, sống vùi trong trác táng. Phạm Thiên Thư làm lang băm, chữa bệnh bịp, dạy tập dưỡng sinh v.v…. Lệ Hằng ở Úc, chẳng ai thèm giao du với. Minh Quân ở Sài gòn, tới đâu cũng bị coi như nhà giăng đỏ đít, thật đáng đời!. Ngược lại, những tay nổi danh chống C, như Vũ Hoàng Chương và nhiều người nữa – nay được trân trọng, coi như danh nhân văn học. Có một lớp trí thức, văn nghệ Hà Nội rất trọng lớp trí thức văn nghệ miền Nam, T. có ra thăm Hà Nội, được tiếp đón ân cần, trân trọng mới thấy được. Thật ngược đời!.
“Hà Nội rất quí những người tài trong Nam. Điều đó đáng kính phục đấy!. Mình nói rất thực lòng, được lọc đãi qua 23 năm nay đó, Nga ạ. Bây giờ đi hội họp đâu cũng tha hồ to mồm không còn sợ sệt nữa.
“Nga ơi, viết dài quá rồi, mỏi lưng quá. Vẫn phải uống thuốc bắc, vô tình mình lại quảng cáo không công đấy. Nhưng mình rất công bằng, trung thực, không thiên vị gì cả. Mong rằng Nga cũng như các bạn hiểu cho. Chủ nghĩa nào cũng không thuyết phục mình được đâu, mình chỉ yêu đất nước, cả dòng lịch sử oai hùng – kể từ thời Hùng Vương lập quốc.”
Chúc Nga khỏe.
Thân,
TRANG
Nói chuyện về ngôn ngữ Việt Nam, ông Dacson N. Eustachon có nhớ đến một họa sĩ Việt Nam sang Pháp từ 1969 qua nẻo Lào?. Ông này tên Nguyệt Hàn gì đó, tôi quên hẳn tên ông ta. Khi bàn đến quyển Những bức thư tình hay nhất thế giới của Đắc Sơn tuyển dịch, do Tuấn Tú Sài gòn in vào thập niên 60; họa sĩ cho biết có họ hàng xa với Đắc Sơn. Bữa ăn đó do nhà thơ Ý Nhi đãi ở quán Ngọc Sương, đường Nguyễn Kiệm, quận Phú nhuận. Có Catherine, người Pháp, bạn gái của Nguyệt Hàn, Robert Lacombe (Tuỳ viên văn hóa sứ quán Pháp ở Hà Nội vào), nhà thơ nữ Thảo Phương v.v.., nữ thông dịch viên Đỗ Minh Nguyệt và tôi. Khi thấy Catherine nói tiếng Việt rất giỏi, tôi chào mừng cô bằng câu:
- Thưa cô, xưa, chúng tôi học tiếng Pháp, nôm na tiếng mẹ đẻ có câu này: “Tổ tiên chúng tôi xưa, người Gaulois!”. Tối nay, được nghe người đẹp mẫu quốc xưa của chúng tôi nói tiếng Việt rất giỏi, thật cảm phục, tự hỏi cô từng học tiếng chúng tôi với ai, ở đâu và thời gian bao nhiêu lâu?.
Cô đáp một cách rất vui vẻ, chính câu này khởi sự cho chuyện kể sau của tôi cho nhà làm từ điển nghe, hiểu thêm về ngôn ngữ học Việt.
- Tôi ở Hà Nội gần bốn năm, học tiếng Việt với hai thầy dạy, gốc Bắc, đúng hơn Hà Nội. Tôi dự định làm luận án ngôn ngữ học Việt Nam.
Tôi như bị tá hỏa, nhưng đáp lại thật chân tình:
- Tôi thật cảm phục, bởi lẽ, xưa chúng tôi học tiếng mẫu quốc, nay người mẫu quốc đẹp như nàng tiên học tiếng chúng tôi, sử dụng tài tình qua ngôn ngữ nói và làm luận án về ngôn ngữ viết. Thật cảm phục, cảm phục…
Catherine quay sang Nguyệt Hàn, hỏi:
- Anh quen ông này (quay sang tôi) lần đầu hay đã từ lâu?.
Nguyệt Hàn đáp, rất là Hà Nội cũ:
- Mới quen lần đầu mà như từ lâu, y hệt hôm tôi trả lời câu em hỏi, cũng lần đầu ở Paris vậy.
- Thế ông làm nghề gì ?.
- Trước đây, đúng hơn từ 75, làm lơ xe; tiếng Pháp gọi là aide-chauffeur, tuổi nghề mười lăm năm.
Catherine quay sang Ý Nhi:
- Vậy ông này, tài xế của bà Giám đốc nhà xuất bản phải không?.
Tôi đáp lời thay Ý Nhi:
- Thưa rất đúng, nhưng hôm nay thì không.
- Ông được mời đến đây với tư cách gì; bởi đây toàn là nhà thơ, nhà làm văn hóa, họa sĩ và ngay ông Thạc sĩ triết học Lacombe đây cũng Tuỳ viên văn hóa?.
Robert Lacombe đang mải miết nói chuyện với Thảo Phương bằng tiếng Hung Gia Lợi, bởi ông tùy viên quốc tịch Pháp gốc Hung và kỹ sư còn là nhà thơ nữ từng làm thông dịch viên tiếng Hung, trả lời:
- Ông này là nhà văn, một trong những người được giới thiệu ra Hà Nội gặp gỡ một số nhà văn Pháp.
Catherine quay sang hỏi:
- Ông có giúp gì cho chúng tôi về luận án ngôn ngữ học tiếng Việt không?.
- Tôi vui lòng đóng góp hai mẩu chuyện nhỏ. Một chuyện khi tôi làm lơ xe; một nữa lúc trà dư tửu hậu nói chuyện văn chương với bạn bè cũ.
Lần ấy, Nguyễn Quốc Thái, hiện là tổng thư ký tòa soạn tuần báo Doanh Nghiệp. Anh mời tôi đi uống cà phê, trò chuyện râm ran. Đột nhiên, anh nhắc đến thời kỳ tôi làm lơ xe, có gì vui, đáng nhớ để kể. Tôi đáp lời, tuy chuyện kể này không là kinh thi Việt Nam nhưng với tôi kỷ niệm khó quên. Buổi trưa hôm ấy, xe bus đậu ở ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Thanh Giản (cũ). Xe rất ít khách, trên mui không hàng hoá. Bỗng một chị bán cá tòng teng trên vai đôi quang gánh sắt, chỉ vào tôi như ra lệnh:
- Ê, bỏ lên mui cho tao, mậy!.
Giới lao động, khách hàng, thường gọi nhà xe như kẻ có quyền thế. Tôi quay sang hỏi lơ xếp, bởi tôi đứng cửa sau làm lơ phụ. Lơ xếp tên Bảy Xị, một mắt, tướng rất du côn, dân đá cá lăn dưa đáp chỏng:
- Không chở, mùi thúi ình, đi xe khác.
- Mông tăng trống lốc, tụi bây không chở cho tao, vậy để chở hòm ông bà nội tụi bây sao?. Đù má tụi bây làm phách!.
Tôi bèn đi lại phía chị, nói rất ngọt nhạt. Lúc này nhìn rõ hình dáng, sắc vóc chị kém tuổi tôi là chắc, song nét mặt hung hãn, dữ dằn:
- Chị Hai nóng quá, em mua nước chị Hai uống nghen, cho hạ hoả. Chị Hai đù một mình má em thôi, đừng tụi làm chi. Nhưng nếu em bằng lòng để chị Hai đụ; vậy chị Hai lấy cái chi mà đụ hè?. Thôi chị về mượn đỡ cây hai của anh Hai đi ().
Cả xe cười ồ, chị cũng là người có văn hoá Việt, đúng hơn Nam bộ. Chị đi một nước, không quay lại. Bảy Xị khen tôi:
- Bữa nay, tôi thấy anh nói câu này nghe được.
Họa sĩ Việt kiều Pháp, bạn boyfriend của Catherine; tôi xin lỗi gọi boyfriend, khi dùng từ này, người Âu-Mỹ hiểu ngay họ đã quen nhau trên mức bạn thường. Anh dịch ra tiếng Pháp, mọi người cười ồ, tuy có trí thức hơn tiếng cười của khách trên xe bus hồi nào.
- Và câu chuyện thứ hai ra sao?. Ý Nhi quay sang gợi ý.
Tôi từ từ kể:
- Không hiểu bộ mặt của tôi có đểu giả không, tôi không thể biết. Nhưng có lần một thằng nhạc sĩ giận tôi, bởi lẽ cho rằng tôi ký giao kèo in sách () của nó có bảy trăm cuốn; nhưng thực tế in một ngàn. Nó hỏi, tôi trả lời: “Đúng, tao in một ngàn, trong đó có một trăm cuốn nộp lưu chiểu và tặng cho chính mày, tác thiệt. Còn hai trăm cuốn kia, bớt được lệ phí nhà xuất bản, bù vào sách bán chậm”. Nó đòi thêm tám phần trăm bản quyền trên hai trăm cuốn. Tôi đáp sẽ đưa sau, khoảng trên dưới hai trăm ngàn nữa. Nó hùng hổ đòi tôi, y như vợ nó hay mẹ nó mới qua đời; nhà chưa có tiền mua hòm liệm. Nó chửi tôi:
- Mày là quân đểu giả. Ông sẽ kiện mày tới Bộ Văn hoá Thông tin lẫn Cục Bản Quyền, cả Sở Công An.
Tôi đáp:
- Đúng tao là thằng đểu giả. Nhưng cách mày đòi tiền tao như vậy, đúng là thằng đểu thật. Vậy tôi xin thưa với toàn thể quí vị, và với riêng cô Catherine đây, người đang soạn luận án thạc sĩ ngôn ngữ học, vậy cô cho biết ai đểu giả, đểu thật?
Họa sĩ Việt kiều Pháp, ra đi từ 1969, tự hào mình nói tiếng Pháp giỏi – không vậy, làm sao tán được Catherine – hoạ sĩ dịch câu chuyện đểu giả, đểu thật sang tiếng Pháp. Dịch xong, chẳng một ai cười. Vậy, câu chuyện này nhạt nhẽo hơn nước ốc ao bèo. Xin phép mọi người được dịch câu chuyện này sang tiếng Pháp, bốn chục năm tôi không dùng đến. “Xin tha lỗi, xin tha lỗi sự vụng về và dốt nát, dốt nát, tất nhiên, tất nhiên…”. Câu chuyện được dịch xong, nhiều người cười ồ, như thấu hiểu được văn tài dịch thuật của cựu thông ngôn tôi đây – sở dĩ có cụm từ này, bởi xưa kia thằng Trần Phoóng, thư ký tòa soạn báo Văn, đưa tôi lên bàn mổ về tài hay tai làm chết chữ nghĩa trong cuốn sách dịch Việt Nam, tragédie Indochinoise của Louis Roubaud. Tôi trót dịch tout Sài gòn … thành tên chiếc tàu thủy, dốt nát không biết đó là tất cả khách Sài gòn đều có mặt…. Vậy tên Trần Phoóng, thôi khai thật ra ngay; Trần Phong Giao, tác giả cuốn tiểu thuyết độc nhất Ngồi lại bên cầu. Tôi quên chưa hỏi tác giả, đây là Cầu tầu của tout Saigon hay Cầu cá của dân miền Nam rất quen thuộc?. Từ đó, bị ám ảnh Trần Phoóng phải là tay tổ giỏi tiếng Pháp. Có một lần, khoảng 1965, ở Vũng Tàu tôi mua tạp chí Văn đọc. Bỗng phải giụi mắt, Trần Phoóng giới thiệu Eric Maria Remarque, văn sĩ nổi tiếng Đức là nữ văn sĩ. Thôi chết rồi, Trần Phoóng cũng như Đỗ Quý Toàn sau này giới thiệu trên Đài Truyền hình, cũng tin rằng kẻ nào có chữ Maria là bà chứ ông làm sao được?. Tôi gặp nó ở Sài gòn, bốp chát hỏi:
- Mày bao giờ cũng là ân nhân của tao, này tao muốn khuyên mày một lời, có đồng ý không?. Không nhất thiết có chữ Maria hay Marie đều là lỗ tướng đâu nhé em!.
Nó không thèm trả lời tôi, quay phắt đi, nguýt kiểu mụ hàng cá nguýt mụ hàng thịt ở chợ cầu Ông Lãnh vậy.
Catherine lấy sổ tay ra ghi, xong quay lại hỏi:
- Tôi chưa thể trả lời ông, ai đểu giả, đểu thật?. Nhưng ông có thể trả lời thay tôi được không?.
- Tôi trả lời thay cũng được thôi. Nhưng câu trả lời này không phải của tôi bởi khi kể cho họa sĩ Phan Diên ở Mỹ về chơi, anh ta đáp: “Chúng ta đều là người đểu giả thật“.
Ông Dacson N. Eustachon ơi, nhận được fax ông gửi cho phu nhân, Mrs Yen Eustachon, nhắc hãy cùng tôi đến Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, đòi bản quyền nơi tái bản cuốn Introduction to American literature vào tháng 12.98 của ông. (In hai thứ tiếng do nhà Tuấn Tú Sài gòn xuất bản từ 1960) Tôi và phu nhân của ông sẽ làm việc này, dầu ít nhiều, mong rằng ông được trả bản quyền (). Bởi hiệp ước bản quyền Mỹ Việt mới ký kết được thi hành kể từ ngày 22 tháng 12 năm 1998. Cứ như phu nhân của ông, bà ấy cho biết tiền điện thoại và đánh fax của ông mấy lần, không hiểu có đủ sở phí chưa, còn nói đùa làm gì, lần này bản quyền tiền sách của Dacson đủ tiền mua vé khứ hồi Texas-Saigon-Texas, thời giá hiện tại là USD, 1350.


( còn tiếp ... )


THẾ PHONG

THƯ VIẾT Ở SÀI GÒN
do VĂN UYỂN xuất bản và phát hành

Điạ Chỉ Liên Lạc Mua Sách :
Nhà xuất bản VĂN UYỂN
PO Box 1882
San José, Calofornia 95109, USA
Email: ttbg@sbcglobal.net


© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC