,


NHỮNG KỈ NIỆM SAU CÙNG VỚI NHẠC SĨ PHẠM DUY










Quý vị đang nghe Những Gì Sẽ Đem Theo Về Cõi Chết
do chính nhạc sĩ Phạm Duy song ca cùng nữ ca sĩ Khánh Ly


   Nhạc sĩ Phạm Duy, thiên tài âm nhạc, đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại đã vĩnh biệt chúng ta vào lúc 14 giờ 30 phút trong ngày chủ nhật buồn 27/1/2013.

Phải chăng linh hồn tinh anh của ông đã tiên cảm thấy cảnh ra đi ấy của chính mình nên từ lâu ông đã viết lời Việt cho bài hát nổi tiếng “Sombre dimanche” (chủ nhật ảm đạm) của nhạc sĩ Hungari Rezso Seress với những ca từ đậm màu tang lễ như sau: “Chủ nhật nào tôi im hơi vì đợi chờ không nguôi ngoai bước chân người nhớ thương tôi đến với tôi thì muộn rồi. Trước quan tài khói hương mờ bốc lên như vạn ngàn lời. Dẫu qua đời mắt tôi cười vẫn đăm đăm nhìn về người. Hồn lìa rồi nhưng em ơi tình còn nồng đôi con ngươi. Nhắc cho ai biết cuối đời có một người yêu không thôi…”.

Nếu tinh ý, chúng ta dễ dàng nhận ra một điều là đặc trưng nhất, là linh hồn của toàn bộ con người và sự nghiệp Phạm Duy được kết đọng trong chỉ một từ YÊU. Vâng, Phạm Duy đã yêu rất nhiều: yêu cõi trần gian, yêu thế giới vô cùng chất chứa của con người, yêu đến rơi nước mắt những người dân quê Việt Nam chất phác, yêu cà dân tộc ở ba miền Bắc, Trung, Nam, yêu tổ quốc Việt Nam đến nỗi dù phải chịu bao nhiêu thử thách, đắng cay cũng không thể nào lìa bỏ được, và nếu chết thì nhất định phải được chết trên đất Việt Nam. Nhân đây tôi muốn nói thêm một điều: “Những người không biết yêu thế giới này một cách thật sự thì suốt đời chẳng có trong tay một cái gì đáng giá”. Cho hay: yêu – ái – aimer – loving có vai trò quan trọng biết chừng nào đối với con người chúng ta!

Trong khoảng một hai tháng vừa qua, tôi - kẻ hậu sinh mà từ thời niên thiếu đã nảy sinh một mối thần cảm với con người và âm nhạc của Phạm Duy – bỗng cảm thấy lòng thảng thốt lo âu về ông. Chính vì vậy, trong cuộc du chơi ở Vũng Tàu theo lời mời của người bạn thân là anh Phùng Chí Tâm, bỗng nhận được tin nhạc sĩ Phạm Duy vừa trải qua một cơn ốm nặng, tôi đã đặt cho mình một nghĩa vụ: phải lập tức viết một đôi câu thơ (thực chất là một đôi câu đối) dành sẵn cho giờ phút số phận bắt tôi phải xa lìa ông. May mắn thay, tôi vừa cầm lấy cây bút thì một ý tưởng bỗng loé sáng trong óc tôi: có thể đem so sánh hai sự trường tồn, một thuộc về lịch sử oai hùng của dân tộc, và một về sự lắng đọng của âm nhạc Phạm Duy trong tâm hồn người Việt. Sau khoảng 15 phút, đôi câu đối đã hiện hình toàn vẹn không mấy khó khăn:

Vang vọng ngàn năm tráng ca Đại Việt,
Đằm thắm muôn đời tình khúc Phạm Duy.

Tôi mang đôi câu đối ấy đọc cho anh Tâm nghe và thổ lộ nỗi lo âu của tôi về sức khoẻ của nhạc sĩ Phạm Duy. Bỗng anh Tâm nói ngay như thật:

– Kiều Văn cứ yên tâm, nhạc sĩ Phạm Duy chưa thể ra đi được, bởi vì ông còn chờ anh đi chơi Vũng Tàu về và mang quà quý đến cho ông.

Ngay tối hôm ấy ở Vũng Tàu tôi viết vào cuốn sổ tay: “Nhạc sĩ Phạm Duy yêu quý! Xin bác ráng đợi em về rồi hãy ra đi!”.

Ngày hôm sau trở về Sài Gòn, tôi vội vã in bài “Mối thần cảm với nhạc sĩ Phạm Duy” mà tôi đã gửi đăng trên newvietart (Pháp) từ hơn một năm trước. Ở trang đầu tôi in bằng chữ đậm hai câu thơ trên, là sự tổng kết của tôi về sự nghiệp âm nhạc rực rỡ của ông. Đó sẽ là món quà sau chót tôi mang đến tặng ông sau 12 năm gặp gỡ. Tôi gọi điện thoại cho ông. Có tiếng người phụ nữ: “Ông đang ở nhà. Anh có muốn nói chuyện với ông không?”. Tôi mừng rơn đáp: “Có”. Phạm Duy cầm máy, tôi hỏi: “Bây giờ em muốn đến thăm bác có được không?”. “Đến ngay đi” - ông đáp như thể bất chợt vui mừng. Ngay lập tức tôi phóng xe tạt qua nhà anh Nguyễn Tường bạn tôi, và hai người lao đến với nhạc sĩ.

Căn phòng im phăng phắc, không thấy Phạm Duy, chỉ có Duy Minh con trai ông và chị giúp việc. Thấy tôi nhìn ngơ ngác, chị khẽ nhắc: “Ông nằm trong ghế đó”. Tôi rón rén bước đến, thấy nhạc sĩ Phạm Duy đang nằm lút mình trong chiếc ghế bành lớn, khuôn mặt nhợt nhạt không còn thần sắc khiến tôi phát hoảng. Nhưng khi tôi đến đứng trước mặt ông thì ông bỗng mở mắt nhìn tôi, và tôi cảm thấy như ông đang sống động trở lại. Phải chăng hệ thần kinh của ông lâu nay chìm sâu vào giấc ngủ đã đột ngột phát hiện sự có mặt của một người tri kỉ và bừng thức dậy? Nhưng hai chân của nhạc sĩ đã quá yếu không còn đỡ nổi người ông nữa. Chị giúp việc cùng hai chúng tôi ra sức nâng ông ngồi thẳng dậy trên chiếc ghế bành để chủ và khách có thể nói chuyện dễ dàng. Tôi nắm lấy cánh tay ông và kể lại chuyện anh Tâm nói ở Vũng Tàu rằng Phạm Duy chưa thể ra đi nếu chưa gặp lại tôi. Ông mỉm cười về câu chuyện ấy và nói:

– Hôm nọ tôi tưởng tôi chết rồi…

Tôi giở tập giấy in bài tôi viết về ông để ông được tận mắt nhìn thấy nó. Trước kia tôi chỉ trao đổi về bài viết ấy với ông qua email mà thôi. Nhưng ông nói:

– Bây giờ tôi không đọc được nữa, vậy tốt nhất là anh hãy đọc cho tôi nghe.

Một đề nghị thật có lí và thú vị. Trước hết tôi đọc to hai câu thơ tôi vừa viết tặng ông hôm qua. Khối óc lão luyện của ông đã thẩm định nó chỉ trong chớp mắt, và tôi nhận thấy một sự hài lòng hiện rõ trên gương mặt đã trở lại cái sắc hồng hào trước đây của ông. Riêng điều đó nói lên rằng ông có một sức sống phi thường: đối với ông, việc chết đi rồi lại sống lại như có phép mầu là một điều bình thường. Tôi tin rằng hơn ai hết, ông là người hiểu thấu cái ý nghĩa chứa đựng trong hai câu thơ biền ngẫu ấy. Cổ nhân nói “Tửu phùng tri kỉ thiên bôi thiểu” (Rượu gặp bạn hiền nghìn li: ít) thật không ngoa. Ông ngồi điềm tĩnh rất lâu chăm chú nghe tôi – kẻ hậu sinh ra đời sau ông 22 năm – dượt lại một lần chót những trang y viết về bản chất con người thiên nhiên của ông và chân giá trị sự nghiệp âm nhạc của ông.

Tôi cũng trình bày lại cho ông nghe về “cặp bài trùng thơ – nhạc” trong thế kỉ XX giữa ông và Nguyễn Bính. Cả hai tài năng lớn cùng lãnh sứ mệnh thiêng liêng khắc hoạ chân dung dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, và cả hai đã thực hiện được điều đó một cách tuyệt hảo.

Tôi vẫn nhớ in trong óc, suốt mấy năm qua, trong những lúc đàm luận với Phạm Duy, tôi thường nghe ông nói những lời sâu sắc lạ thường chứng tỏ ông không chỉ là một nghệ sĩ mà còn là một con người có óc phán đoán vô cùng sắc bén. Chẳng hạn có lần ông nói rằng vai trò quan trọng của những người nghệ sĩ là phải đóng góp đắc lực vào công cuộc hoà giải dân tộc, bởi tiếng nói của nghệ sĩ không phải là tiếng nói thuần lí trí, càng không phải là tiếng nói của quyền lực mà chính là tiếng nói của trái tim. Mà chỉ bằng trái tim mới cảm hoá được trái tim. Ông nêu một ví dụ: ông và thi sĩ Huy Cận, trước đây tuy sống dưới hai chế độ xã hội khác nhau nhưng ông vẫn thản nhiên phổ nhạc cho bài thơ “Ngậm ngùi” của Huy Cận, và bài hát ấy đã được nhân dân cả hai miền đón nhận như nhau. Hoặc khi trò chuyện về nhạc sĩ Văn Cao, ông có nhận xét “Văn Cao là người rất mực tài hoa nhưng hay vọng ngoại”. Có lẽ ông nhận thấy Văn Cao thường hay trông cậy vào những gì ở ngoài mình, khác với Phạm Duy chung thân chỉ trông cậy vào bản thân mình mà thôi.

Chính sự sắc bén về trí tuệ đã giúp Phạm Duy phát hiện chính xác chân tài của nhiều người khác, đã chân thành trân trọng họ và đã dồn rất nhiều công sức để tạo dựng nên những công trình chung của ông và họ nhằm cống hiến cho đời. Có thể kể: Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, thơ của Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Phạm Thiên Thư, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Bích Khê…

Những suy nghĩ và hành động tốt đẹp ấy đã khiến Phạm Duy trở thành một người giàu tình bạn vào bậc nhất mà tôi được biết. Ông đã sống hết mình với những tình bạn ấy đến tận những phút chót của cuộc đời.

Vì linh cảm thấy đây là cơ hội cuối cùng được đàm đạo với ông, tôi mạnh dạn giới thiệu để một bậc thầy thẩm định lần cuối những sáng tạo của tôi trong lĩnh vực âm nhạc. Tôi là học trò âm nhạc vắng mặt của ông từ những năm 60 thế kỉ trước. Tôi bèn hát cho ông nghe bài “Trời đã lạnh rồi” tôi phổ thơ Chế Lan Viên và bài “Tình xuân” tôi phổ thơ của tôi. Qua cử chỉ nhắm mắt chăm chú lắng nghe và những nét biểu cảm trên gương mặt ông với những cái gật đầu bất chợt, tôi hiểu rằng ông đã có những thích thú nào đó với style khá mới lạ trong cái góc âm nhạc riêng của tôi. Có lúc thấy ông nhắm mắt rất lâu, anh Nguyễn Tường nghĩ ông mệt nên nhắc tôi lưu tâm, nhưng bất ngờ ông nói to như quát: “Không, tôi vẫn đang nghe!” làm chúng tôi giật mình.

Cuộc đàm đạo của ba chúng tôi diễn ra khá rôm rả tưởng chừng nhạc sĩ Phạm Duy vẫn khoẻ mạnh như thường. Điều may mắn lớn là tôi kịp nhắc anh Tường quay camera cuộc trò chuyện của tôi với ông. Đó là những thước phim sau cùng về ông mà đối với tôi là vô giá.

Một tuần sau tôi sốt ruột bèn gọi điện hỏi thăm ông. Ông trả lời gọn lỏn “Tôi khỏi rồi” và cúp máy. Vì thế tôi đâm yên trí, rồi nghĩ đến câu “đức năng thắng số” tôi tin rằng ông sẽ sống đến đủ 100 tuổi.

Giữa lúc tôi dự định đến tết Quý Tị này sẽ rủ bạn bè đến thăm ông trong không khí hân hoan của những con người sống “vượt thời gian” thì cái tin đột ngột ông từ trần đã khiến tôi rơi vào một cơn trầm cảm…

Tôi cố gắng trấn tĩnh và đi ra phố đặt một bức trướng trong đó thêu đôi câu đối của tôi, rồi buổi chiều tôi cùng anh Nguyễn Tường đến viếng nhạc sĩ Phạm Duy tại nhà riêng ở phố Lê Đại Hành. Tôi không khỏi bàng hoàng khi nhìn thấy hình ảnh trước quan tài khói hương mờ bốc lên như vạn ngàn lời. Thế nhưng trên nóc chiếc quan tài đó lại là hình ảnh nhạc sĩ Phạm Duy với miệng cười tươi tắn đang nhìn về phía cuộc đời. Thì ra những nỗi bi thương của trần gian tuy luôn luôn có thật nhưng dường như về căn bản chúng không phải là thứ dành cho một con người như Phạm Duy. Trái lại, cái dành cho ông chính là một nguồn hạnh phúc bất tận. Vì sao thế? Vì ông là con người rất biết yêu nên đã được trời đất và giống nòi yêu thương rất mực, rồi số mệnh cũng ưu ái ban cho ông một cuộc đời tốt lành và viên mãn không mấy ai bì kịp.

Sau khi thắp nhang để gửi đến ông những tâm sự sâu xa, niềm trân trọng, lòng biết ơn, những tình cảm nồng đượm nhất và chúc cho vong hồn ông mau chóng được siêu thoát, tôi cùng anh Nguyễn Tường đi chầm chậm quanh quan tài để chào từ biệt ông. Và lần cuối cùng, tôi nhìn ngắm thiết tha gương mặt đẹp đẽ thân thương đang bằn bặt giấc tiên của ông, người đã là thần tượng của tôi từ lúc tôi còn thơ ấu đến nay. Trong tôi vỡ oà một ý tưởng rộng lớn chưa từng thấy. Tôi chợt nhận ra bức chân dung toàn bích của Phạm Duy: ông vừa là một trích tiên giáng thế để gieo rắc những vẻ đẹp thẳm sâu trong thế giới con người, vừa là điển hình của mẫu người “người” nhất, sinh động nhất, trần thế nhất – mẫu người toàn vẹn, không chịu để cho một tôn giáo nào, một môn phái nào, một thói tục nào cắt xén bản chất thiên chân của mình ở bất kì góc cạnh nào.

Hỡi ôi, một con người như thế giờ đây đã “cưỡi hạc vàng đi mất” và thật khó có gì bù đắp nổi.


Sài Gòn 28/1/2013


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SaìGòn ngày 29.01.2013.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com