Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis



TỰ VŨ
phóng dịch

để kính tặng những người còn thực sự nhớ đến những chữ :
Đoàn Kết-Độc Lập-Hoà Bình- Thịnh Vượng-Hạnh Phúc-Tự Do cho dân tộc Việt Nam
và cũng để ước mơ một ngày , một nhà văn Việt Nam nào đó có đủ khả năng viết
lên được một tác phẩm văn chương lớn như Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết

TỰ VŨ
Troyes, ngày 04.02.2010
Quý vị đang nghe Adagio của Albinoni

LƯỢC TRUYỆN :

Nối tiếp nhau, từ đời cha cho tới đời con, người dân đảo Crète (Hy Lạp) truyền lại cho nhau nỗi căm hận quân xâm lược Thổ , những kẻ đã chiếm đóng , đàn áp các sắc dân không theo Hồi giáo tại khắp các quốc gia trong vùng Balkan kể từ ngày thành phố Constantinople (Istanbule hiện tại) bị người Thổ đánh chiếm : gần bốn thế kỷ thù hận, nguồn gốc của những cuộc kháng chiến và đàn áp, tàn sát không ngừng lặp đi lặp lại.
Năm 1821 đánh dấu bởi sự vùng dạy dành độc lập của các nước láng giềng. Tại Hy Lạp nói chung , tại Crète nói riêng, những người dân đảo Crète tự hỏi : Bao giờ mới tới lượt mình?
Mỗi mùa xuân, mùa của sự đổi mới, câu hỏi làm tâm trí mọi người Hy Lạp ở Crète chao đao hơn bao giờ hết và chỉ cần một sự kiện thật nhỏ nhặt cũng đủ là một nguyên cớ cho toàn đảo Crete phải bùng cháy. Tại các thị trấn và tại dinh thống đốc, người thống đốc Thổ và người lãnh đạo dân Thiên chúa giáo địa phương phải có trách nhiệm ngăn ngừa trận "hỏa hoạn" này.
Đó là lý do vì sao, không bao lâu trước mùa Phục Sinh năm 1889, Nouri Bey có bổn phận triệu tập Kapitan Mikhalis và bảo ông ta phải quở trách em ông, Manousakas, về việc đã dẫn một con lừa vào nhà thờ hồi giáo như cố tình ngạo báng. Và nhân dịp này, cũng muốn xoa dịu người khách được mời, Nouri Bey gọi người đẹp của ông ta , Emine Hanoun , đến hát mừng chào đón một cách danh dự người khách được mời : Chính đấy lại là tia lửa châm ngòi cho thùng thuốc nổ và tạo nên một trong những thời kỳ bạo lực dữ dội nhất trong cuộc chiến dành độc lập chống lại quân xâm lược Thổ do các nhân vật của tiểu thuyết sử thi này cầm đầu .

Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết - La Liberté ou La Mort - Freedom or Dead , là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp và đã được chuyển dịch sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.

Newvietart hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết Καπετάν Μιχάλης, lần đầu tiên, được chuyển dịch sang Việt ngữ của Tự Vũ .

KỲ THỨ 15

CHƯƠNG I


Kapitan Michelis nghiến răng, theo thói quen mỗi lần cơn giận dữ dâng lên trong tâm trí ông. Chiếc răng "nanh" phải nhô hẳn ra khỏi đôi môi , lấp lánh qua chòm râu mép rậm đen của ông .

Ở vùng Candie này người ta đã đặt cho ông một biệt danh "Kapitan Heo Rừng" , cái tên này thực qủa đúng với ông . Trong cơn giận, đôi mắt tròn xoe, đen thẫm, chiếc gáy ngắn chắc nịch ngang tàng, thân hình vạm vỡ và chiếc răng "nanh" bất trị, qủa ông giống hệt một con heo rừng lúc vừa trông thấy người, chồm lên để nhẩy xổ tới trước.

Ông vò nhàu lá thư đang cầm trên tay rồi nhét vào tấm giây lưng to bằng lụa. Lá thư này ông đã đọc rất lâu, đọc đi đọc lại từng chữ một để thử tìm cho ra một lý lẽ nào đó. " Năm nay nó cũng lại không về . Thêm một lần nữa, người mẹ của nó và đứa em gái khốn khổ của nó lại thêm một lần nữa trải qua những ngày lễ Phục sinh không có sự hiện diện của nó, bởi lẽ, nó viết trong thư như thế, nó còn đăng tiếp tục theo đuổi việc học hành của nó...! Nó theo đuổi việc học hành quái qủy gì, học bao lâu nữa ? Thay vì nó thú thực ra là nó xấu hổ khi phải quay về đảo Crète này vì rằng nó đã lấy một con vợ gốc Do Thái...! Thằng con trai dễ thương của anh Kostaros ơi, nó đã làm nhơ nhuốc dòng máu gia đình ta rồi!. A! nếu như anh còn sống chắc là anh sẽ phải chộp lấy chân nó rồi treo ngược lên rầm nhà, đầu chổng dưới đất, như một cái túi da đầy nước!".

Kapitan Michelis đứng dạy. Đó là một người đàn ông vô cùng lực lưỡng, đầu ông chạm tới trần cửa hàng. Trong sự hăm hở của ông ta, chiếc khăn quàng cổ có tua riềm giữ mái tóc rối bời bị bật ra. Ông ta chụp lấy, xoán là rồi buộc thật chắt quanh vầng trán to của ông ta rồi, chỉ một bước chân ông ta đã ra tới cửa rồi dừng lại như để hóng gió.

Charitot, người học việc, co ro ẩn mình sau một cuộn thừng chão thật to , đó là một người nông dân với thân hình nhỏ bé vẻ mặt cũng khá dữ tợn, da nâu như một trái mận khô với cặp mắt vừa e dè lại vừa tò mò. Anh ta nhìn thật nhanh chung quanh về mé sau những tấm màn, những tấm vải dầu, những hộp sơn và hắc ín, những sợi dây sích thật lớn, những chiếc neo và tất cả những vât dụng thuyền bè, nhưng anh giật mình sợ hãi khi thấy thân thể người chủa của mình đang chiếm ngự gần hết khoảng cửa chính gian hàng và đang nhìn về hướng hải cảng với cái nhìn giận dữ. Người chủ gian hàng là chú của anh ta nhưng anh vẫn thường có thói quen gọi là " ông chủ " và anh thường run rẩy mỗi khi đứng trước mặt ông ta. " Làm như là chiều nay ta chưa đủ bực bội hay sao mà cái thằng chó này lại yêu cầu ta tới nhà hắn . Nó muốn cái gì đây trong lúc ta đang phải lo nghĩ về thằng cháu. Mẹ nó bảo ta phải viết thư cho nó. Ta đã viết ... Cầu trời cho nó bị mắc dịch mắc chứng ...". Ông nhìn về mé tả, những chiếc tầu của người Thổ, những chiếc thuyền đò, biển ... Phía xa xa, người ta nghe được tiếng rì rầm vẳng lại từ bến cảng. Những người thương buôn, thủy thủ, lái đò, phu bốc rỡ hàng... đi tới đi lui giữa những thùng dầu, rượu, những đống quả minh quyết, ngáp thở, nguyền rủa, khuân lên, dỡ xuống những xe tải, vội vã để cho xong việc trước khi mặt trời lặn và cổng thành phố đóng lại. Biển dâng cao, hải cảng ngập ngụa mùi quả thanh yên ủng thối, quả minh quyết, rượu và dầu lẫn lộn . Đứng trên bờ đê chắn sóng, hai hay ba người Malte ăn mặc sặc sỡ, với giọng như nhạo báng, dơ dấu cho một người đánh lưới rê bụng sệ vác nặng cá vừa trở về .

Mặt trời đang xuống và những ngày cuối tháng ba cũng sắp hết. Gió bắc thổi, buốt; tất cả Candie đã lạnh, những người chủ các cửa hàng xoa tay này với tay khác, dập dậm chân, uống nước thuốc sắc hoa xôn hay rum để sưởi ấm người. Ở mé xa trên đỉnh ngọn Stroumboula thấp thoáng những đốm trắng của tuyết. Xa hơn nữa, ngọn Ida tuyết đã đóng cứng sáng chói trong những mé đá trũng kín gió hệt như một sợi băng quấn quanh sườn núi . Nhưng bầu trời lấp lánh ở mé cao, trong trẻo và rực rỡ như thép chiếu.

Kapitan Michelis dõi mắt trên ngôi tháp lớn , với những bức tường dầy, trang điểm những con sư tử có cánh kiểu Venise, đứng dựng về mé phải, trên đường từ hải cảng về. Candie đưọc vây quanh bằng những bờ thành vững chãi, điểm những tháp xây từ thời xa xưa bởi những raias Thiên chúa giáo - những người không có đạo Hồi giáo dưới thời kỳ đế quốc Thổ - mà nơi đây những người Thổ, Hy Lạp ... đã tẩm thấm máu của họ. Những con sư tử bằng đá trong nanh vuốt cầm giữ thánh kinh và những chiếc rìu của quân Thổ mà đó đây còn lưu lại vài dấu vết trên đá ở các tháp phòng ngự gợi lại một ngày mùa thu đẫm máu trong đó quân Thổ, sau những năm dài vây hãm rất ít hy vọng, đã chiếm ngự được Candie. Bây giờ thì những đám cỏ dại, những cây sung dại, những cây tầm ma ngứa, những cây bạch hoa, tràn lan môc giữa những tảng đá lòi chân .

Kapitan Michelis hạ tầm mắt nhìn xuống chân tháp phòng ngự lớn. Những mạch máu căng cứng trên thái dương ông và ông thở dài . Dưới nền của chiếc tháp này, phía đàng sau bức tường đá nơi mà những con sóng biển tan ra mỗi lần trào vỗ , là một chiếc ngục tối nơi từng thế hệ tiếp nối từng thế hệ những chiến sĩ Thiên chúa giáo đã bỏ mình trong gông cùm. "Dù cho có cứng chắc bao nhiêu chăng nữa thì thân hình người Crète cũng không thể mang tải được linh hồn của Crète, không, không tài nào ... Ta oán trách Thượng đế đã không tạo thân thể người Crète chúng ta là sắt thép để cho phép chúng ta kháng cự lại, một trăm, hai trăm năm, hay hơn nữa; cho tới ngày giải phóng được hòn đảo này của chúng ta. ".

Kapitan Michelis nghĩ tới người cháu xa quê hương của ông, đứa cháu đang tự Âu châu hoá và cơn giận dữ thêm một lần nữa lại chiếm ngự ông. :

" Nó đang theo đuổi việc học hành, như nó đã nói. Ma qủy nào mà nó còn có thể theo đuổi học hành được ! Nó cũng thế, rồi nó cũng sẽ giống như chú thầy giáo Pet-Le- Luop của nó! Một con tốt, một nhà bác học, một con mọt sách! ". Kapitan Michelis mai mỉa .

Nhổ toẹt xuống đất, nước miếng của ông xém chút nữa là trúng ngay cửa gian hàng nhỏ của Dimitros, người trồng và bán cây cỏ làm thuốc, nằm đối diện ngay trước mặt gian hàng của ông .

Ông nghĩ tiếp rồi bực bội tự nói với chính mình : " Như vậy là mày đã bị làm giảm hẳn giá trị của dòng giống " Michel Thịnh Nộ " của mày , người đã dám ăn thịt bọn Thổ, mày, mày là đứa chưa hề bao giờ qùy lụy trước kẻ bức chế !".

Người ông nội của ông, " Michel Thịnh Nộ ", như sống dạy trong ông, tất cả thật rõ rệt, thật sống động. Lúc nào mà ông nội của ông còn có con trai, có cháu trai, thì bậc tiền nhân anh hùng lừng lãy này chưa phải chết thực sự.

Thỉnh thoảng những bô lão ở Candie vẫn nhắc nhở, ông nội của ông thường rảo bước dọc trên bờ cát của đảo với đôi bàn chân thật to và cặp mắt chăm chú hướng ra khơi về mé chân trời canh chừng đoàn tầu của bọn " mốt-cô-vích " như ông vẫn hay nói . Chiếc mũi to hơi méo một bên, ông vừa đi tới đi lui dọc theo những bờ tường đá dựa vào chiếc tháp canh khốn kiếp có hầm giam những người tù Thiên chúa giáo vừa hát để trêu chọc bọn Thổ " bài hát Mát-Cơ-Va ". Cũng theo lời người ta thuật lại thì ông ấy để tóc dài và một chòm râu quai hàm thậr rậm, đi đôi bốt cao mà ông buộc giây giầy vào thắt lưng quần không hề bao giờ rời chân khỏi đôi bốt. Ông nợi cũng mặc một chiếc áo màu đen tuyền, bởi lẽ đảo Crète phải để tang vì còn đang nằm trong tình trạng bị nô lệ , và những ngày chủ nhật, sau buổi thánh lễ, vai quàng với một cây cung và một túi tên cũ kỹ của ông nội ông để lại thản nhiên dạo bộ. " Đó, đó mới chính là những người đàn ông đúng nghĩa, Kapitan Michelis vừa làu bàu trong miệng vừa nhíu đôi chân mày lại. Đó là những người đàn ông, đàn ông thực sự, không phải bọn đàn bà như chúng ta bây giờ! Những người phụ nữ của họ cũng không thể nào thèm khát cái gì được nữa , rất có thể, những người đàn bà này cũng ghê gớm lắm chứ không phải chơi. Than ôi, loài người bây giờ đang bị thoái hoá, bị tuột dốc !".

Những kỷ niệm thêm một lần nữa tràn ngập trong tâm trí Kapitan Michelis, và, sau người ông nội, hiện lại hình ảnh bà nội của ông, gầy guộc, hoang dã, những móng tay hung hăng, đen thẫm vì cáu ghét. Khi đã qúa già, bà bỏ lại sau lưng chiếc sân nhà đầy con, cháu , vào ẩn mình trong một chiếc hang sâu trên ngôi làng dưới chân ngọn nuí Ida trong suốt hai mươi năm trời ròng rã. Mỗi buổi sáng một trong những đúa cháu gái đã có chồng cư ngụ trong vùng mang lên cho bà một chiếc bánh mì tròn làm bằng lúa mạch, một chút ô - li và một bầu rượu - nước, thì đã có qúa thừa thãi ở trong hang đá - vào ngày lễ Phục sinh, hai qủa trứng đỏ để bà đển tạ Chúa. Vào mỗi buổi sáng, với mái tóc và những móng ta, móng chân quá dài, áo quần tả tơi rách nát, xanh sao, hệt như một bóng ma, một bà lão xuất hiện ở ngưỡng cửa hang, co rúm người, đôi mắt nhìn sững mặt trời đang lên, dơ hai cánh tay gày đét vãy vãy làm như bà nguyền rủa hay ca ngợi mặt trời. Rồi bà lại biến dạng trở lại trong lòng hang đá. Hai mươi năm tự hãm mình trong hang. Rồi một buổi sáng hôm đó, người ta không thấy bà ra khỏi hang như thường nhật. Thật là rõ ràng. Người ta đi tìm linh mục của làng, với mấy bó đuốc trên tay, mọi người tiến vào hang, khám phá ra là bà co quắp thu mình lại nằm , lạnh ngắt, trong một vùng trũng rộng chỉ bằng bề rộng một chiếc quan tài, chiếc thánh giá còn nằm trong tay và đầu bà thu lại trên hai chiếc đầu gối gày gò.

Kapitan Michlis ngẩng đầu lên. Chiếc hầm giam những người tù và những người đã khuất mờ dần để một lần nữa quay trở lại biến dạng vào những vùng sâu thẳm trong lồng ngực ông ta.

Trong gian hàng trước mặt, Dimitros, người chủ , ngủ gà ngủ gật, đôi mắt húp lại, khoanh chân trên một chiếc trường kỷ nhỏ. Tay cầm chiếc quạt đuổi ruồi làm bằng lông bờm ngựa, thỉnh thoảng uể oải quạt quạt đuổi mấy con ruồi đậu trên những gói đinh hương, quả nhục đậu khấu, nhựa nhai , quế ... và những chiếc chai nhỏ đưụng dầu cây thắng, cây mia bầy quanh ông ta. Lúc nào ông ta cũng có màu da vàng mật và thiếu một sự hào hứng nào đó. hết lượt này tới lượt khác, ông ta ngáp, gãi, nhắm mắt lại ngủ từng chặp. Vì rằng chưa thực sự ngủ nên chập chờn thấy trước mắt ông ta ở mé bên kia, hình như Kapitan Michelis đang chăm chú nhìn mình. Dimitros quơ quơ cây quạt đuổi ruồi ra dấu chào người chủ cửa hàng đối diện nhưng người chủ cửa hàng to lớn này lại quay đầu đi chỗ khác nên Dimitros lại ngáp ngủ một lần nữa.

Đột nhiên, Kapitan Michelis thò tay lần chiếc giây lưng quấn rất nhiều lần quanh người ông ta, lôi lá thư nhàu nát của người cháu ra rồi xé làm trăm mảnh vụn.

"Làm như là một tên thầy giáo chưa đủ để xấu hổ gia đình mình, bây giờ lại nẩy ra thêm một tên khác nữa! Mà nó là con trai của ai chứ ? Của anh, anh Kostaros ạ, anh, chính anh, người đã dám châm lửa những thùng thuốc nổ tung hết cả chủng viện Arcadi một lượt chung với tất cả các vị thánh, Chúa Cứu Thế, các thầy tu, các người Thiên Chúa giáo, bọn lính Thổ!".

Ventouros, người chơi đàn lia trứ danh, bọc mình trong chiếc áo choàng, từ hướng hải cảng vội vã đi xuống. Anh ta đã đặt mua một thùng rượu Kissamos cho quán rượu của mình và anh tới để lấy hàng nhưng nhìn thấy Kapitan Michelis từ xa với chiếc vòng quấn đầu của ông ta trể xuống tới tận đôi chân mày nên anh ta đã hiểu và quay chân .

" Con thú rừng hung tợn này lại vừa uống phải mật đắng nữa rồi ", Ventouros thì thầm rồi đổi hướng đi.

Mặt trời sau cùng cũng nằm bện cạnh bờ đá của dãy núi Stroumboula, đường phố xẫm tối , màu trắng của những chiếc tháp ở giáo đường Hồi giáo chuyển màu đỏ ửng và trên bến cảng, hàng hoá, những người thợ thủ công, những thợ thuyến, những người lái đò, ngay cả những con chó, từ lúc hừng sáng tới giờ chỉ ngáp, sủa cũng đã thấy thấm mệt chán nản. Cả thế giới như bình thản trở lại. Kapitan Michelis rút chiếc hộp đựng thuốc từ thắt lưng ra, vấn một điếu châm lửa hút, cơn giận dữ của ông ta từ từ hạ xuống. Ông đưa tay ve vuốt hàm râu dậm đen của mình rồi cuối cùng cũng mỉm cười nhe chiếc răng nanh ra .

" Con trai của mình, thằng Thrassaki nó ở đây, mình chẳng có điều gì e ngại , Kapitan Michelis thi thầm nói với chính ông ta. Chính nó thằng con của mình , nó sẽ là người cứu vớt danh dự cho dòng họ . Nó sẽ làm lu mờ hẳn chú thầy giáo vừa già vừa lố bịch của nó và ngay cả thằng cháu trai đã làm nhơ nhuốc dòng máu họ hàng ta khi lấy đứa con gái Do Thái làm vợ. Thằng con trai ta sẽ nối gương tổ tiên và làm rực rỡ dòng giõi nhà ta " .

Kapitan Michelis tự nói với mình như vậy và đột nhiên cuộc sống hiện ra với ông thật là đẹp và Thượng đế qủa thực công bình. Ông chẳng còn có thể trách cứ gì Thượng đế được nữa.

Một người Thổ, già , nhỏ thó chân đi đôi guốc mộc, khuôn mặt nhẵn nhụi, sạch sẽ nhưng quần áo tả tơi, e dè tiến lại gần rồi ngước đôi mắt nhìn Kapitan Michelis. Kapitan Michelis cũng cúi xuống, nhận ngay ra được người đang nhìn mình, lúc lắc đầu rồi sẵng giọng lên tiếng hỏi :

- Mày muốn cái gì hở Ali Aga?.

Đó là người láng giềng của ông . Một con sên, chẳng phải là đàn ông mà cũng chẳng phải là đàn bà, ông thấy kinh tởm kẻ này. Suốt cà ngày, ngày này sang ngày khác hắn chỉ biết chuyện trò gẫu với những người đàn bà láng giềng người Hy Lạp ở chung quanh và đan vớ.

- Thưa ông chủ, tôi tới đây theo lời của ông Nouri Bey. Ông ấy nhờ tôi chuyền tới ông những lời chào nhiệt tình nhất của ông ấy và khẩn khoản yêu cầu mời ông dời chân tới nhà ông ấy ngay tối nay.

- Được, tốt , tốt. Ông ta cũng đã bảo thằng mọi đen của ông ấy tới đây mời ta rồi. Cút đi cho khuất mắt ta !.

- Rất là cần thiết, người Thổ già nhấn mạnh.

- Ta đã bảo cút đi mà !.

Kapitan Michelis không còn chịu nổi cái giọng nói nửa đực nửa cái của tên Thổ già này nữa. Ali Aga nín bặt và bắt đầu run, dựa người theo mé tường để đi.

" Ta chẳng có cái gì cần làm ở nhà cái tên Thổ Nouri Bey này, Kapitan Michelis tự nhủ. Hắn muốn gì mà mời ta tới nhà hắn ? Hắn, tại sao hắn lại không tới gặp ta. Ta chẳng cần phải đi đâu hết !".

- Charitos, ông nói lớn, về nhà chuẩn bị ngựa cho ta!.

Bỗng nhiên ông có ý sẽ làm một vòng trên lưng ngựa để thư giãn. Ông nội, bà nội, thằng cháu, Noury Bey, ông sẽ chẳng còn nghĩ ngợi gì tới họ nữa sau chuyến đi dạo .

Nhưng đúng lúc mà ông thò tay vào tuí định lấy chìa khóa để khoá cửa gian hàng của ông thì ông nghe , từ một góc đường, tiếng ngựa hí vui mừng và tươi mát. Kapitan Michelis nhận ngay ra tiếng ngựa hí này và quay người lại. Rám nắng, bóng lưỡng, đầy tư cách qúy tộc , một con hồng mã tỏa khói đang tiến lại. Một đứa bé người Thổ, chân trần, cẩn thận cầm sợi giây cương dẫn con ngựa không thắng yên cương đi tản bộ hóng mát suốt từ đầu này qua đầu kia thành phố Candie. Chắc chắn là con ngựa này đã từ xa phi về đây vì từ cửa miệng nó, trên thân thể nó và bên nách của nó còn tỏa khói. Tuy thế sự hăng say của nó vẫn chưa dịu hẳn được xuống. Con ngựa vừa thở vừa lúc chiếc bờm đẫm mồ hôi, cất tiếng hí, thỉnh thoảng đập đập những cái chân thon thả trên nền đường.

- Đó, con ngựa giống của Nouri Bey. Cẩn thận, nhìn kìa, mấy cậu ơi, tiếng nói lớn vọng ra từ một tiệm hớt tóc của Paraskévas, người ở vùng Syriote. Năm hay sáu người khách ngồi chưa cạo râu tóc còn đầy sà vông đồng loạt vội vàng chen nhau ra cửa ngó đầu há hốc mồm ngất ngây nhìn .

- Tôi thề với các ông, một người lực lưỡng trong bọn với hàm râu quấn lại hệt như râu ria của một con dê đực lên tiếng, tôi thề với các ông, nếu người ta hỏi tôi rằng tôi thích con ngựa của Nouri Bey hay là nội cung của ông ta? Nếu người ta ra lệnh cho tôi phải chọn lựa thì tôi sẽ chọn con ngựa !.

- Đúng là cái đầu khờ khạo, Yanaros người thợ nhuộm , người ta được đặt cho một biệt danh là Mistigri vì anh ta có một bộ râu mép hệt như râu mép mèo, đứng sững và có vẻ hung hăng mới vừa được cạo xong, cắt lời người đang nói : Eminé Hanoum, đó mới là cái phải chọn, điểm này ai cũng biết, cái con khốn kiếp đó, mới chỉ hai mươi tuổi và ghê gớm hết chỗ nói... Chọn nó chớ! Được nó thì ông sẽ tha hồ mà ...đau thắt lưng ...

- Tôi thích con ngựa hơn, tôi đã nói như thế mà, người có hàm râu dê vẫn nhất quyết. Tôi, Tôi chẳng phải bẩn người khi ngủ với một con người Thổ.

- Không ngựa mà cũng chẳng nội cung nội kiếc gì mấy ông ơi, tiếng nói thanh thanh của Paraskévas chen vào, chính ông ta cũng bỏ dở việc làm chạy ra ngoái cổ nhìn, tay vẫn còn cầm chiếc kéo. Chẳng ngựa mà cũng chẳng nội cung, tất cả đều là những điều phiền nhiễu!.

Người có râu dê quay đầu lại :

- Ê, ông nhỏ ơi, cuộc đời này đã là một sự phiền nhiễu rồi mà! Muốn được yên bình thì chỉ có cái chết mà thôi ông ơi! Tôi khuyên ông đừng giở giọng phỉnh phờ mà khuyên bảo những người Crète chúng tôi vì rằng nếu chúng ta chỉ cần suy luận câu anh noí một cách khác là anh có thể bị bọn ta chôn sống ông đó...

Người thợ hớt tóc Syriote rùng mình. Đó là một người ngây ngô, nhã nhặn. Nhiều khi ông ta tự hỏi vì lẽ gì mà ông lại phải bị mắc cạn ở cái đảo Crète này để cạo râu cạo tóc cho cái lũ hoang dã như thế này . Mỗi lần một tên người miền núi ở đảo xuất hiện sừng sững xuât hiện trên ngưỡng cửa tiệm ông là ông giật thót mình, rồi nhìn chòng chọc vào mặt người mới đến, khiếp hãi. Phải bắt đầu bằng cái gì? Cái tên người núi này không hề cạo râu cạo tóc, tắm rửa từ cả mấy tháng nay và hắn ta cũng không hề biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua kể từ lần cuối cùng mà hắn cạo râu cạo tóc. Người thợ hớt tóc vẩy vẩy chiếc khăn nhỏ, chộp kéo và khởi sự quay quanh chiếc ghế trên đó tên khách người Crète ngồi chiêm ngưỡng mặt hắn ở trong gương. Người khách dị kỳ này làm cho người thợ hớt tóc tưởng tượng tới những con cừu đực dẫn đầu đàn cừu hay thánh Mamas, vị thánh bản mệnh của những mục đồng trong một bức hình mà ông được nhìn thấy một lần, vị thánh cũng đầy mình với hàng trăm kí lô lông lá tóc tai râu ria mà cả chục người thợ hớt tóc cũng không thu xếp cho xuể.

Đôi kéo của Paraskévas, người Syriote đột nhiên như nhỏ lại hẳn. Phải khởi sự cắt ở đâu trong cái đám lông heo này, trên cái hệ thống lông lá đáng khiếp này?. Người thợ khéo tay thở dài , cuối cùng sau khi đã cầu xin Thượng đế cứu giúp,cũng phải quyết định bắt đầu bằng việc xoa sà vông.

- Chôn sống? Vừa nhắc lại vừa lùi chân, hơi thở ngắn. Nhưng vì lẽ gì mà ông đòi chôn sống tôi ?.

- Vì lẽ, bọn tôi, với những kẻ nói như ông , ông có biết như người ta thường gọi là gì không ?.

- Nói đi, xin ông vui lòng nói đi!.

- Những thây ma!.

Người thợ hớt tóc thảm hại nuốt nước miếng, làm như không nghe gì, lui bước .

Stéphanis, người cựu thuyền trưởng chiếc tầu Gaillarde mà quân Thổ đã đánh chìm trong cuộc vùng dạy năm 1878 lúc đó cũng vừa khập khễnh bước tới. Một trái đạn đại bác của chiến thuyền Thổ khi đó đang tấn công tầu ông đã làm vỡ nát sương đầu gối ở chân ông kể từ đó ông cứ lững thững rong chơi khập khễnh trên tay một cây gạy trong khu bến cảng. Ông ta có hai cây gạy. Một chiếc thẳng như một ngọn nến ở nhà thờ mà ông chỉ xử dụng khi nào ở đảo Crète mọi sự đều yên ổn. Con chiếc gạy thứ hai có nhiều mấu mắt và cong quẹo thì ông đem ra sài khi tình hình ở Crète rối rắm , nặc mùi thuốc súng. Bữa hôm đó, ông chống chiếc gạy kỳ dị . Khi nghe những lời bàn ra tán vào, ông dừng chân lại :

- Các ông ơi, đừng cãi cõ làm gì, mọi việc rồi sẽ đâu vào đó cả mà.

- Xin hãy nhìn một chút Kapitan Stéphanis ơi, ông thích chọn cái gì hơn được tôi hả ?

- Leo lên mình con ngựa của tên Noury, đồ ngu, chổng mông trên con Eminé Hanoum , thì hệt như thánh Georges cưỡi ngựa!.

- Tôi cũng thế! Tôi cũng thế ! Tôi cũng như thế, Kapitan Stéphanis ơi! Đám khách oà lên vừa nói vừa cười. Xin Thượng đế nghe được lời chúng tôi nói!.

Bây giờ thì Kapitan Michelis nhìn sững vào con ngựa đang đia ngang mặt ông, đỏm dáng, năng động, chiếc cổ mảnh dẻ và mềm mại dựng lên như một con thiên nga. Con vật đẹp đẽ này nhìn thấy người đàn ông, mắt nó như sáng hẳn lên làm như nó nhận được ra người mà nó biết, sau một chút do dự, nó cất tiếng hí gọi.

Kapitan Michelis bước một bước về phía con ngựa. Ông không còn chế ngự được mình nữa nên tiến lại gần hơn. Ông đang muốn được vuốt ve con vật để cảm nhận được sự ấm áp của cơ thể nó và chạm tay được vào đám bọt mép ở miệng nó. Đứa bé dẫn ngựa đã hiểu và chờ đợi. Bàn tay của Kapitan Michelis nặng nề đặt trên chiếc ngực rộng của con ngựa được trang điểm bằng một chiếc vòng vải chéo trên đó một chiếc lưỡi liềm bằng ngà của Thổ đang đẫm mồ hôi . Tay ông vuốt ve chiếc cổ, hai lỗ mũi, cái trán rồi đưa tay vào chiếc bờm ẩm ướt, chưa thoả mãn, bàn tay lần dài trên lưng, trên mông, dưới bụng còn toả khói của con ngựa.

Con vật kiêu hãnh, duyên dáng cúi cổ xuống , thoả mãn với sự khéo léo vuốt ve. Nó ngẩng đầu với đôi mắt đầy lông tơ nhìn người đàn ông, dụi mũi vào đầu ông ta rồi cất lên tiếng hí nước bọt văng tung toé trên tóc người đang vuốt ve nó. Bất thần như để đùa giỡn, con vật ngậm lấy chiếc vòng quấn đầu của Kapitan Michelis rồi giơ lên cao từ chối không trả lại . Với đôi mắt tinh nghịch nhìn người đàn ông với hàm râu đen thẫm đang đứng trước nó và người cảm thấy như trái tim ông như chảy tan ra . Kapitan Michelis chưa từng bao giờ nhìn một người bằng một niềm trìu mến như vậy. Ông bắt đầu nói nhẹ nhàng với con ngựa. Con vật cúi đầu, lắng nghe rồi cọ sát, ve vuốt ngực người đàn ông. Một cử chỉ rất nhanh, Kapitan Michelis tiến nhanh bàn tay, chộp lấy chiếc vành chụp đầu, dù rằng lúc này chiếc vành đẩm thẫm nước bọt ngựa ông chụp nhanh lên đầu mình rồi quay lại phía đứa trẻ giữa ngựa ra dấu cho thằng bé là cuộc chơi đã chấm dứt nó có thể dẫn con ngựa đi.

" Ta sẽ tới, Kapitan Michelis vừa tự nói với mình vừa dõi mắt nhìn theo con ngựa bấy giờ cũng đã tới đường dẫn vào hải cảng. Ta sẽ tới!".

Thình lình ông quyết định quay trở lại đóng cửa cửa hàng rồi đi tới nhà Nouri Bey.

Nhưng Kapitan Stéphanis , người đã chứng kiến cảnh Kapitan Michelis ve vuốt con vật từ đầu tới cuối, đứng tỳ người trên chiếc gạy lên tiếng chào.

Kapitan Stéphanis không chút nào e ngại gì nhân vật khó chơi này, ông, ông cũng chẳng phải là một con sói biển lừng danh ở Crète hay sao chớ ? Cứ mỗi một cuộc vùng dạy đòi độc lập vào những năm như 1854,1866,1870, biết bao nhiêu lần chính ông đã phá vỡ vòng vây của đám tầu chiến Thổ để đổ lương thực súng ống ở những bãi biến bí mật trợ cứu lực lượng Thiên chúa giáo! Lúc mà bọn Thổ tấn công và làm chìm tầu của ông dù cho máu đã đổ vì chiếc sương đầu gối bị vỡ vụn trong sóng bão ông vẫn bơi tới tận vũng biển Sainte-Pélagie, miệng ngậm mấy lá thư của Ủy ban Kháng chiến ở Athènes gởi cho vị Kapitan Koraks lừng danh, chỉ huy vùng Messara. Nói đùng ra thì kể từ ngày đó, cuộc sống của ông đã sờn mòn , đã sa sút. Áo quần ông cũng đã sờn và ông đã lê bước, với đôi bốt của một vị chỉ huy đã ngàn lần phải khâu vá lại. Ông lui tới thường trực không bao giờ biết chán ở bến cảng, ngắm nghía chiêm ngưỡng những chiếc tầu của những người khác dù cho tim ông có phải se thắt lại . Ông thích được hít ngưỉ mùi hắc ín, nghe tiếng kêu gọi nhau, tiếng chào mừng, tiếng neo tầu khi chạm trên đá khi tầu cặp bến hay nhổ neo. Thân thể ông đã héo khô, túi ông cũng trống rỗng, chiếc quần ông mặc đã sờn và thủng lỗ nhưng tâm thần ông vẫn đứng vững trong lồng ngực ông để nhìn ra đại dương ở mé chân trời hệt như một chiếc mũi tầu.

Dựa trên chiếc gạy, mạnh dạn đừng trước mặt Kapitan Michelis. Ông cất tiếng chất vấn :

- Này Kapitan Michelis, anh đã nghe cuộc bàn thảo trước tiẹm hớt tóc rồi chứ ? Nếu mà anh phải chọn lựa giữa con ngựa và vợ của tên Nouri thì anh lựa món nào ?.

- Tôi không thích những chuyện tục tiễu, Kapitan Michelis trả lời, không quay đầu lại, rồi đi thẳng về cửa hàng của mình.

Nhưng con sói biển không muốn nhà mồi. Gỉa bộ như không nghe câu của Kapitan Michelis, tiếp tục :

- Người ta đồn rằng thằng Noury đã dẫn con nhỏ này từ Contantinople tới đây. Hình như con nhỏ đó gốc người Caucase, đẹp , hoang dã, giống ăn thịt đàn ông. Cùng với người vú nuôi da đen của nó , mấy người đàn bà láng giềng nhà tôi, ba chị em "Trois Grâces", biết tất cả việc gì xảy ra về việc ghe tương của tên Nouri. Mấy người đàn bà này đã kể lại cho tất cả mọi người chung quanh biết.

- Kapitan Stéphanis, Kapitan Michelis bực bội ngắt lời đáp lại ngay, tôi đã nói với ông là tôi không thích những chuyện tục tiễu mà!.

Người thủy thủ già bướng bỉnh : Không, không đời nào mà ông cho phép kẻ khác được ngắt lời ông khi ông nói. Cả một đổi chiến thuyền hải quân Thổ cũng chẳng làm ông sợ thì kẻ đối diển với ông này lẽ nào lại làm ông chùn bước. Hắn phải nghe, dù muốn hay không .

- Nouri Bey là người anh em kết nghịa của anh mà, Kapitan Michelis, đứng quên điều này chớ !. Kapitan Stéphanis lên tiếng. Điều tự nhiên là anh phải biết những chuyện xảy ra ở nhà hắn ta. Hình như Bey, con thú hoang dã này, qùy dưới chân ngoan ngoãn, chiêm ngưỡng con nhỏ đó dòng dã hàng gìờ. Trong khi đó thì con nhỏ tinh nghịch dán điếu thuốc hút lên cổ thằng Bey như một trò tiêu khiển. Người ta cũng bảo là mỗi khi con nhỏ này nhớ đến quê hương xứ sở của nó - những chiếc lều, mùi phân ngựa , mùi sưã, những iếng hí của bầy ngựa - tất cả làm cho ả bực bội, đập phá thẳng tay những chiếc tách gốm , quăng đổ tứ tung những bình nước hoa, đập người vú nuôi da đen...

Kapitan Michelis cuối cùng cũng lấy được chiếc chìa khoá từ trong túi ra, gầm gừ như một con chó canh, một cử chỉ bằng tay gạt con sói biển qua một bên . Ngay cả con sói biển này cũng biết là phải cẩn thận khi tranh cãi trò chuyện với tên hoang rợ này nhưng ông vẫn phải thu hết can đảm tiếp tục thật nhanh để chấm dứt điều ông muốn nói :

- Hình như ả ta ghen tỵ với con ngựa của thằng Nouri. Tối hôm nọ, thằng Bey muốn ôm ả trong vòng tay hắn nhưng ả ta chống cự lại. "Trước hết anh phải thực hiện cho tôi vui một việc. " Thằng Bey trả lời thật nhanh " Bất cứ việc gì miễn sao để cho em vui là được, tất cả là của em mà !". " Anh mang con ngựa của anh ra giữa sân, anh phải thắp đèn đuốc cho sáng để em có thể trông thấy rõ được, rồi anh cắt cổ con ngựa cho em xem.!".

Thằng Bey thở dài, gục đầu xuống rồi đi vào phòng khoá hai lần cửa. Suốt đêm người ta nghe tiếng bước chân của hắn đi tới đi lui cùng với tiếng rên rỉ thảm hại. Ta kể lại cho anh để anh biết việc gì đã xảy ra ở nhà thằng Bey. Hình như là tối nay hắn mời anh lại nhà hắn phải không ? Đừng chối cãi gì nữa vì tên Ali Aga đã nói lại với ta việc này.

Dứt lời, Kapitan Stéphanis xoa xoa hai tay, nhẹ người hẳn ra vì đã nói hết được những gì ông ta muốn nói mà không phải ngưng nửa chừng vì e sợ.

- Ta chỉ kể t lại với anh những gì ta được biết , Kapitan Michelis à. Đúng hay không đúng ...

Kapitan Michelis đóng thật mạnh cánh cửa gian hàng. Gài chốt lại, khoá cửa , nhét chìa khoá vào thắt lưng rồi quay lại nhìn người thuyền trưởng chiếc tầu đã bị chìm bằng một giọng đầy vẻ miệt thị :

- Các ông, mấy người thủy thủ, các ông không bao giờ biết tôn trọng mấy người đàn bà của những người khác!.

Dứt lời Kapitan Michelis lui bước .

- Còn các ông, mấy người chỉ huy ở trên bộ , Kapitan Stéphanis cười khảy đáp lại ngay, làm thế nào các ông hiểu được? Các ông nhìn xa chưa hơn cái đỉnh mũi của các ông!. Nói dứt câu, con sói biển khập khễnh chống gạy đi thật nhanh vì bất thần một cơn hãi sợ ở đâu kéo tới với ông .

Kapitan Michelis kéo chiếc vành đầu xuống . Đôi mắt của ông bị che khuất bởi những rèm tua. Ông ta không muốn nhìn bất kỳ một ai mà cũng chẳng muốn ai trông thấy ông ta. Với một vẻ nghiêm trọng, lo lắng, ông đi về hướng khu vực những người Thổ cư trú .

Sau cùng thì mặt trời cũng biến mất. Những hồi kèn nổi lên báo hiệu đã tới lúc bọn lính gác Thổ đem chìa khóa ra để khoá chặt bốn cái cửa ra vào thành phố. Không một ai, cho tới rạng sáng ngày hôm sau, có thể vào được nữa. Người Thổ và người Thiên chúa giáo, tất cả đều cùng bị nhốt chung lại suốt đêm.




_______________________________________________

La Sérénité - Troyes 01.09.2010 - 10 giờ.20.

* Mời Đọc: Các phần sau trong trang : http://newvietart.com/TUVU_phap.html

Toàn bộ tập truyện Tự Do hay Chết dầy khoảng hơn 500 trang, đang được hoàn chỉnh và sẽ xuất bản.



© Dịch giả giữ bản quyền.
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 28.12.2012.
. Tất cả các bản sao chép lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com
là những bản xử dụng thiếu văn hóa, bất chính và bất hợp pháp.