THẦY XƯA


LÊ VĂN THIỆN

Hè vừa qua tôi theo ba tôi đến thị trấn Phước Lý thăm cụ Phan. Cụ Phan là thầy dạy ba tôi ngày trước. Nhà cụ ở Xóm Lò Rèn, kế cầu sông Cái, trên một con đường lớn nhưng khá buốn tẻ.

Trong ngôi nhà lộng lẫy, cổ lỗ của cụ Phan có nhiều thứ làm tôi ngạc nhiên. Trên cái sân rộng bày đầy kín cây kiểng. Trong nhà thì hai gian phòng thênh thang chứa đầy những giá, những kệ sách, sách chất chồng, như một thư viện.

Cụ Phan dáng người cao lớn, tráng kiện, râu tóc như mây trắng. Cụ đón tiếp chúng tôi niềm nở: “Mời vào, hai bạn, quí hóa quá”. Cụ và ba tôi ngồi trò chuyện ở bộ ghế bành giữa nhà. Tôi ngồi nơi cái bàn thấp cạnh cửa sổ với một dĩa quít và một chồng báo. Ở trong nhà nhưng cụ Phan đội mũ, chiếc mũ nồi cũ màu nâu nhạt. Ba tôi nói: “Con mê cái sân nhà thầy”.

Cụ chủ nhà cười. “Có hơn 50 loại cây trong đó. Đây là công việc lao động có tính chất bắt buộc của tôi. Tôi ép mình đứng vào khuôn khổ. Phải làm để giữ cho chân tay khỏe. Chân tay mạnh thì đầu óc sáng, bác sĩ bảo thế… Bao lâu rồi chúng ta mới gặp nhau đây, anh Phú ?”.

“Thưa thầy, hơn mười năm ạ”.

“Hơn mười năm! Lâu hơn thời gian cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi!. Nào, mời anh uống nước, rồi anh kể tôi nghe chuyện xóm làng, vợ con, làm ăn ra sao”.

Trong lúc ba tôi uống trà cụ Phan cho biết, lúc trước, khi mới nghỉ hưu, cụ sống với người con gái ở Phan Thiết, cách nay bốn năm chuyển về đây nương nhờ người trai út. Thật ra trồng cây cảnh đối với cụ, chỉ như một thú tiêu khiển, chẳng phải công việc kiếm tiền. Cuộc sống ở đây bình lặng, nhàn nhã nhưng buồn… Cụ nhắc đến một số thầy cô cũ của ba tôi. Thầy Bá, cô Anh hiện ở trong Nam, chẳng biết ra sao. Thầy Điểm, thầy Nhơn đã qua đời. Cô Tuất được con bảo lãnh đi Úc năm ngoái. Thầy Đào nay làm chủ một hãng buôn lớn ở Phan Rang. Thầy Trữ đã lòa, phải ngồi một chỗ. Nghỉ một lúc, cụ nói, nhỏ giọng:

“Mình còn sáng mắt nhưng chẳng hơn lòa bao nhiêu, cứ quanh quẩn ra vô trong cái nhà này. Học trò cũ của tôi, những người nay tôi còn gặp lại, đều tốt. Phải, không ai bê tha, chẳng ai xấu cả. Chắc họ nghĩ, nếu không làm được gì nổi bật thì cũng đừng hư hỏng… Năm 1998 có việc cần tôi phải đi Sài Gòn. Ở đó tình cờ tôi gặp anh Dương Thanh. Chắc Phú còn nhớ anh Thanh giỏi văn, hát hay? Lẽ ra tôi phải ở trong đó vài tuần, đi lại tốn kém vất vả, nhưng nhờ Thanh giúp nên chỉ mấy hôm là xong việc… Kể ra có nhiều người quen cũng có lợi!”.

Cụ cười rồi đứng dậy tới mở chiếc tủ gần chỗ tôi ngồi, lấy ra một gói giấy. Cái gói lớn bọc giấy bóng vàng.

“Đây là cà phê Ban Mê Thuột, loại ngon, của cô Trúc Quỳnh gởi tặng. Anh Phú nhớ Trúc Quỳnh không? Cô bé như con chim sẻ ấy mà! Quỳnh đang làm hiệu trưởng một trường gì đó ở Biên Hòa. Không chỉ cà phê, còn có một bịch trà to và bốn chai rượu nữa. Chắc Quỳnh tưởng tôi đang bán tạp hóa!

Cụ Phan cười xòa, đem gói cà phê tới đặt cạnh ba tôi.

“Tôi tặng lại anh. Dạo gần đây tôi chỉ uống trà. Cái quả này của tôi không còn vững lắm”. Cụ chỉ vào ngực trái của mình. Ba tôi nói: “Nay nếu gặp lại các bạn ấy chắc con cũng không nhận ra, ba mươi năm rồi”.

Cụ Phan gật gù: “Phải, đã lâu quá. Chúng tôi đều cụ kỵ, các anh cũng bắt đầu ngã xế”.

“Chỉ có ngôi trường là lâu già. Con thấy dường như nó vẫn thế, bất chấp tháng ngày”.

“Vậy à? Bốn năm nay tôi không thăm nó… Giờ mắt yếu, chân run, lười đi. Lắm khi trực nhớ là đã nhiều tháng mình không bước ra khỏi cổng nhà, giật mình”. Cụ Phan vỗ trán: “Vừa rồi tôi nói về cái lộc muộn của nghề dạy học, nhưng ngoài nó ra tôi còn nhận một món phẩm tước muộn nữa. Hồi trẻ tôi chẳng có chức vụ gì đáng kể, nhưng hiện giờ lại được đến hai: tổ trưởng lão ông của khóm, và hội phó của câu lạc bộ cây cảnh, oai như quan lớn!”.

Hai thầy trò cùng cười vui vẻ. Chợt có tiếng chuông reo trước thềm. Vài phút sau một cô bé bê vào một xấp báo và mấy lá thư. Chỉ chồng báo, cụ Phan nói: “Đây là một phần trong lịch sinh hoạt thường ngày của tôi. Chăm sóc cây lá, họp hành với các bạn già, đọc sách báo… Đấy, toàn cảnh đoạn đường gần đến đích của tay đua kỳ cựu!”. Cụ nghiêng đầu, nheo mắt nhìn ba tôi:

“Tôi nhớ anh là người khá văn, siêng đọc sách”. Cụ đứng lên tới bên giá sách. “Tôi sẽ tặng Phú cái này”.

Tìm một lúc, cụ rút ra hai cuốn sách dày, bìa đẹp. Trở lại bàn, cụ Phan đặt sách lên trên gói cà phê. “Tặng anh bộ Liêu Trai Chí Dị, để anh đọc lai rai, và nhớ tôi lâu lâu”.

Ba tôi nâng hai cuốn sách lên, cám ơn thầy rối rít.

“Điều đáng nói không phải là giá nó đắt hay rẻ, nhưng quý ở chỗ tôi giữ nó đã mấy mươi năm”.

Ba tôi kể cho thầy cũ nghe công việc làm ăn của mình, những chuyện vui vui lạ lạ ở quê tôi, chuyện học hành của anh em chúng tôi. Cụ Phan trầm ngâm: “Mừng cho anh, thế là quý, tốt lắm rồi. Có lẽ ta cũng không nên đòi hỏi được nhiều hơn nữa. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo trường hợp mà ta đối phó. Trên đời còn vô số người lận đận hơn ta. Cầu mong sao cho mọi người đều no đủ, và gặp toàn những điều tươi đẹp trong cuộc sống. Còn anh, riêng anh, thì xin nhớ thỉnh thoảng lại về đây chơi, thăm tôi, đừng để hơn mười năm mới tới một lần… Tôi không thể nhớ hết các anh chị, và dù nhớ thì tôi cũng không đi lại được. Đã ngoài bảy mươi, tôi nhận thấy rằng mình sống khá đủ, khá vuông tròn… Nếu như có một phép màu, có thể trẻ lại, bắt đầu bước vào đời một lần nữa thì tôi lại chọn nghề dạy học. Nghề này vừa sức tôi. Nó bình dị, trong sáng, có trước có sau, và vui”.

Chúng tôi ra về. Đi được một quãng xa, tôi nói: “Mình chỉ tặng mấy trái cam, ông cụ tặng lại đủ thứ, mình lời!. Cụ Phan vui tính, cởi mở quá, ba nhỉ”.

“Hầu hết các thầy cô của ba đều như thế”.

“Cụ nhặm lẹ, chu đáo, và hơi buồn cười”.

“Buồn cười à? Cũng có thể, tùy cách nhìn của mỗi người”.

Ngẫm nghĩ hồi lâu, ông tiếp: “Thời đó các cụ vừa là thầy vừa như những người anh cả, người chú, dạy dỗ tận tình, thương yêu học trò. Nay, lúc nào nhớ về các vị ba cũng thấy như nhớ chú bác, anh chị thân thuộc xa cách lâu năm. Cảm nghĩ ấy thường khiến bụng dạ ta nao nao, xao xuyến”. ./.





© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Khánh Hòa ngày 04.01.2013.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.