Không biết từ lúc nào chúng tôi biết đến Già Tư. Chỉ biết là mỗi lần đi ngang qua cái chòi có ông già câm ngồi sửa xe đạp hay làm hề nên ghé lại chơi riết rồi quen. Không ai biết Ông ấy quê quán ở đâu, vợ con ra sao, chỉ biết là ông lão đã đến đây ở từ lâu lắm rồi. Già Tư có một điểm đặc biệt là ở Xóm Chùa nhưng không bao giờ “ăn chay niệm Phật” như mọi người. Tuy vậy những nhà sư hay học sinh đến sửa xe ông đều không ăn tiền. Già cũng không giao thiệp với ai ngoài bọn trẻ chúng tôi. Mỗi chiều, ông lão hay ngồi nhâm nhi vài li rượu một mình trong cái chòi cũng là lúc chúng tôi thường tụ tập đến. Ông không nói được, chỉ ra dấu. Vậy mà dần dần rồi chúng tôi quen. Mấy người sửa xe phải nhờ đến chúng tôi làm “thông dịch viên” cho ông hiểu.
Mấy năm trước, Già mua được một con chó phèn vừa biết ăn và cặp gà ta ở xóm trên. Ông làm chuồng nuôi gà còn con chó phèn thì ông cưng hết cỡ. Già làm cho nó một cái mùng nhỏ, tối giăng dưới sàn chổng để nó ngủ. Con phèn quen từ nhỏ nên tối đến là tự biết chui vào mùng ngủ. Cái lần ông lão bị lên máu té trong chòi, con chó ấy chạy ra chạy vào kêu la inh ỏi. Hàng xóm thấy lạ chạy qua thì thấy Già nằm bất động, họ dìu ông lên chổng rồi thoa dầu, xoa bóp cho Già tĩnh. Từ đó Già cưng con phèn hơn. Cứ mỗi buổi cơm, Già một chén là con phèn một chén. Có lần Già chỉ chỉ con phèn rồi khoanh tròn tay đưa qua đưa lại (ý Già nói là xem con phèn như là con cháu).
Một buổi chiều, Già Tư ngồi trên một cái ghế thấp ra dấu với tôi. Ý Già muốn nhờ chúng tôi bán giúp một mớ gà để Già về thăm quê. Tôi hiểu ý nên kêu Bà Bảy Gà ngoài chợ lại mua cho Già. Già Tư bán hết bầy gà chỉ chừa lại một con gà mái đang dẫn con và một con gà tơ. Chiều hôm sau đó Già làm thịt con gà tơ đãi bọn tôi. Già nấu một nồi cháo nóng hổi, múc từng tô cho bọn tôi. Tôi cười chỉ vào miệng rồi cười (ý là khen Già nấu ngon hết ý). Già Tư cười phì lộ ra cái miệng móm xọm...
Đang ăn ngon miệng thì Bà Năm hàng xóm chạy qua:
- Mèn đét ơi! Hôm nay rằm, Già Tư không đi lễ Phật, không ăn chay thì thôi còn sát sinh mần thịt gà rủ mấy đứa nhỏ ăn nữa. Tội lút đầu đó Già Tư ơi! Tội chết…
Già Tư ngồi tỉnh queo, húp chén cháo bình thản. Bọn tôi cũng vậy. Cái cảnh bị bà con xóm chùa hay phàn nàn vì không chịu tu hành ăn chay niệm phật thì quá quen với Già Tư và bọn tôi rồi…
Trời bắt đầu trở gió, Già Tư ho nhiều, chúng tôi khuyên ông nên đi bệnh viện, khuyên mãi ông mới chịu đi. Sáng hôm sau Già đón xe đò lên bệnh viện. Ông lão gửi tôi hai mươi nghìn đồng, nhờ mua cho con phèn ổ bánh mì đem qua chòi cho nó ăn. Ông quyến luyến con phèn một hồi lâu rồi bước lên xe mà mắt vẫn nhìn theo tôi mãi. Con phèn bỗng vụt chạy theo, ông xua tay, tôi đứng kêu nhưng nó vẫn chạy theo, con chó chạy vụt qua vụt lại. Ra đến ngã tư thì con vật khôn lanh ấy bị một chiếc xe hơi cán. Con chó kêu lên tiếng rên rĩ thất thanh. Già Tư hoảng hốt kêu xe dừng lại, ông xuống xe chạy nhanh đến ôm con phèn rồi đưa con chó về nhà. Vừa đi Lão vừa khóc mếu máo, khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc như mình vừa mất đi một người thân…
Già đem con phèn chôn phía sau nhà, Già và bọn tôi đấp cho nó một cái nấm mộ. Già chỉ chỉ vào người rồi chỉ xuống đất:
- Tôi hiểu ý Già muốn chết sẽ nằm kế con phèn đúng không? – Tôi hỏi.
Già lắng nghe rồi gật đầu lia lịa…
Con phèn chết, Già Tư buồn lắm. Ông không đi khám bệnh nữa Tối ngày Già chỉ quanh quẩn trong nhà. Hôm rồi, ông lão kêu tôi lại rồi ra dấu kể tôi nghe về cuộc đời của mình: “Già quê ở tận Cà Mau. Hồi trước lão là y tá tư nhân. Vì xem bệnh không kĩ, chủ quan nên làm chết đứa con trai duy nhất của mình. Bà vợ cằn nhằn, ông vẫn không trả lời vì lòng đang đau như cắt. Bà lỡ lời nói: Sao ông không câm luôn đi, ngồi đó im thinh như ngậm bù hòn. Già giận nên đã uống thuốc tự vận. May mà không chết mà lại bị câm. Từ đó ông bỏ đi trôi nổi đến cái xứ này sống trong im lặng một mình…” nghe lão kể, tôi rơm rớm nước mắt.
Từ hôm đó đến mấy hôm sau, Già Tư trở bệnh nặng hơn. Ông đóng của chòi mấy hôm nay, hàng xóm không ai để ý tới chỉ riêng bọn trẻ chúng tôi là hay chạy tới chạy lui săn sóc cho Già. Sáng hôm đi thì tuyển vào trường Trung học Phổ Thông, lòng tôi cứ nặng trĩu một sự âu lo bất thường. Hai ngày thi vừa xong, tôi chạy ngay về nhà. Xe vừa tới đầu làng, tiếng trống từ xóm chùa vang ra giục giã làm mỗi bước đi của tôi càng hồi hộp hơn. Nhà Già Tư hôm nay đông lạ. Tôi chạy đến trước cửa nhà, chưa kịp nhận ra điều gì thì đã nghe tiếng mấy thằng bạn trong xóm la lên:
- Trời ơi! Già Tư ơi! Sao Già chết bỏ tụi con…
Tôi chạy vào cái quan tài cũ kĩ đã ngả màu nói trong những tiếng nấc buồn tủi:
- Già Tư ơi! Già chết rồi đó thấy chưa? Sao Già không chịu đi khám bệnh…Già chết rồi ai sửa xe cho con vào trường mới… Già nỡ bỏ tụi con sao…?
Tôi cố nhìn mọi người xung quanh. Cũng chẳng ai xa lạ ngoài bọn trẻ trong xóm và Bà Năm thường ngày hay cằn nhằn ông bạn hàng xóm lạ lùng. Bà Năm con mắt đỏ hoe đang lúi cúi nấu bữa cơm cuối cùng đưa tiễn Già Tư…
Chiếc xe hơi mới cáu đậu lại trước cửa. Một người phụ nữ vào nhà nói gì đó với Bà Năm rồi bỏ đi. Thì ra đây là vợ Già. Bà ta chỉ đứng lại một lúc rồi đi mất. Chỉ có bọn trẻ chúng tôi là ở bên ông lão tội nghiệp cho đến lúc cuối cùng.
Mọi người đưa Già Tư đi chôn ngoài nghĩa địa chứ không chôn sau nhà kế con phèn như ông lão từng trăn trối. Ngôi mộ của ông chỉ là một nấm đất cao chứ không một tấm bia tên tuổi.
Vậy là Già cũng không nói được gì để gì lại trên nấm mồ cho người hậu thế qua lại biết. Sống lẳng lặng rồi chết cũng lẳng lặng…
Mấy hôm sau, vợ Già Tư kêu bán mảnh đất. Cái chòi đã bị dở đi mất thay vào đó là một cái nền nhà mới đang được xây dựng. Ngôi mộ của con phèn cũng bị vùi trong đống cát đá. Còn đàn gà con thì giờ còn mất ra sao cũng không ai biết? Già Tư cũng nằm trong ba tấc đất. Những sự thật về ông chúng tôi cũng không nói với ai. Già Tư giờ không còn gì nữa nhưng làm sao ông lão có thể mất được trong trí nhớ bọn trẻ xóm Chùa chúng tôi…
Mỹ Luông, 6/9/2011