Nhớ Biên Cương




HOÀNG BÍCH NGA


Chúng tôi có một chuyến đi đáng nhớ trên vùng biên giới Đông Bắc của Tổ quốc, từ Tiên Yên đến Trà Cổ.

Khi đi qua Tiên Yên, chúng tôi được ông bí thư huyện uỷ đưa đi thăm cảnh sắc sát vùng biên, đi ca nô qua vùng sông nước hữu tình thuộc huyện Ba Chẽ. Vùng này trước đây là rừng vàng của Quảng Ninh, có tới 44.000 ha rừng. Thế mà chỉ trong khoảng 15 năm, rừng Ba Chẽ bị tàn phá chỉ còn 18.000 ha ( vào năm 1991- Theo tài liệu của nhà báo Ngô Mai Phong) bởi sự khai thác vô kế hoạch và bởi người dân phá rừng làm nương rẫy. Người dân ở nơi đây phần lớn là người dân tộc, chủ yếu là người Dao, họ sống du canh du cư, quanh năm đói ăn, rừng là cứu cánh của họ và vô tình họ góp phần phá rừng. Nay thì Ba Chẽ và Tiên Yên, rừng được hồi sinh, người Dao đã định cư trồng rừng, bảo vệ rừng, có nguồn thu nhập khá hơn trước, cây xanh trở lại. Ở đây vẫn còn sót lại một cây Vối cổ thụ và một số cây lim người ôm không xuể có từ ngàn năm trước.

Rời Tiên Yên, Ba Chẽ chúng tôi đi về Bình Liêu. Đường sang Bình Liêu trập trùng mây núi, cảnh đẹp vùng biên khiến chúng tôi dừng lại nhiều nơi để ngắm nhìn. Từ trên cao, phóng mắt xuống vùng ráp gianh hai nước nhìn thấy rất rõ những con đường mòn ngoằn ngoèo đất đỏ giữa thảm xanh của rừng. Ngước nhìn trời, mây trắng bồng bềnh. Phía dưới là thung lũng xanh, sâu thẳm, vời vợi. Bên đường đi, nhiều cây cao bóng cả sừng sững đứng chênh vênh, dưới là vực sâu. Khi đi qua thác “Bò đái”, mặc dù mùa thu rồi nhưng dòng thác nước vẫn chảy, chia thành hai nhánh xoả nước trắng xoá, tràn qua vách đá nhẵn bằng, đổ xuống mát lạnh, lung linh. Bên đường chúng tôi nhìn thấy một cây có gốc cổ thụ chon von được tô điểm bởi những cành lá và hoa của một loài tầm gửi trông rất lạ, cây có hình hài rất đẹp nhưng trông cô đơn, bên những bụi sim, mua hoa nở sắc tím, ẩn hiện, rung rinh mỗi khi làn gió lướt qua. Nhìn thấy những bông hoa mua, hoa sim tươi thắm đung đưa trong gió, lời ca hay của một bài hát về vùng biên giới bỗng nhiên lơ lửng bên tôi:

Nếu em lên biên giới em sẽ gặp bạt ngàn hoa
Hoa sim…giữa đồi nắng gió,
Tím như ai chờ mong
Sắc hoa sim yêu thương trong lòng người lính trẻ
Chờ ai nên tím ngát bồi hồi…giữa biên cương


( Bài Hoa sim biên giới, nhạc Minh Quang, thơ Đặng Ái).

Đường đi lên Bình Liêu là con đường phẳng, mượt như một dải lụa uốn lượn qua những sườn núi, thung lũng. Hai bên là ruộng bậc thang với đường viền ngoằn ngoèo như nét vẽ được tô điểm bằng các ngôi nhà xinh xinh của người Dao. Con đường này được chọn dự thi “Con đường đẹp Việt Nam 2000″. Tuy không rộng, hiện đại như nhiều quốc lộ mới nâng cấp, nhưng phong cảnh ở đây có thể sánh ngang với những cảnh đẹp nhất ở miền Bắc…

Từ trên đường, ta có thể nghe thấy tiếng nước réo ào ào bên dưới dòng sông Tiên Yên uốn mình tràn trên những bãi đá hoang sơ. Càng đi phong cảnh càng trữ tình, đẹp như tranh sơn thuỷ, tiếng thông reo vi vút trên đồi xa như khúc nhạc miên man không dứt.

Thị trấn Bình Liêu cách Tiên Yên hơn 30 km. Khí hậu ở đây đặc biệt trong lành, mùa hè mát, mùa đông ấm. Cả thị trấn như treo bám vào một sườn núi thấp, nhìn xuống một thung lũng rộng, ruộng bậc thang như tấm thảm xanh dập dờn sóng lúa thì con gái, nõn nà mượt mà. Xa xa, người Dao váy áo rực rỡ, từng tốp từng tốp đang trên đường đến chợ Đồng Văn. Khói lam toả ra từ những nếp nhà ẩn hiện. Từ đây theo đường 18C đến Hoành Mô, cửa khẩu lớn thứ hai của Quảng Ninh. Rẽ sang hướng khác cách đó 10 km, đến Đồng Văn, một xã biên giới rất mạnh về cây công nghiệp và có những nét văn hoá, phong cảnh rất đặc trưng của người Dao. Ở đây có rừng hồi, rừng quế và không khí cũng thấm đẫm mùi hương quế, hồi.

Mặc dù tuổi đã cao, hai nhân vật chính của đoàn là hai lão nhân tuổi đã 75, nhanh nhẹn và xông xáo, đó là nhà văn Hoàng Quốc Hải và nghệ sỹ nhiếp ảnh Đỗ Kha. Ảnh chụp Hạ Long của anh Đỗ Kha được treo ở những nơi chúng tôi đến. Chủ nhân nơi đó rất trân trọng và vui khi gặp anh, những bức ảnh của anh đầy hồn biển và núi.

Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng cùng đi luôn mê mẩn với hình ảnh của những cô gái người dân tộc Dao có trang phục sặc sỡ. Chị có những bài thơ rất hay viết về vùng dân tộc, về biên giới. Chắng thế mà, khi gặp gỡ những chiến sỹ đoàn 327 ở Bình Liêu, chị đã đọc bài thơ chị viết khi đi thăm vùng biên giới Tây Nam và ghi tặng lại cho các chiến sỹ ở đây, bài thơ có đoạn:

Ai đếm đong lịch sử
Chỉ cần biết đất này
Các anh đã nằm lại
Tuổi thanh xuân như cây

Trời biên giới thật trong
Mây biên giới thật trắng
Cây biên giới thật xanh
Người biên giới thật thẳng

Người đọc và người nghe rưng rưng ngấn lệ.

Vui với anh em, chiến sỹ và những người lãnh đạo của đoàn 327, chúng tôi được nghe tâm sự riêng tư của các anh. Các anh nói chuyện về nỗi nhớ nhung gia đình, nhớ vợ, nhớ con nhiều đêm không ngủ được. Những ngày nghỉ phép ngắn ngủi về thăm vợ, nồng nàn trong tình cảm vợ chồng, đong đầy nhung nhớ, các anh được các chị cảm thông, chia sẻ nhưng vẫn bùi ngùi trách móc: “ Thời bình rồi mà chúng em vẫn như những người Chinh phụ… ”. Sự xa cách, nỗi nhớ nhung dồn nén trong lòng người chiến sỹ. Hình ảnh người vợ một mình lam lũ nuôi con, chăm cha mẹ già, chồng thì ở nơi xa lắc, nguy hiểm rình rập từng ngày, nỗi buồn của các chị khiến cho các anh băn khoăn, day dứt. Ấy thế mà, khi nói chuyện với chúng tôi, tiếng cười của các anh vẫn ròn rã. Có anh vui vẻ nói đùa với chúng tôi: “ Bởi xa xôi nên lúc nào tôi cũng thấy mới mẻ bên vợ !”. Sự thuỷ chung của người vợ nơi quê nhà giúp các anh an lòng để rảnh rang, yên tâm tận trung với Tổ Quốc nơi biên cương.

Chúng tôi đến Bình Liêu vào đúng ngày 7/7 âm lịch, ngày mà người dân vùng này đều hào hứng đón chờ và tổ chức chợ phiên - Đó là ngày mà dân địa phương gọi là ngày giao phối, giao hoà của tự nhiên, của hoa màu, cây cối, đất trời. Ngày 7/7 âm lịch, người dân địa phương nghỉ lên nương, không chạm vào cây cối để chúng được sinh sôi, nảy nở. Chúng tôi vào chợ Đồng Văn của Bình Liêu, thăm thú chợ phiên vùng biên, tiếp xúc với các chị các anh người dân tộc Dao, ngắm nghía những chiếc mũ có hình khối chữ nhật đỏ thắm được phủ bằng chiếc khăn hoa cũng màu đỏ. Quần áo của phụ nữ Dao rất sặc sỡ, chủ yếu là sắc đỏ, đen, thắt lưng đỏ hoặc vàng, đường viền tà áo được thêu rất khéo léo…Các chị đội lên đầu chúng tôi chiếc mũ độc đáo của người phụ nữ Dao để cùng chụp ảnh. Tiếng cười Kinh- Dao hoà quyện trong bầu trời xanh, trong không khí vui tươi của chợ phiên vùng cao biên giới.

Khi thăm cửa khẩu Hoành Mô, dòng sông mà hai bờ là hai nước khác nhau vẫn lặng lẽ trôi xuôi. Đứng bên bờ, nhìn xuống dòng sông, chúng tôi cố hình dung, nơi nào lòng sông nước sâu nhất nhỉ, bởi nơi sâu nhất là ranh giới chia đôi, có cột mốc biên giới. Có mấy em nhỏ bơi tắm trên dòng sông. Chắc chúng cũng biết, nếu bơi sang bên kia có thể sẽ gặp rắc rối. Những đứa trẻ hồn nhiên cầm những hòn đá nhỏ ném thia lia trên mặt nước để chơi. Mấy anh biên phòng nhắc nhở, chúng mặc quần áo và leo lên bờ rồi lặng lẽ đi về phía làng biên giới xa xa.

Chúng tôi đến thăm đồn biên phòng Pò Hèn và nơi tưởng niệm toàn bộ đồn biên phòng, 88 chiến sỹ và công nhân lâm trường đã hy sinh trong chiến tranh biên giới. Chúng tôi ngồi nghe những người chiến sỹ biên phòng kể lại những gì đã xảy ra cách đây hơn 30 năm mà xót xa, bùi ngùi. Không một chiến sỹ nào của đồn biên phòng sống sót, khi đêm khuya, đối phương tấn công tiêu diệt hết, cùng với họ là những công nhân lâm trường bị giết hại, không còn ai. Khi ra Đài tưởng niệm được một đại gia hảo tâm ở Hạ Long xây dựng, hiến tặng địa phương, chúng tôi dâng hương hoa, lặng người trong nỗi tiếc thương, viếng linh hồn của những người đã hy sinh ở nơi đây. Tôi nghĩ, thảm hoạ này không ai có thể quên. Vùng biên nào trên thế giới này cũng có tranh chấp, có dẫn đến đổ máu mặc dù đã có ranh giới phân chia từ hàng ngàn năm. Đường biên Việt Nam- Trung Quốc, vẫn đất ấy, cây cối ấy sao lại không được bình yên? Tất cả, dấu ấn của thời gian, của lịch sử vẫn ngự trị. Nơi đây, hồn thiêng sông núi, ai đã đi qua không thể thờ ơ với nó. Pò Hèn còn đó, ngày đêm không ngủ, bước chân của người chiến sĩ biên phòng đặt dấu khắp nơi, canh nơi tiền tiêu của Tổ quốc, giữ giấc ngủ bình yên cho mọi người.

Khi đến Trà Cổ, bên cột mốc cây số O chúng tôi bồi hồi nơi địa đầu của Tổ quốc. Vùng biên giới Đông Bắc, với gió, sóng và mênh mông biển trời, chúng tôi thấy, chòi canh gác của các chiến sỹ ở chốt Tràng Vĩ -Trà Cổ đơn sơ quá, đã cũ kỹ, lâu không được sửa sang và hiện đại hoá trong tình hình phát triển hiện nay. Ấy thế mà, các anh nơi đây, trên chòi canh đơn sơ ấy, ngày đêm không mệt mỏi quan sát, làm trọn nhiệm vụ giữ chốt quan trọng nhất của vùng biển Tổ quốc. Trong gió, nắng, trong bộn bề công việc, 24/24 giờ, người chiến sỹ biên phòng không lúc nào được ngơi nghỉ canh giữ hải giới. Những biến động có thể xảy ra nếu buông lơi trong giây phút, các chiến sỹ nơi đây rất hiểu điều đó. Anh Bùi Văn Tảo, chốt trưởng của Tràng Vĩ tâm tình về những nghĩ suy của mình về việc gìn giữ hải giới. Anh mong muốn nơi đây được trang bị phương tiện hiện đại hơn để kịp thời ứng phó với những biến động xấu trong vùng biên ải nhạy cảm này. Nhà văn Hoàng Quốc Hải nói với anh: “Cha ông ta giữ gìn từng tấc đất của Tổ quốc. Biên giới của nước nhà được bình yên chính là nhờ dân và nhờ các chiến sỹ biên phòng các anh !”. Chúng tôi đứng bên cột cây số O chụp ảnh cùng các chiến sĩ biên phòng đầu sóng, ngọn gió Tràng Vỹ.

Trở về Móng Cái, chúng tôi được ngắm nhìn sông Bắc Luân trải dài, đổ ra biển, hai bờ hai nước. Chính dòng sông biên giới và bãi đất Tục Lãm đã có biết bao khó khăn khi phân chia biên ải. Và rồi, sự phân chia thiếu công bằng, Việt Nam mất đi nhiều vùng đất bởi tranh chấp khiến cho nhiều người băn khoăn. Nay vùng này đã phân chia xong, yên ổn, hải giới biển Đông của Việt Nam được phân biệt rõ ràng, dòng sông Bắc Luân chia đôi, cột mốc hai nước vẫn được đặt ở nơi nước sâu nhất của lòng sông.

Chúng tôi thăm đài quan sát Tục Lãm và thấy được những gian nan, thiếu thốn về trang bị hiện đại của Đài quan sát. Khó khăn này khiến người chiến sỹ vùng biên vất vả hơn khi quan sát để phát hiện những vi phạm vùng biên của đối phương.

Cửa khẩu Móng Cái nay không được nhộn nhịp như trước bởi chính sách hạn chế lưu thông, buôn bán nơi cửa khẩu của phía Trung Quốc.

Qua đoạn đường đã đi, chúng tôi được nhìn thấy vùng biên giới Đông Bắc của Tổ Quốc, được tiếp xúc với những chiến sỹ biên phòng, với bao tâm sự rất riêng tư. Họ đau đáu nỗi niềm yêu thương đất nước, góp sức giữ yên vùng đất, trời, biển thiêng liêng của vùng biên. Chúng tôi biết ơn cha ông đã oanh liệt chiến đấu để giữ được từng tấc đất, giữ được hình hài của Tổ quốc.

Chuyến đi đã được nhà nhiếp ảnh Đỗ Kha, hai người bạn của anh ở Quảng Ninh và người con trai rất chu đáo của anh Đỗ Kha thực hiện. Các anh có mối giao lưu, giao tiếp với bạn bè vùng biên rất thân thiết nên đoàn chúng tôi, có hai nhà văn và tôi ở Hà Nội cùng đi, khi đến thăm các chốt vùng biên đã được đón tiếp nồng hậu. Chuyến đi chứa đầy kỷ niệm khó quên./.


© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 05.01.2013 theo bản gởi của tác giả từ HàNội.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com