THĂM THẲM MỘT ĐỜI



Kỳ Thứ Nhất











LỜI PHI LỘ

Tôi viết tác phẩm này để tri ân trời đất, quê hương và những con người đáng kính, đáng quý đáng yêu đã có công lao tạo dựng, vun đắp nên nhân cách và sự nghiệp mà tôi góp mặt với thế giới này.
KIỀU VĂN

K hác với loại tiểu thuyết hư cấu, THĂM THẲM MỘT ĐỜI là cuốn hồi kí chuyển đến bạn đọc “những sự thật toàn vẹn không thể đốt cháy” thể hiện trên các bình diện sau đây:

Thứ nhất, tác giả đã lặn xuống bề sâu của cuộc đời này và của bản thân, đặc biệt miêu tả tính cách và thế giới bên trong của một mẫu “nhân vật của thời đại” tuy hăng hái tham dự vào cuộc đời nhưng cũng rất coi trọng tự do cá nhân, không chấp nhận để mình chìm mất tăm trong cuộc đời ấy. Y luôn nuôi dưỡng những ý tưởng và phong cách độc đáo của mình, luôn khao khát hướng tới đỉnh cao của những cái đẹp thánh thiện, kinh điển. Ở tầm cao nhất của khát vọng, y mơ ước tới một mô hình xã hội hoàn thiện và hình tượng con người lí tưởng của tương lai.

Trên thực tế, nhân vật trung tâm của cuốn hồi kí này, sau cuộc phấn đấu cam go ròng rã nửa thế kỉ, có lẽ do được thụ hưởng một phép thiêng nào đó, rốt cuộc đã tạo dựng được một tiểu thế giới kì thú: không thoát li cuộc sống trần tục nhưng đậm đà một phong vị lãng mạn thần tiên do sự thăng hoa mãnh liệt của những giá trị tinh thần. Có thể nói y là một kẻ lãng mạn chủ nghĩa thành đạt. Phải chăng đó là sự gợi ý về mẫu người tương lai mà ngày nay chúng ta còn ít thấy?

Thứ hai, tác phẩm này chứa đựng một khát vọng chí thiện muốn làm tươi sống lại tâm hồn của không ít những đứa con của thời hiện đại đang đứng trước nguy cơ thoái hoá nhân tính thể hiện ở sự vô minh, sự khô cạn về tâm hồn, ở lối nghĩ lối sống dựa trên những dục vọng ích kỉ về vật chất và quyền lực.

Một tác phẩm văn chương đích thực, trong khi coi trọng việc kế thừa các nền văn chương quá khứ, nó nhất định phải cống hiến những phát kiến mới lạ và táo bạo cả về phương diện tư tưởng lẫn phương diện nghệ thuật, bởi đó chính là lí do tồn tại của nó. Tác phẩm này muốn chia sẻ với tất cả mọi người những nhận thức gần nhất với chân lí của càn khôn trong đó có thế giới tâm linh và thế giới con người, hướng tới sự minh triết, cố gắng tìm tòi một hướng sống và một cách sống đúng đắn để giúp mọi người hạn chế được thất bại và đau khổ, đạt được thành công và chân hạnh phúc.

Tuy dựa trên những hiện thực của cuộc sống Việt Nam diễn ra trong khoảng nửa thế kỉ đã qua, nhưng cuốn hồi kí này có khuynh hướng đi sâu đặc tả những điều độc đáo hơn là những cái thông thường, đồng thời luôn thiên về chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa lãng mạn và thấm đượm hương vị văn chương cổ điển, những thứ đã trở nên hiếm trong thế giới đương đại.

Hi vọng rằng những mẩu chuyện sống động và hoàn toàn có thực đan xen khăng khít với những suy tưởng và những cảm xúc mãnh liệt nhất, bằng chiều sâu đặc thù của nó, sẽ có một diện mạo riêng và chắc không để bạn đọc phải ngáp ngắn ngáp dài rồi buông ra những lời cáu bẳn. Bởi chính tác giả cuốn hồi kí này là kẻ hay phát bẳn nhất mỗi khi phải đọc hoặc phải nghe một cái gì vô duyên và vô bổ.

Sài Gòn tháng 2 - 2012


KIỀU VĂN


THƠ MỞ ĐẦU I

NGƯỜI PHẢI THẬTLÀ NGƯỜI…

Người phải thật là người
Không phải là con rối
Để số phận ngược xuôi
Đến bất ngờ chi phối…

Người phải thật là người
Sức mạnh và dũng cảm
Giúp cho ta tác chiến
Với số phận, cuộc đời
Như một cây đại thụ
Gió bật gốc đi rồi
Mà thân cây to lớn
Vẫn thẳng tắp đời đời.


SÁNDOR PETOŠFI

THUỶ NGUYÊN QUÊ CHA

QUẢNG YÊN QUÊ MẸ

Quê nội của tôi – thôn Phương Mĩ, xã Mĩ Đồng, huyện Thuỷ Nguyên, Thành phố Hải Phòng – là vùng đất từ xưa nổi tiếng về nghề đúc gang và về những vườn cau tươi tốt có thể so sánh với “Mười tám thôn vườn trầu” ở Hóc Môn.

Không được sinh ra và sống ở quê nội nên mỗi khi trở về đây, tôi có cảm tưởng đó là một vùng quê hơi khắc khổ và không mấy thơ mộng. Hình như cái “tạng” của tôi không thích hợp với vùng đất này. Tuy nhiên, đúng như người ta nói “Nơi quê cha đất tổ, là nơi ở cố thổ”, càng lớn lên tôi càng thấy một chân lí rằng dù không sống ở quê nội, bản ngã và số mệnh của tôi vẫn bị chi phối và quyết định bởi gốc gác quê quán và nội tộc của tôi. Chính cái nguồn gốc gắn chặt với khoa học và nghề đúc kim loại ấy đã cho tôi một lí trí biết lấy tư duy logic làm nền tảng, khao khát đạt tới sự minh triết, kiên quyết vứt bỏ những cái hư để đoạt lấy cái thực.

Cái vùng đất được đặc trưng bởi những lò luyện gang nóng tới vài ngàn độ ấy không bao giờ sản sinh ra những kẻ trói gà không chặt, những gã lang thang, những tay nghiện ngập, những tên khoác lác, những kẻ hữu danh vô thực, những lãng tử sống hôm nay không biết đến ngày mai, và những thứ văn chương lá cải. Con người của vùng quê “lửa đỏ” này có vẻ giống như những chiến binh đầy khí phách, có nghị lực lớn lao và cốt cách cao cường mà ông Tư Múi2 là một nhân vật tiêu biểu. Chính vì vậy tổ tiên dòng họ Nguyễn Xuân của tôi từng có vị làm võ tướng dưới trướng Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo trong triều đại Đông A, từng tham gia trận đánh Bạch Đằng lịch sử năm 1288. Nếu như ở tôi có một vài đặc tính hơi khác với cái bản tính gốc của con người quê nội tôi – như tính chất lãng mạn, hoa bướm, thơ mộng và trữ tình – thì đó là món quà mà vùng đất quê ngoại Quảng Yên đã ban tặng và bổ sung cho tôi. Có thể nói vùng đất Thuỷ Nguyên quê nội tôi mang dương tính rất trội, là nơi sản sinh ra những bậc anh hùng hào kiệt, còn vùng đất quê ngoại Quảng Yên3 mang âm tính rõ rệt, là xứ sở thường sinh ra những nhà thơ, những nhạc sĩ và những ca sĩ lừng danh. Tôi nhận thấy mình chính là sự tổng hoà của hai tố chất âmdương đó: tôi là đứa con lai giữa hai vùng đất Thuỷ Nguyên và Quảng Yên. Một gen trội của đất Thuỷ Nguyên trong tôi là cái ngạo cốt đóng vai trò là “nguyên động lực của động lực” trong suốt cuộc đời tôi. Còn gen trội của đất Quảng Yên trong tôi là style văn chương và âm nhạc lãng mạn trữ tình “sâu thăm thẳm” và có nhiều khác biệt so với văn chương thời thượng mà bạn đọc có thể cảm nhận khi đọc cuốn hồi kí này.

Một linh cảm sâu xa thầm mách bảo tôi rằng không phải ngẫu nhiên mà tôi lại được sinh ra trên mảnh đất quê mẹ, trong cái xóm Đường Ngang, làng Quỳnh Lâu, thuộc tỉnh lị Quảng Yên xưa, một địa danh nghe rất giàu chất thơ. Ngày nay cái tên lịch sử Quảng Yên (hậu thân của các địa danh An Bang, Yên Quảng những thời đại trước) bị hạ cấp xuống địa vị một… thị xã thuộc tỉnh Quảng Ninh mà với tôi đó chỉ thuần tuý là một danh từ địa lí, hành chính khô khan.

Lịch sử đang có khuynh hướng đòi lại những cái tên xưa cũ nhưng tuyệt vời và không thể thay thế. Bởi vì mỗi cái tên ấy đều mang một cái hồn mà trời đất, núi sông, lịch sử và tình cảm của con người trải bao đời đã kết tụ vào đấy.

Có một điều thật là kì diệu: Quảng Yên chỉ là một xứ quê nằm chếch ở một góc miền đông bắc Bắc Bộ, nhưng xứ quê ấy lại kết tinh trong nó bản chất đặc trưng về mọi phương diện của tất cả những xứ quê khác trên đất nước ta. Chính vì vậy, dù sinh ra trên đất Quảng Yên, con người tôi cả thể xác lẫn tinh thần không khác gì đứa con máu thịt của bất kì vùng đất nào trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà thơ Lưu Quang Vũ có câu Ôi tiếng Việt, suốt đời tôi mắc nợ thì tôi nói Ôi đất Việt, suốt đời con mắc nợ! Nếu tôi không có quãng đời mười ba năm tròn sinh ra, lớn lên và đẫm mình trong lòng quê mẹ thì không biết tôi sẽ trở thành một kẻ bị thiếu bản chất và thiếu hồn Việt Nam trầm trọng đến mức nào!

Xứ sở quê hương nơi tôi sinh ra là một vùng thiên nhiên vô cùng hoành tráng với những danh thắng vĩ đại: núi Yên Tử, cái nôi của thiền phái Trúc Lâm, sông Bạch Đằng lịch sử với bãi cọc gỗ lim dày đặc hãy còn đến ngày nay4, và vịnh Hạ Long vừa được công nhận là một trong bảy kì quan của thế giới. Tại vùng đất có gì rất phi thường này đã từng có mặt những nhân vật lịch sử như Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang tôn giả, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tảng, Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao5, Nguyễn Anh Vũ6, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Trương Quốc Dụng, Văn Đức Giai và nhiều nhân vật khác. Phải chăng vùng đất này có một sức hấp dẫn tự nhiên mãnh liệt đối với những nhân vật lịch sử, những bậc hào kiệt, những bậc văn chương quán thế, những con người có chí khí, tâm hồn và tài năng lớn?

Chúng ta hãy thưởng thức áng thơ của một bậc vĩ nhân thời xưa miêu tả một trong những cảnh quan hùng vĩ của vùng đất ấy.

Cửa biển Bạch Đằng

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu, ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Hồ dịch)

Là đứa con của vùng đất mà sông Bạch Đằng chảy qua, trong một phút xuất thần tôi đã viết những câu thơ cuồng phóng nhằm khắc hoạ cái hồn thiêng của dòng sông oanh liệt ấy:

Chiều trên sông Bạch Đằng

Núi lô xô

như những ngọn sóng khổng lồ

của một đại dương bão tố

hung hãn dồn về chân trời biếc bao la…

Ôi những ngọn sóng phi thường

sao lẳng lặng như hồn ta

chẳng hề gào thét điên cuồng

giữa cơn bão vô cùng dữ dội?

Ôi trong lòng biển động như kia

Chỉ những gì hùng mạnh vô song

mới hòng sống nổi!

Chắc giờ đây lũ nghê kình kinh hãi

đã lặn chìm trong muôn trượng biển sâu.

Ôi phải chăng trong sóng cuộn bạc đầu

Đang cuốn đi những lâu đài hoàng đế

Vùi lấp tang thương của bao thế kỉ

Xoá sạch cơ đồ ti tiện của thế nhân?

Giữa cơn bão ngợp trời

Lừng lững dòng Bạch Đằng Giang

vẫn tiếp diễn cuộc hành trình muôn thuở

với linh hồn oai linh và bất tử.

Bên dòng sông

đứng lặng một nhà thơ

thả tâm hồn cho sóng cả cuốn đưa

trôi, trôi mãi tới chân trời xa lắc…

Hải Phòng 1971

Nhân đây, để phục vụ bạn đọc, tôi xin giới thiệu bản dịch tiếng Anh (đã được một chuyên gia Anh ngữ nhuận sắc):

AN AFTERNOON ON

THE BACH DANG RIVER

    • Numberless mountains

Like huge raging waves

In a stormy ocean

Frightfully rushing ahead towards the bluish limitless horizon…

Oh, extraordinary waves

Why are you so quiet like my soul?

Why aren’t you crazily screaming

Amidst an extremely frightful storm.

Oh, in such a stormy sea

Only uniquely strong beings can survive!

The awful sharks might have

Deeply dived under thousands of mile.

Oh, is it in the billowing white – crested waves

That imperial palaces are swept away

And the wretchedness of so many centuries are buried

Washing away all small – minded plots of mankind

In the broiling storm

The mighty Bach Dang river

Continues its eternal flow

With the majestic and immortal souls of dead heroes.

Beside the river

Stood a quiet poet

Casting his soul down to the waves

That sweep it far, far away till the distant horizon….

Thắng cảnh Vịnh Hạ Long chỉ cách làng Quỳnh Lâu của tôi hơn ba chục cây số. Đó là một công trình tuyệt xảo của tạo hoá mà hai tính chất trữ tình và kì vĩ đã hoà quyện vào nhau. Bậc sư phụ của tôi là nho y Vũ Ngọc Lung đã có thơ về thắng cảnh Hạ Long như sau:

Cảnh Hạ Long

xuân Giáp Thìn 1964

Non xanh nước biếc một miền

Bức tranh thuỷ mặc thiên nhiên tuyệt vời.

Núi trùng điệp đứng cười với sóng,

Nước xanh lơ soi bóng núi non.

Núi cao non thấp chon von,

Hình kia dáng nọ cho hồn ai mơ.

Tắm gió sương núi trơ gan đó,

Ngắm sóng dồn lớp nọ lớp kia,

Nước non non nước tương tri,

Khách chơi non nước nặng vì nước non.

Cảnh hùng vĩ một vùng thanh tú,

Bút thô sơ chưa đủ tượng hình.

Thiên hình vạn trạng tài tình,

Núi cây thuyền nước rung rinh ảo huyền.

Bóng tà huy xiên xiên le lói,

Chòm cây đồi nhuộm lỏi vàng xanh.

Hồn thơ trăng núi gió ghềnh,

Đào nguyên động chủ khách tình là ai?

Còn ngọn núi Yên Tử huyền thoại cũng chỉ cách làng tôi chừng bằng khoảng cách tới Hạ Long. Trong thời thơ ấu ở quê nhà, ngày nào tôi cũng trèo lên đỉnh núi Cây Vè ngắm nhìn với một niềm sùng bái kì lạ ngọn núi xanh thẫm ở xa tít cuối chân trời. Tôi cảm thấy ngọn núi ấy có gì khác hẳn những ngọn núi đồ sộ khác của vòng cung Đông Triều: màu núi xanh ngăn ngắt khiến tôi thấy phần chóp núi hình chữ M7 của Yên Tử hiện lên vô cùng sắc nét như tạc vào nền trời. Dáng núi trông uy nghiêm như một vị chúa tể khiến tôi vừa ngưỡng mộ vừa cảm thấy ghê hồn. Lúc bấy giờ đối với tôi ngọn núi ấy sao mà xa xăm đến thế, xa xăm như thể ở cõi trời, đến nỗi tâm hồn thơ ngây của tôi có mặc cảm rằng mình vĩnh viễn không thể nào tới đó được. Phải chăng ngọn núi thiêng ấy vốn ở cách xa cõi phàm trần nên chỉ tiếp nhận những con người hùng mạnh và có nhân cách cao quý mà thôi? Vào thế kỉ XV, Ức Trai Nguyễn Trãi đã tìm đến với Yên Tử và để lại những áng thơ bất hủ như:

Đề chùa Hoa Yên, núi Yên Tử

Trên dải Yên Sơn đỉnh tột vời,

Đầu canh năm đã sáng trưng rồi.

Mắt ngoài biển cả ôm trời đất,

Người giữa mây xanh vẳng nói cười.

Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh,

Dải châu treo đá rủ lưng trời.

Nhân Tông còn miếu thời nao đó

Thấy rõ đôi ngươi giữa ánh ngời.

(Khương Hữu Dụng dịch)

Mãi đến năm 1998 tôi mới có diễm phúc được đến với danh sơn Yên Tử. Trong cuộc đăng sơn lên chùa Đồng, một nhà sư đi cùng tôi đã đọc cho tôi nghe những bài thơ mà những bậc thi nhân khuyết danh thời trước đã viết về Yên Tử. Là người chuyên thẩm thơ, tôi kinh ngạc nhận thấy mỗi bài thơ là một viên ngọc quý:

Vân du Yên Tử

Núi lượn trong mây, mây vờn núi

Vân du Yên Tử bước chân thầy8

Trăm năm đâu dễ hồi du cảnh

Người cũ chùa xưa mé hiên tây.

Yên Tử thầy ơi, con tới đây

Mênh mông mây núi bóng sư thầy

Trăm năm duyên kiếp còn lưu lại

Lối cũ đường xưa ngập cỏ cây.

Yên Tử

Vòng cung uốn lượn tựa mình rồng

Vươn mình thế núi hướng biển Đông

Ẩn sâu khúc lượn trong lòng đất

Ngoảnh lại, đầu rồng hướng Thăng Long.

Yên Tử trường xuân

Từ bỏ ngôi vua để tu hành9

Từ cái nhất thời, cái hữu danh

Vĩnh hằng vô hạn vua tìm đến

Yên Tử trường xuân hoá đất lành.

Đường rừng

Cổ thụ vươn cao xoè tán rộng

Rừng già nắng lọt đốm hoa rơi

Dây leo chằng chịt vắt cành lá

Chim rừng líu lót với huơng trời.

Cây khô răng rắc dưới chân đi

Lá mục nồng ngai hoa từ bi

Trên đường lác đác cây tùng cổ

Thợ trời khéo đặt cảnh thiên trì.

Gốc đa ôm gốc thị

Xum xuê tán lá rợp vườn chùa

Cây đa cổ thụ tự ngàn xưa

Giữa lòng khóm rễ ôm gốc thị

Thị mọc gốc đa có hay chưa?

Vẹt rừng Yên Tử

Sau trận mưa rừng, ánh nắng rơi

Tùng xanh chao lá đàn vẹt trời

Mẹ bế bồng con phơi nắng sớm

Tháp đá điểm xanh áo vẹt phơi…

Am xưa10

Sớm cưỡi mây chơi cùng núi biếc

Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm

Tiếng sáo thiền ca vui bất tận

Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng.

Bia xưa11

Cái luật vô thường và khắc nghiệt

Có ai tránh được tuổi thời gian?

Bụi trần sót lại trên thông cổ

Nền cũ bia xưa gió phũ phàng.

Tháp chùa12

Phế tích hoang xưa những tháp chùa

Trăm năm dầm dãi gió cùng mưa

Mái tía lầu son cung điện ngọc

Mây chen trong đá vạt lau thưa.

Hoa đại

Hai mùa xuân hạ đại nở hoa

Óng ánh hơi sương trắng cánh ngà

Hoa rụng sân chùa hương thơm ngát

Gót vàng ai dạo giữa nền hoa…13

Nền cũ am xưa

Um tùm cỏ dại mọc quanh am

Mấy cây thông cổ giữa non ngàn

Hiu hắt cành lau xào xạc gió

Than thở cùng ai một nỗi oan?

Đường thiền

Hai hàng tháp cổ đứng nghiêm trang

Đàn bướm đùa chơi dưới nắng vàng

Đá lát đường thiền vào cõi Phật

Những cánh mơ vàng đón xuân sang.

Trời quang Yên Tử

Trên non Yên Tử ngày trời quang

Bức tranh thuỷ mặc dưới trăng vàng

Nhấp nhô như sóng triền đồi núi

Xa xa một dải Bạch Đằng Giang.

Trời đất kì vĩ, lòng xốn xang

Gió reo thánh thót những cung đàn

Chùa Đồng Yên Tử trời đất Phật

Ưu phiền trần tục thảy tiêu tan.

Huyền thoại Huyền Trân

Quỳ xuống chân cha ôm mặt khóc

Ngờ đâu lần cuối gặp cha già

Non trùng nước biếc xa thăm thẳm

Xuất giá tòng phu mây nước xa.

Qua dãy tùng xưa nay đã lớn

Vẫy chào hoàng hậu nước non Chiêm

Nước mắt thành mây - thành mây trắng

Huyền thoại tình duyên một nỗi niềm.

Luận đời

Đời giống mây trôi trên đỉnh núi

Phù vân tán tụ một kiếp người

Vinh hoa phú quý vòng tục luỵ

Bể khổ trần ai kẻ đầy vơi.

Tìm đến Yên Sơn tẩy bụi trần

Hào quang toả sáng đỉnh Phù Vân

Ngoạ vân Yên Tử14 theo ngày tháng

Linh sơn đất Phật mãi trường xuân.

Tôi đến Yên Tử mà không hề biết rằng hôm ấy là ngày Phật đản. Sau khi lên thăm chùa Đồng trở về, đêm nằm trong căn lều tranh ướt át của chùa Hoa Yên, tôi đã viết bài thơ sau đây:

Về Yên Tử

Ôi Yên Tử, đỉnh biếc xanh mây phủ

Suốt nửa đời ta trông vọng từ xa!

Bỗng hôm nay như được ban ân phước

Ta hăm hở tìm về

Người mở lượng đón ta…

Cao vòi vọi cõi Trúc Lâm kì vĩ

Hiện tinh khôi muôn kiệt tác hoá công.

Đá chất trùng trùng

Tùng thông rợp bóng

Ta ngất ngây trong mây khói non Bồng…

Yên Tử ơi!

Trong gió rít, trong mây tuôn cuồn cuộn

Ta nghe hồn những hiền thánh thời xưa

Đang hội tụ trên đỉnh cao thăm thẳm

Luận việc giang san muôn thuở trước đến giờ…

Chùa Hoa Yên, núi Yên Tử,

ngày Phật đản (10-5-1998)

Thế nhưng tất cả những sự hoành tráng và kì vĩ ấy cũng mới chỉ biểu đạt được một phần bản chất của vùng đất “An Bang” mà thôi. Ngày nay, khi mà nền văn minh vật chất mang hội chứng “thiểu hồn” đang lan tràn khắp nơi, nếu ai đặt chân đến những miền làng quê của xứ An Bang này sẽ vẫn được thấy một cảnh sống bằng lặng, thuần phác và trong sạch như trong thời quá khứ, vẫn được thấy cảnh con người sống gắn liền với thiên nhiên tươi đẹp. Ở đó người ta có thể tìm lại được những vẻ đẹp không gì sánh nổi của nông thôn Việt Nam từng là mạch nguồn bất tận cho những áng thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ, cho âm nhạc đồng quê của Phạm Duy. Đó là những cánh đồng xanh rờn lúa má và hoa màu, là những cánh rừng thông bát ngát ở Biểu Nghi từng là chốn đào nguyên của một tình yêu tuyệt đích trong đời tôi, là hồ Yên Lập rộng lớn nhưng náu mình trong chốn lâm tuyền, là cây đa cổ thụ vĩ đại tại làng Khoái Lạc với hàng trăm gốc và tán cây che phủ trọn một quả đồi.

Rõ ràng Thượng Đế đã cố ý ban tặng cho xứ sở An Bang quê hương tôi một thiên nhiên toàn bích với cả hai phong cách hùng tráng và trữ tình mà không phải nơi nào cũng có được. Tôi tin có một quy luật rằng tình yêu, văn chương và âm nhạc là những nhành hoa trổ ra từ cuộc sống gắn liền với một thiên nhiên thanh khiết và tuyệt đẹp. Quê hương tôi cao ráo và sạch sẽ như vùng trung du, hầu như không có cảnh bùn lầy nước đọng, cảnh đồng chua nước mặn hoặc cảnh đất đai cằn cỗi. Dù sống gần 60 năm ở những thành phố văn minh, con người tôi vẫn hoàn toàn hoà làm một với miền đất tôi đã sinh ra. Điều đó cho thấy cái quy luật “gốc quyết định ngọn” thật sâu xa biết chừng nào, đồng thời cũng cảnh báo rằng “ngọn mà rời bỏ gốc” thì số phận của nó sẽ đầy rẫy bất trắc.

Dưới đây là bài thơ đầu tay của tôi viết về quê mẹ khi tôi phải nếm nỗi sầu xa quê:

QUÊ MẸ

  • Xa quê đã my năm ri

Triền miên giấc mộng, bồi hồi nhớ quê.

Quê tôi những núi cùng khe

Một vùng xanh thắm bóng tre la đà.

Nhớ quê nhớ những nếp nhà

Tiếng chày giã nhịp, tiếng gà đầu hiên…

Quê tôi như thể mẹ hiền

Nuôi tôi khôn lớn giữa miền đồng quê.

  • Tình quê day dt trăm b

Giục tôi phóng ngựa trở về quê hương.

Ra đi một sớm tinh sương

Về nơi quê mẹ tình thương dạt dào.

Đường quê muôn cánh hoa đào

Cô em cắt cỏ má sao ửng hồng?

Dừng cương bên cánh lúa nồng

Mắt tìm lối cũ, trong lòng xôn xao…

Quảng Yên 1961

Mỗi lần từ nơi xa về thăm quê, dường như tôi lại rơi trọn vào cái thuở ngày xưa cho dù những con người của ngày xưa mà tôi xiết bao thương nhớ đã vắng bóng quá nhiều bởi họ đã yên giấc trong lòng mộ. Năm 1985, tôi lên thăm cụ lí Đơn (thông gia với bố mẹ tôi) lúc ấy đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn còn quắc thước. Khi tôi còn bé, cứ giáp Tết cụ lại sang gói bánh chưng giúp gia đình tôi và bao giờ cũng gói riêng cho tôi một chiếc bánh chưng nhỏ thật xinh. Cụ có biệt tài gói không cần khuôn mà bánh vẫn đều chằn chặn và vuông thành sắc cạnh. Suốt ngày hôm ấy trái tim non nớt của tôi đã cảm thấy rộn ràng vui sướng, đã háo hức mong đợi kể từ lúc bánh đang được gói cho đến khi bánh đã chín rền sau mười hai tiếng luộc và được vớt ra từ chiếc nồi đồng cỡ đại của gia đình tôi.

Sau bao năm xa cách, lần này được ngồi bên cụ, ngưỡng mộ hình ảnh cụ, một lão nông chân chính, tôi nói:

Cháu ở xa nên ít khi được trông thấy cụ. Đối với cháu, hình ảnh của cụ thật đẹp đẽ và đáng kính vô cùng. Cụ chỉ là một nông dân thuần tuý suốt đời làm ra hạt thóc nuôi người, nhưng với cháu, cụ là người đáng quý vào bậc nhất ở trên đời.

Cụ già lặng nghe tôi nói và chậm rãi trả lời:

Vâng cảm ơn bác (vì đức khiêm nhường, cụ đổi anh thành bác), đã lâu lắm tôi mới lại được nghe những nhời như những nhời của bác, tôi thật lấy làm mát ruột mát gan.

Trước nữa, vào năm 1961, khi người anh rể thân yêu của tôi, vì số mệnh ghét ghen mà bị giam cầm biền biệt ở chốn rừng xanh núi đỏ xa xôi, trước mặt mẹ chồng, chị Phiến tôi đã phàn nàn về số phận hẩm hiu của mình. Nhưng tôi đã chứng minh cho chị hiểu rằng chị lấy được một người chồng có học thức cao và có đạo đức, mặc dù gặp nhiều bất hạnh trong cuộc đời nhưng bao giờ cũng rất xứng đáng là chồng của chị. Bà Vũ Thị Dạng, mẹ chồng chị, nghe tôi nói thế về con trai bà, đã thốt lên một câu y hệt câu của cụ lí Đơn:

Cậu Văn chỉ nói mấy nhời mà làm tôi mát ruột mát gan.

Than ôi, cả cụ lí Đơn và bà Dạng đến nay đều đã thành người thiên cổ. Tôi viết những dòng này để viếng hồn hai cụ, những con người đã mang tất cả mồ hôi nước mắt cống hiến cho xứ sở quê hương, nhưng niềm vui và vinh hạnh của họ sao mà ít ỏi, còn nỗi nhục nhằn thì không biết lấy đấu nào mà đong cho được! Bởi vì sao thế? Bởi vì cuộc sống của chúng ta hãy còn chứa chất nhiều nỗi bi thương lắm!

Tháng 5 năm 1998 về thăm quê, khi sáng tác bài hát Quảng Yên quê hương tôi, tôi đã khóc trong ngôi nhà tôi cất tiếng khóc chào đời vào năm mươi lăm năm trước.

Quê hương tôi, ôi miền quê xanh ngát,

Dòng Bạch Đằng Giang vẫn hát

những khúc hùng ca ngàn đời!

Quê hương tôi, nơi ấp ủ tuổi thơ tôi

nơi vang vọng lời ru tôi,

nơi mẹ hiền bế bồng tôi…

Quê hương ơi, nơi đồi thông gió mát

ngôi trường xưa xinh xắn

thắm tươi bao kỉ niệm…

Người làng tôi

dù dãi nắng dầm sương,

dù trăm đắng ngàn cay,

lòng vẫn hướng về ngày mai…

Quê hương tôi, ôi miền quê yên tĩnh

qua ngàn cơn giông bão

vẫn trắng trong, đẹp ngời!

Quê hương tôi, ôi miền quê yêu dấu

Sao lòng tôi mãi mãi

xanh biếc tình quê?

Vâng, bao giờ tôi cũng háo hức lăn vào lòng quê hương như đứa trẻ lăn vào lòng mẹ. Tôi đã đi khắp nơi để thăm viếng lại những cảnh cũ, những người xưa, và mộ phần của những người quá cố trong ngoại tộc của tôi. Tôi đặc biệt xót xa thương cảm những người anh em vô hạn thân yêu mà thuở ấu thơ đã cùng tôi say mê chơi đủ thứ trò chơi, nhưng họ chẳng may phải sớm lìa đời từ lúc còn niên thiếu.

Lần về thăm quê tháng 9–2005, với tất cả lòng yêu thương sâu sắc, tôi đến thăm lần chót bà dì ruột – người mẹ thứ hai của tôi có giọng nói êm như nhung, nay đã già yếu đi nhiều. Tôi truyền nhân điện và xoa dầu cho dì. Trong cánh tay dìu đỡ của tôi, dì chợt thấy khoẻ lên và đã gượng ngồi dậy sau bao nhiêu ngày nằm liệt, rồi quyết rời giường bệnh ra ngồi ở chiếc ghế dài cùng với con cháu xung quanh để chụp tấm ảnh kỉ niệm cuối cùng. Cho hay sức mạnh của tình cảm thật là một điều thần kì.

Tôi đã đi thăm những ngôi đất thiêng liêng, đã nhớ tiếc đứt ruột và ngồi khóc một mình trên đỉnh ngọn đồi xưa kia toạ lạc đình Quỳnh Lâu vĩ đại. Tôi đến thăm di tích còn sót lại của ngôi Chùa Vãng từng được sắc phong của triều đình Nguyễn, toạ lạc ngay trên một triền đồi thấp kề sát với cánh đồng Đường Ngang. Tôi đi tìm hiểu lịch sử đền Quỳnh Lâu đã bị phá thành bình địa và được biết đền này thờ Mẫu Nghi Thiên Hạ tức Mẫu Liễu Hạnh15. Đền nguyên được dựng trên một ngọn đồi thấp mang tên Nguyệt Lĩnh nghĩa là “Dải núi hình mặt trăng”. Nằm ở sườn bên kia ngọn đồi ấy chính là ngôi trường tiểu học Quỳnh Lâu, “ngôi trường xưa xinh xắn” mà tôi đã học những năm đầu đời.

Khi trở về nhà, tôi lấy làm hối tiếc vì đã không nhanh trí chụp hình một thôn nữ nhà ở xóm Đình. Cô nàng thật trẻ trung và đẹp giòn, đang bế trên tay thằng con kháu khỉnh. Thằng bé này giãy nảy lên và định khóc khi nhìn thấy tôi trìu mến nắm lấy cổ tay tròn lẳn mũm mĩm của mẹ nó. Trong mắt nó, bàn tay tôi giống như chiếc vòi bạch tuộc đang bủa ra tóm bắt mẹ nó. Nhưng đến khi tôi buông tay ra thì nó chợt vui mừng hiểu rằng tôi không phải là bạch tuộc, nó bèn nhìn tôi và nở nụ cười hết sức thân thiện… Quả thật là “vạt áo nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi”16

Và rồi rừng núi vùng Yên Lập – xứ đào nguyên của tôi, nơi tôi đã sống những giờ phút tuyệt đích của tình yêu – cuốn hút tôi mãnh liệt. Tôi vội vã phóng xe đi, ghé thăm bà mợ đã già17, rồi cùng cô em Yến (con của mợ) dạo xe máy trên con đường tuyệt đẹp của một vùng sơn thuỷ hữu tình. Hai anh em, trong niềm hạnh phúc của tình ruột thịt, cảm thấy thân quý nhau vô hạn. Tôi hứng thú biết bao khi phát hiện sự thông minh vượt bực của cô em họ: cô đã đọc say mê và cảm thụ được cả những tác phẩm văn chương tôi viết ở tầm cao18.

Nhưng rồi trong cuộc đi này, hai anh em đã phải đau lòng chứng kiến quãng ngày cuối cùng của một cô em tôi tên là Kiêm (chị ruột của Yến). Tôi còn nhớ năm lớp 10 tôi từ Hải Phòng về nghỉ hè ở Quảng Yên và đang say sưa viết truyện Tình yêu của nhà dế thì chính cô em dễ thương này đã rủ mấy đứa em gái khác đến thăm tôi. Thấy tôi có một lọ hoa để trên bàn viết mà những bông hoa đã héo hết, Kiêm bèn rủ cả bọn ra vườn ngắt hoa “bề tên” cánh trắng và rất thơm về cắm vào lọ để trang điểm cho phòng văn của ông anh họ. Có lẽ trời sinh ra các cô em gái thì cũng sinh ra trong lòng chúng một thứ tình yêu hết sức đằm thắm dành cho những người anh họ. Biết bao nhiêu năm tháng đã trôi qua rồi mà nay tôi vẫn còn nghe vẳng tiếng nói tiếng cuời ríu rít của lũ em gái ngây thơ và đáng yêu quây xung quanh tôi chiều hôm ấy.

Trước tình cảnh bi đát của đứa em gái thân yêu, tôi đã ra tay thực thi cái việc “còn nước còn tát”, giở hết các chiêu mà tôi có về môn y dược để cứu em và hạnh phúc của gia đình em. Tôi nhập thiền truyền nhân điện vào các luân xa, tôi khuyên cô tiết thực để giải độc và khích lệ cô chú tâm vào những sự mầu nhiệm của Trời Phật… Vợ chồng cô vốn rất quý tôi, đã đặt tất cả tin tưởng vào tôi sau khi bệnh viện Thuỵ Điển ở Uông Bí đã bó tay. Nhưng lực bất tòng tâm, tôi không cứu nổi mệnh của em mình. Có chăng cô chỉ được nhận ân điển của Trời Phật ban cho linh hồn cô qua luồng nhân điện của tôi mà thôi.

Tôi đã sống xa em Kiêm biền biệt suốt 45 năm trời, vậy sức mạnh huyền bí nào đã dun dủi tôi từ Sài Gòn trở về Quảng Yên và tìm tới tận nhà cô ở miền đồng rừng Yên Lập xa xôi hẻo lánh để gặp lại cô đúng lúc cô sắp lìa đời? Phải chăng tôi có mặt chính là để ôn lại và đền đáp tấm lòng quý hoá của đứa em gái ngây thơ đã từng có một hành vi vô cùng thơ đẹp là hái hoa tặng tôi vào một ngày xa xưa? Phải chăng chính trời xanh kia cũng không muốn anh em tôi lãng quên cái điều kì diệu đã từng xảy ra ở chốn trần gian ấy?

Sau những giờ phút buồn thương đó, tôi tiếp tục cuộc du hành trên khắp vùng đất An Bang xưa. Tôi đến thành phố Hạ Long để tìm gặp lại Vũ Văn Thành, người bạn thân thiết của tôi từ hồi còn để chỏm, để thưởng ngoạn cảnh biển bằng cuộc du thuyền và bơi lội giờ lâu trên vịnh Hạ Long nước xanh ngăn ngắt. Tôi vào thăm động Thiên Cung, một kiệt tác của hoá công vừa được phát hiện. Cuối cùng, tôi quyết định một mình trèo lên núi Bài Thơ để thử thách xem gân cốt của mình ra sao. May mà cũng chưa có điều gì đáng phàn nàn: sức tôi vẫn còn khá dẻo dai. Tôi leo chậm rãi với quyết tâm lên tận đỉnh núi mà năm học lớp 9 tôi đã cùng các bạn trong Nhóm hiệp sĩ chinh phục nó một cách oanh liệt. Nhưng rồi tôi đã phải dừng lại cách đỉnh núi một quãng vì lí do… cây cối rậm rạp đã bịt kín hết lối đi lên.

Ôi quê hương tôi!

Nơi ấy đã cho tôi tận hưởng một thiên nhiên hùng vĩ, thanh khiết và tuyệt vời, dạy cho tôi về tình yêu thiêng liêng vĩ đại với đất trời, với giang sơn của tổ tiên để lại và với mảnh đất làng quê nơi tôi đã sinh ra.

Nơi ấy đã cho tôi một gia đình và một gia tộc thân thương – cái tổ ấm đã nuôi dưỡng những mầm mống nhân tính thuở ban sơ của tôi đúng như câu thơ đầu tiên mà thầy Cửu Liêm vô vàn yêu quý đã dạy tôi:Con ong gây mật, con tằm nhả tơ.

Nơi ấy đã cho tôi những tình bạn ấu thơ sâu nặng lạ thường, là khởi nguồn và là mẫu mực cho những mối quan hệ bằng hữu sẽ nảy nở không ngừng và tươi thắm mãi trong suốt cuộc đời tôi.

Nơi ấy đã ban cho tôi một lứa đàn anh là những con người chân chính, trong sạch, có học thức và tài hoa mặc dù họ phải hứng chịu quá nhiều bất hạnh do thời cuộc đảo điên gây nên. Họ chính là những người thầy trong thời ấu thơ của tôi mà tôi không phải trả ai một đồng học phí nào nhưng đã được dạy tất cả, kể cả những kiến thức quý như vàng ròng. Tôi thừa nhận rằng chính cái thiên hướng về văn hoá của họ đã góp phần quan trọng định hướng cho con đường sự nghiệp về trí tuệ và văn chương nghệ thuật mà sau này tôi theo đuổi suốt đời.

Nơi ấy đã cho tôi những cảm xúc đầu tiên về thứ tình yêu chớm nở đầy mê hoặc khi người con gái đẹp nhất làng Quỳnh Lâu đã làm chao đảo trái tim non nớt của tôi, chàng thiếu niên mang bẩm chất của một thi nhân đa tình.

Nơi ấy cho tôi được gần gũi và được hiểu sâu sắc về bản chất của người dân quê Việt Nam mà có lẽ chỉ những người trí thức có diễm phúc mới được hưởng những cơ hội như thế.

Người dân quê Việt Nam, họ là ai vậy? Là những người chất phác suốt đời gắn bó với mặt đất, chấp nhận sống ở dưới đáy của cuộc đời từ đời này sang đời khác, gần như không có ước mơ gì về một cuộc sống mà chúng ta gọi là cuộc sống rực rỡ hào quang. Họ là những dân lành nhưng chính là một quần thể sinh linh đông đảo với sức mạnh hùng hậu nhất mà trời đất gieo vãi xuống cõi trần gian, xuống dải đất Việt Nam này, như nông dân gieo vãi hạt giống trên những cánh đồng bát ngát. Họ là những thuần dân đời đời sống êm đềm thuận theo dòng chảy của cuộc đời, trong khi những kẻ khôn ngoan biển lận hoặc những kẻ có trí tuệ sắc sảo - trong đó có tôi - có vẻ chỉ là những gã quái nhân mà kẻ này thì hăng hái hích cuộc đời nhích lên còn kẻ khác lại vì quyền lợi ích kỉ của mình mà sẵn sàng xô cuộc đời ấy xuống vực không chút đoái thương.

Tôi đã cảm nhận thấm thía mối quan hệ máu thịt của tâm hồn tôi với những người dân quê Việt Nam ấy. Biết bao lần chỉ cần thoáng nghĩ đến họ thôi thì bỗng dưng nước mắt cảm thương đã đầy ứ trên khoé mắt tôi rồi. Vì sao thế? Vì lương tri của tôi nhận ra rằng họ chính là những con người trong sạch và hiền hậu nhất trên cõi đời này, hiền hậu đến mức khờ dại, và nếu có chút khôn ngoan nào thì cũng chỉ là thứ khôn ngoan nhỏ nhặt. Vì suốt đời mải mê làm lụng sinh nhai, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, họ thường ở cách rất xa, không bao giờ biết tới những chốn là trung tâm của quyền lực và của những món lợi lộc cực kì béo bở. Họ đã tụ tập, đã lao động, kiến tạo và là chủ nhân đích thực của cuộc đời, của quốc gia gấm vóc, của những nền văn minh, nhưng trong nhiều thời đại, dường như họ luôn bị gạt ra bên lề của cuộc đời ấy. Đó là một nghịch lí nặng nề từng làm đau lòng nhức óc những bậc hiền nhân và những người có lương tri. Chính vì bị gạt ra bên lề cuộc đời mà họ luôn luôn phải hứng chịu những thiệt thòi cay đắng nhất trong cuộc đấu tranh sinh tồn đầy khốn khó. Mắt tôi đã từng chứng kiến nhiều người trong đám dân đen ấy phải chịu cảnh nghèo kiết cho đến tận phút nhắm mắt xuôi tay.

Chính những người dân quê ấy, trong quằn quại khổ đau đã đặt ra câu ca dao oán trách cả trời xanh khiến chúng ta nghe mà thấy lòng đau thắt:

Trời sao trời ở không cân,

Kẻ ăn không hết, người lần không ra?

Tôi nhận thấy hầu hết các văn thi nhân và các nhà nghệ thuật, do bản chất giàu lương tri, giàu lòng nhân ái nên họ đã hết lòng yêu thương và chân thành tri ân nhân dân mình – một nhân dân khốn cùng và đau khổ nhưng đã tạo nên cả đất nước lẫn hồn nước, tạo nên ngôn ngữ Việt tuyệt vời, tạo nên kho tàng ca dao tục ngữ dân ca kì diệu và vĩ đại, tạo nên một nền văn hoá của phương Đông đặc sắc, bất hủ. Biết bao tác phẩm văn chương nghệ thuật ra đời chỉ để bày tỏ tình yêu thiết tha sâu nặng với những người dân quê ấy. Dưới đây là một vài ví dụ.

Nhạc sĩ Phạm Duy viết trong bài hát “Tình ca”:

Tôi yêu bác nông phu

Đội sương nắng trên bờ ruộng sâu!

Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo,

Mình đồng da sắt không phai màu…

Tấm áo nâu!

Những mẹ quê chỉ biết cần lao;

Những trẻ quê bạn với đàn trâu! Bé ơi!

Tấm áo nâu!

Dướn mình đi từ cõi rừng cao,

Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi!

Còn tôi đã bày tỏ tình cảm của mình với “những người chân đất” trong bài thơ “Chùa Hương” như sau:

Trong sương giá, ban mai chớm mở

Mây mơ màng choàng cổ núi xa…

Thung mơ tiếc giấc mơ qua

Cây soi suối Yến la đà bóng nghiêng…

Lũ thuyền con băng trên dòng nước

Ném khách du lên trước Thiên Trù.

Lao xao chợ họp sân chùa

Niềm vui thắp sáng ngàn hồ mắt trong.

Phải đây quê hương dòng giống Việt

Khuất về xa biền biệt mơ hồ

Nhường cho cuộc sống xô bồ

Cho bao dục vọng điên rồ sinh sôi?

Những số phận tả tơi rách nát

Bỗng lạc vào thanh thoát vô biên

Vút trông một cõi lâm tuyền

Mảnh đời xưa cũ còn nguyên chưa tàn…

Kìa lão chài trên làn nước biếc

Tóc như sương bơi chiếc thuyền câu.

Tiều phu vài gã áo nâu

Đôi gian lều cỏ dãi dầu gió sương…

Hang thăm thẳm Chùa Hương kì thú

Sáng long lanh thạch nhũ rủ đèn.

Đá vặn mình điệu múa tiên

Bủa muôn ma lực giữa miền chiêm bao.

Ơi Hương Tích khác nào cõi mộng

Bên cuộc đời sống động cuồng quay.

Những người chân đất bấy nay

Đến khi nhắm mắt xuôi tay âm thầm

Mới thấm thía lỗi lầm đau khổ

Thấy cuộc đời đổ vỡ nát tan.

Chùa Hương ơi, giấc mộng vàng!

Phật tiên đâu chẳng xoá ngàn xót xa?

Con chào mẹ, mẹ già chân đất

Tấm thân gầy lật đật gậy song.

Chào chị nghèo bước long đong

Đi xin xá tội khắp vùng núi non…

Chào em nhé, những hồn son trẻ

Háo hức về đất mẹ mến thương

Hãy bay như ánh đại bàng

Trên trời Hương Tích chói chang mai này!

(1984)


_____________________________

1 Hoàng Trung Thông dịch.

2 Nhân vật Tư Múi sẽ được miêu tả kĩ ở chương “Con người và số phận”.

3 Vùng đất trong lịch sử gọi là “An Bang”, “Yên Quảng” (nay gọi là Quảng Ninh) gồm Yên Hưng (thuộc tỉnh lị Quảng Yên xưa), Uông Bí, Hòn Gai (Thành phố Hạ Long), Cẩm Phả, Hoành Bồ, Ba Chẽ, Quảng Hà, Bình Liêu, Đông Triều, Hải Ninh, Tiên Yên, Vân Đồn, Cô Tô.

4 Hiện giữa thị xã Quảng Yên còn sót lại hai cây lim cổ thụ 700 tuổi thuộc rừng lim lớn thời xưa đã cung cấp gỗ để làm cọc Bạch Đằng.

5 Khoảng sau năm 1440, Ngô Thị Ngọc Dao bị thần phi Nguyễn Thị Anh vu cáo hãm hại, nhưng được vợ chồng Nguyễn Trãi-Nguyễn Thị Lộ che chở đưa vào chùa Huy Văn (Thăng Long) sinh con là hoàng tử Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông sau này). Sau đó bà phải mang con đi ẩn tránh tại Quảng Yên.

6 Hậu duệ của Nguyễn Trãi còn sống sót sau vụ thảm án Lệ Chi Viên, trốn tránh tại Quảng Yên.

7 Núi Yên Tử có hai đỉnh tạo thành hình chữ M, do đó người địa phương còn gọi là núi Cổ Yếm (trông giống chiếc cổ yếm của phụ nữ xưa).

8 Thầy: ni sư Huệ Giác, viện chủ Quan Âm tu viện Biên Hoà, du ngoạn Yên Tử năm 1997.

9 Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) lên tu ở Yên Tử, trở thành Trúc Lâm đệ nhất tổ và hiển Phật.

10 Am Ngoạ Vân, nơi vua Trần Nhân Tông thiền định và du chơi.

11 Bia đá trước chùa Cầm thực.

12 Những tháp chùa cổ được dựng từ thời Trần nay đã trở nên hoang phế.

13 Người ta vẫn thấy phảng phất gót vàng của các cung nữ (đã trẫm mình tại suối Giải Oan khi vua Trần Nhân Tông đi tu và rời bỏ họ) dạo trên nền hoa đại trắng trong những đêm trăng.

14 Chùa Ngoạ Vân trên đỉnh Yên Tử (mang nghĩa: mây nằm nghỉ).

15 Cả ba di tích văn hoá quý giá này đều bị triệt phá trong thời cải cách ruộng đất (1956-1957).

16 Câu của Chế Lan Viên.

17 Vợ của cậu út tôi. Chính cha mẹ tôi đã đứng ra làm đám cưới cho hai cậu mợ khi cả gia đình đi tản cư tại Bắc Giang. Sau này mợ mất vào đầu năm 2008.

18 Như tiểu thuyết “Cùng khốn một tình yêu”.



© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SaìGòn ngày 21.12.2012.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com