VUI BUỒN NGHỀ DẠY HỌC, VIẾT SÁCH



LƯƠNG VĂN HỒNG

Quý vị đang nghe Ernes Cortazar

Chúng tôi đi học ở Cộng hoà Dân chủ Đức. Nhóm chúng tôi có 12 sinh viên, là nhóm đi muộn. Ngày 10 tháng 11 mới lên tàu đi Hà Nội- Bằng Tường. Ở biên giới Việt Nam-Trung Quốc thì chuyển đi tàu Trung Quốc (đường ray của VN nhỏ hơn của TQ). Từ Bằng Tường đi một mạch tới Bắc Kinh. Chúng tôi được nghỉ mấy ngày ở Bắc Kinh ngày 13, 14, 15 tháng 11 năm 1968 tại khách sạn Bắc Vỹ (KS là nơi du học sinh VN hay lưu lại chờ tàu đi tiếp). Sáng 13.11.1968 chúng tôi được nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương - Trưởng đoàn dẫn tới Quảng trường Thiên An Môn. Đi ngang qua quảng trường chúng tôi tới Bách hoá đại lầu. Chúng tôi được phát mấy Nhân dân tệ (tiền TQ) tiền tiêu vặt. Các bạn tôi ai cũng mua dép Thái Lan, bí tất, khoá. Tôi mua một cái bút máy “Kin Sin” loại ngòi vàng giá 4 nhân dân tệ (bút ở VN thường bán, ở đây giá 1,1 Nhân dân tệ), 1 cái cặp giấy để ghi nhật ký. Lần đầu tiên ra nước ngoài, để tránh lạc đường, chúng tôi thường đi theo nhóm, có khi túm đuôi áo nhau mà đi. Hồi này còn đang Cách mạng văn hoá. Trên quảng trường cũng như gần khán đài từng tốp người đi qua lại. Có một vài tốp đứng chụp ảnh kỷ niệm. Có một tốp giải phóng quân tay cầm trước tác của Mao Trạch Đông chụp ảnh. Chúng tôi đi bộ khoảng 2, 2,5 km, có mấy người đi giầy chưa quennên đau chân, đi khập khiễng, lò cò.

Khách sạn Bắc Vĩ có tục lệ bao nhiêu người ngồi ăn thì có ngần ấy món. Nhiều nhất là 10 món. Vì vậy tất cả chúng tôi ngồi chung một bàn. Chúng tôi đang thanh niên nên rất thích chuyện cơm ăn bao nhiêu cũng có.

Bắc Kinh đang xây dựng đường tàu điện ngầm ở khu ga Bắc Kinh (năm 1975 khi tôi ở lại chờ tàu đi tiếp về VN thì BK mới làm xong 7 km đường tàu điện ngầm. Khi tôi ở Bắc Kinh năm 1968, khắp nơi chỉ thấy áo bông, áo sơ mi màu xanh công nhân, nhưng vào năm 1975 thì thấy đã có màu trắng, màu nâu và một số màu khác). Bắc Kinh không có tàu điện. Ở đây xe buýt chạy nhanh, nhiều, chỉ 2 đến 5 phút là có một chuyến, thế mà chuyến nào cũng đông, chen nhau lên xe. Xích lô ở Trung Quốc người đạp ở phiá trước. Sao họ khoẻ vậy, xe chở tới ba bốn tạ hàng. Tuy có đèn xanh đỏ, nhưng sao xe đạp vẫn đi qua được khi đèn đỏ?!

Thứ sáu, ngày 15 tháng 11 năm 1968 chú Thương dẫn chúng tôi đến “Hữu nghị thương điếm”. Chúng tôi mua hộp dao cạo, cắt móng tay, bút bi, bút máy v.v.. Hồi ấy chúng tôi rất mê bút máy ”Anh hùng”của Trung Quốc viết trơn, nét nhỏ nên viết không tốn giấy và mực. Đặc biệt bút bi mực ra đều, nét nhỏ nên một ruột bút bi mà chép viết được rất nhiều. Trên đường dạo phố, chúng tôi gặp một đoàn giải phóng quân và nhân dân đánh trống, đánh chiêng, rước ảnh Mao Chủ tịch. 12 giờ trưa chúng tôi lên ô tô số 5 về nhà. Buổi chập tối, chúng tôi nghe tiếng súng, nhìn qua cửa sổ thấy những vệt sáng. Bắc Kinh vào những ngày thu có sương mù nhưng không dày đặc lắm, nhưng lần đầu tiên tôi biết thế nào là lạnh thấu xương của khí hậu lục địa. Bắc Kinh nằm sâu trong lục địa, nên gió biển không vào tới. Cái rét ở đây hanh khô nhưng cộng với sương mù nên chỗ gãy tay khi xưa buốt nhức kinh khủng.

Tôi giảng dạy đại học ba chục năm (1975-2005). Từ 1975 tới 1978 tôi dạy tiếng Đức ở Khoa tiếng Đức Trường Đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân Hà Nội (ở Hà Nội còn Trường đại học sư phạm ngoại ngữ). Từ năm 1978 đến khi nghỉ hưu tôi dạy ở ĐHTH TP HCM và là Trưởng ban tiếng Đức (Deutsch-Abteilung) đầu tiên của ĐHTH TP HCM. Vì bị TBMMN nên sau đó Phạm Đình Hùng lên thay.

Năm 1995, Hiệu trưởng gọi lên, tôi chủ động đề nghị xin nghỉ hưu non. Hiệu trưởng không đồng ý và phân công tôi dạy Văn học Đức ở Tổ Văn học nước ngoài thuộc Khoa Ngữ văn- Báo Chí Trường ĐHKHXH-NV TP.HCM. Tôi nói, chuyển từ dạy tiếng sang dạy văn phải có thời gian đọc sách, ít nhất cũng là 2 năm. Hiệu trưởng đồng ý. Tôi phải nộp đề cương môn học. Khi tôi nộp, Tổ trưởng bảo làm chi tiết quá (10 trang đánh Computer khổ A4). Tôi vừa dạy vừa soạn bài lên giảng. Năm 2000 tôi nộp bản thảo “Lược sử văn học Đức từ khởi thủy tới 1830” cho tổ Trưởng. Sau 8 tháng tổ trưởng trả lời, viết kỹ quá , viết lại cho đơn giản hơn. Trưởng khoa nói, nhất trí với lời của tổ Trưởng. Tôi tức quá, đem bản thảo đến NXB ĐHQG TP. HCM. Sau một tuần tôi được gọi đến gặp Trưởng ban Biên tập giải thích lý do, tại sao viết ngắn thế, ngắn thì nhuận bút ít (vì giáo trình đại học ở Việt Nam là in nguyên văn các bài giảng in thành sách- bài giảng là văn nói nên dài. Tôi giảng thì lấy văn nói làm chuẩn, nhưng in thành sách thì tôi lấy văn viết làm chuẩn nên ngắn, súc tích); tại sao hay đề cập tới triết học, mà viết rất chuẩn. Tôi nói đích cuối cùng của văn là phải nói được triết lý sống, vì vậy nó gắn với triết học không phải bằng lý luận, mà bằng hình tượng nhân vật. Trả lời xong hai câu hỏi. Trưởng ban nói, chính TB biên tập sách, chính TB là tiến sĩ triết học nên rất thích những đoạn nói về triết học trong bản thảo. Tôi cần nộp điã mềm và phác thảo bìa sách. Hôm sau tôi mang đến. 10 ngày sau được tin sách đã in xong. Tháng 10 tổ trưởng từ chối, thì 20.12.2000 tôi có sách. Tôi tặng Trưởng khoa. Trưởng khoa mỉm cười:”Xin chúc mừng anh”.

Tập tiếp theo là “Lược sử văn học Đức 1815-1930” tôi nộp NXB ĐHQG TP HCM năm 2001 thì tháng 5.2002 có sách. Phần “Văn học Đức 1930-2002” viết xong tháng 7 năm 2003 thì Nhà sách Ngọc Trâm đồng ý in 3 phần gộp lại lấy tên là “Đại cương văn học Đức từ khởi thủy tới 2002” Quý 4 năm 2003 sách in xong, sách ra nhanh một phần vì chính Triệu Xuân, giám đốc chi nhánh NXB Văn học biên tập. Tôi viết tiếp phần văn học dân gian. Phần này in trong tập “Kho tàng văn học dân gian Đức” (tập 1 của bộ sách “Hợp tuyển văn học Đức”, NXB Văn học, năm 2005. Nếu chỉ riêng phần viết cho Phần văn học dân gian, Phần văn học bác học, tôi mất trọn 10 năm (1995-2005) mới hoàn thành, có bộ sách rất hiếm hoi trên thế giới (vì có cả văn học truyền miệng và văn học thành văn). Trước đó là những năm sưu tầm tư liệu, đọc sách, suy nghĩ cách viết và viết thử bằng tiếng Đức dạy ở những lớp tiếng Đức trình độ nâng cao, thời gian mất trọn 20 năm (1975-1995). Để bạn đọc có sách tôi mất tổng cộng 30 năm hành nghề, đọc sách, viết sách (30 năm sống như một người tu hành). Nhân đây cho tôi gửi lòng biết ơn Sài Gòn đã bao dung để tôi sống và làm việc.






© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 19.01.2013 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com