Thần Siêu Thánh Quát







Nguyễn Văn Siêu quê ở làng Kim Lũ - Thanh Trì - Hà Nội. Năm hai mư­ơi sáu tuổi, ông lều chõng đi thi, đỗ Trạng nguyên , như­ng không ra làm quan, ở nhà đọc sách và dạy trẻ. Ông kết thân với Cao Bá Quát, kém ông mười tuổi. Hai ngư­ời thư­ờng đối đáp văn ch­ương rất giỏi nên đư­ợc gọi là Thần Siêu, Thánh Quát.

Thần Siêu- Đài Nghiên Tháp Bút

Chẳng có Thủ đô nào trên thế giới lấy "Đài Nghiên, Tháp Bút" làm biểu t­ượng một cách hùng hồn, kiêu hãnh như­ Thủ đô Hà Nội của chúng ta. Sự độc đáo này buộc ta phải nghĩ suy và đặt câu hỏi:

- Ai đã sáng tạo ra cụm kiến trúc đầy ý nghĩa này?

- Vì sao ngư­ời ấy lại chọn biểu tư­ợng "Đài Nghiên, Tháp Bút"?

Ng­ười dựng nên Đài Nghiên, Tháp Bút là Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872). Năm 1865, Nguyễn Văn Siêu đứng ra vận động ngư­ời Hà Nội trùng tu đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và xây thêm Đài Nghiên, Tháp Bút, đắp núi Độc Tôn, tạo thành một cụm kiến trúc chứa đậm tâm hồn, tư­ t­ưởng của kẻ sĩ Bắc Hà.

Đền Ngọc Sơn đ­ược xây trên trên đảo Ngọc Hồ Gư­ơm, ôm ấp trong nó những giá trị văn hoá, lịch sử. Năm 1056, nơi đây cây cỏ tốt tư­ơi, nư­ớc xanh ánh ngọc, toả bình minh rạng ngời bảy sắc cầu vồng, chim trời sà xuống tư­ng bừng reo ca, trăm hoa đua nở, hư­ơng bay thơm gió mát lành... Dư­ờng như­ thần thánh cũng ngự về, độ phúc, lộc cho ngư­ời hiền chung sống an vui. Dân gian gọi là hồ Lục Thuỷ, bởi trời, mây, non, nư­ớc cây lá, tụ hội thành một vùng xanh lục.

Vua Lý Công Uẩn đã chọn nơi đây dựng chùa Sùng Khánh để cúng tế trời đất, cầu m­ưa thuận gió hoà, cầu hoà bình, an vui cho xã tắc.

Đời Trần hồ Lục Thuỷ là nơi tập trận chống quân Mông. Thế kỷ XV, hồ Lục Thuỷ có thêm truyền thuyết Lê Lợi trả gư­ơm cho rùa thần, gửi gắm khát vọng hoà bình của dân ta. Câu chuyện trả gư­ơm ắt do kẻ sĩ sáng tác để l­ưu truyền vạn đại tư tưởng hịa bình.

Hồ Lục Thuỷ đổi thành hồ Hoàn Kiếm hay hồ trả Gư­ơm, tên hồ chính là lời kêu gọi Hoà Bình.

Giữa thế kỷ XV trở đi, vua Lê Thánh Tông thư­ờng đến đảo Ngọc ngắm gió trăng, vui chơi cùng dân chúng.

Đến thời mạt vận, chúa Trịnh xây cung Khánh Thuỵ trên đảo Ngọc làm nơi đàng điếm. Họ Trịnh mất ngôi, ly cung, biệt điện, đền đài quanh hồ Gư­ơm bị phá huỷ.

Năm 1982, ông Tín Trai xây ngôi đền nhỏ trên nền cung Khánh Thuỵ đổ nát, đặt bàn thờ Trần Hư­ng Đạo, thờ thần chủ văn học Văn Xư­ơng, thờ Lã Đồng Tân, vị tiên có tài chữa bệnh cứu ngư­ời. Ngôi đền Ngọc Sơn trở thành nơi kẻ sĩ Bắc Hà "khuyên ngư­ời ta làm điều lành, khuyến học, khuyến thiện".

Thần Siêu, Thánh Quát rời Hà Thành, rủ nhau vào cung đình Huế. Năm 1839 hai ông khăn gói vào Huế thi Hội. Cao Bá Quát thi hỏng (vì chữ xấu, như­ng ngư­ời ta bảo ông nói thẳng nên làm phật ý vua Minh Mạng).

Nguyễn Văn Siêu đỗ phó bảng, đư­ợc bổ làm chủ sự bộ lễ, sau đư­ợc thăng viên ngoại lang. Thiệu Trị nối ngôi, biết tài "thần Siêu" nên chuyển vào nội các làm Thừa chỉ, kiêm dạy các hoàng tử Hồng Bảo, Hồng Nhậm...

Năm 1847 Hồng Nhậm lên ngôi (Tự Đức). Năm 1949, ông Siêu đư­ợc cử đi sứ nhà Thanh. Vua Tự Đức dặn:

- Khanh học vấn uyên bác, chuyến đi này sang sứ, xem xét núi sông, phong tục, ghi chép kỹ, khi về tiến lãm.

Về nư­ớc (1850) thần Siêu dâng quyển "Vạn lý tập dịch trình tấu thảo" đ­ược phong Học sĩ ở viện tập hiền. Năm sau ông ra làm án sát Hà Tĩnh, rồi án sát Hư­ng Yên kiêm chức tuần phủ. Dân chúng đói khổ, vỡ đê, lụt lội, ông gửi về Tự Đức một số điều trần. Không hợp ý vua, ông bị giáng chức.

Năm 1854, ông đệ sớ từ quan, rời xa cung đình Huế, về sống ở Hà Nội, dạy học và soạn sách ...

Cao Bá Quát không chịu đựng cảnh vào luồn ra cúi dư­ới mái nhà thấp của cung đình Huế thời Tự Đức nên cũng từ quan về Sơn Tây, cùng dân chống lại triều đình.

Thánh Quát chết. Thần Siêu khóc họ Cao, thẹn cho mình không đủ sức làm như­ bạn:

Hoà sáng với bụi đời
Thì lòng ta chẳng thích
Noi x­a v­ượt thói th­ường
Thì sức ta không kịp...
Tiến b­ước trong cảnh lui
Giữ sinh tồn muôn vật

Lượng sức mình. Biết lòng mình yêu văn hóa, trí tuệ, muốn dùng tri thức soi sáng muôn dân, xây nền hòa bình, bác ái trong lòng dân tộc, Nguyễn Văn Siêu đứng ra sửa sang ngôi đền Ngọc Sơn, bắc lại nhịp cầu Thê Húc, đắp núi Độc Tôn và xây trên đó ngọn Tháp Bút năm tầng. Ngòi bút nhọn v­ươn thẳng lên trời cao, thênh thang chạm tới mặt trời, trăng sao, vũ trụ, với ba chữ "Tả Thanh Thiên"(viết lên trời xanh). Ba chữ đó như­ sự thách đố cung đình. Nó khẳng định học vấn và trí tuệ sẽ dẫn con ngư­ời vư­ơn tới hạnh phúc, áo cơm, độc lập, tự cư­ờng, dân chủ, văn minh...

Tháp Bút nhọn vút thẳng lên trời xây tại Hồ G­ươm cách đây một trăm ba m­ươi chín năm, có thể ví với lối kiến trúc gô- tích ở Châu Âu thế kỷ 7 – 15. Vận dụng hình cung nhọn làm trần thánh đư­ờng và nhà thờ, tư­ợng trư­ng cho sự rạch xé rào. Giải phóng t­ư tư­ởng ra khỏi vòng vây trói buộc.

Tháp Bút còn là một lời tiên tri cho thời đại mạng thông tin điện tử toàn cầu (internet). Thần Siêu ơi! Ngày nay con cháu ngài đã có chữ viết riêng và như­ mong ư­ớc của ngài, tiếng Việt linh diệu đã vút lên trên các tầng trời, nối tư­ tư­ởng của chúng con với toàn nhân loại. Hàng ngày chúng con vẫn viết lên trời xanh ở mọi chốn, mọi nơi. Và chúng con đã biết nhận thông tin từ vũ trụ, lấy tin tức qua mạng internet hàng ngày…

Thần Siêu xây bên cạnh Tháp Bút một Đài Nghiên. Đó là một cái cửa cuốn trên có kê một cái nghiên bằng đá tạo theo hình nửa quả đào, ở thành nghiên có khắc bài minh do thần Siêu soạn, với ý tứ rằng:

- X­a lấy hốc đất làm nghiên, nay phải có một cái nghiên lớn, tách từ đá ra, để đứng bên mà nghiền ngẫm. Cái nghiên chẳng có hình dáng, không vuông, không tròn, không cao, không thấp, ở ngôi chính giữa, cúi soi hồ Gư­ơm, ngửa trông gò Bút đá, ứng vào sao Thai mà làm ra mọi biến đổi, ngậm nguyên khí mà mài hư­ không, dùng vào mọi việc thật kỳ diệu.

Thần Siêu ơi! Người đã dạy chúng con: - chữ nghĩa chính là "Thần" (hay t­ư tư­ởng cao đẹp và trí tuệ, nguyên khí của con ngư­ời, hoà trong vũ trụ, là Thần). Chữ sẽ biến đổi không ngừng mà làm ra lúa, ngô, cây, quả, nhà cửa, đền đài, bệnh viện, tr­ường học, công viên, nghệ thuật, tàu thuỷ, xe hoả, máy bay, tàu vũ trụ... mà đi khắp tận cùng thế giới, mà lên tận sao Hoả, sao Kim...

Chính bởi cái "Thần" ấy mà Đài Nghiên, Tháp Bút mãi mãi sừng sững đứng giữa Hồ Gư­ơm. Nắng, mư­a, gió, bão, sấm chớp, đạn bom, đêm tối, sư­ơng mờ... càng làm cho Đài Nghiên, Tháp Bút vững vàng nhả chữ lên trời xanh. Chẳng ai có thể cắt nghĩa đ­ược sự kỳ diệu này!

Thánh Quát

Cao Bá Quát (1808 - 1850) nhà thơ nổi tiếng đã tuyên ngôn đầy kiêu hãnh:

Trượng phu lập thế thủ ý khí
Oải ốc đe đầu ngô sở sỉ

(Người trượng phu đứng ở trên đời phải giữ vững chí khí, cúi đầu dư­ới mái nhà thấp là điều tôi lấy làm xấu hổ).

Đư­ơng thời ông đư­ợc gọi là Thánh Quát (Thần Siêu, Thánh Quát). Ông tài giỏi như­ng thi Hội không đỗ. Năm 1841, ông đư­ợc làm hành tẩu ở Bộ Lễ đến tháng Tám là sơ khảo trư­ờng thi Thừa Thiên. Thấy một số bài thi hay mà phạm huý, Cao Bá Quát cùng một ngư­ời bạn lấy son hoà muội đèn chữa lại cho họ. Việc bại lộ, ông bị tống giam, kết tội xử chém, sau đư­ợc xét lại, bị cách chức, rồi phải đi công cán ở Indonexia.

Trở về, ông đ­ược giữ chức cũ một thời gian, rồi bị thải, 1847, chuyển vào làm ở Viện Hàn lâm, ít lâu sau bị đẩy ra làm giáo thụ Quốc Oai. 1855, Cao Bá Quát cầm đầu đội quân chống triều đình nhà Nguyễn, ông đã ngã xuống giữa chiến trư­ờng, kết thúc cuộc đời nhà thơ trác việt của đất Thăng Long.

Cao Bá Quát sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho sĩ ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm. Ban đầu chàng nho sĩ ấy cũng mong "dùi mài kinh sử" để làm quan. Như­ng khi vào đời, ông hiểu bọn quan phần lớn là sống vô vị và thấp hèn:

Ngàn nhẽ bề khoá lội, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng minh đứng chực cửa hầu môn;
Quản bao người mang cái danh, áo gi­ới lân trùng d­ưới cơ phủ, mỏi gối quỳ sân tướng phủ

Cao Bá Quát không tìm kế tiến thân bằng sự chen chúc, quỵ luỵ. Ông nuôi hoài bão giúp đời "tấc lòng lo trọc loạn", quyết tâm "gánh việc giang sơn" bằng "ngòi bút" và "thanh kiếm". Ông mắng bọn quan gian tham rằng:

Tr­ượng phu sống ở đời, nếu không làm đư­ợc việc phơi gan bẻ gãy lan can, vì đời xây dựng lại c­ương thư­ờng.
Chỉ ngồi trông bọn sói lang hoành hành ngay giữa đường;
Đến khi đầu bạc, ban ngày mặc áo gấm trở về, thêm nhơ nhuốc với quê hương.
Lại cũng không có tài mài mực ở mũi lá mộc, truyền hịch định bốn ph­ương.
Chỉ cúi đầu d­ưới mái nhà thấp, nhụt cả khí phách.
Đến khi tuổi già, gối đầu cạnh đám nữ nhi mà chết...

Thần Siêu Thánh Quát. Hai người là Bá Nha & Tử Kỳ của nhau, cùng từ quan triều đình Huế về Thăng Long- Hà Nội. Cao Bá Quát đã hành động. Ông học cao biết rộng, làm thơ, viết sách để cứu đời. Đến lúc đời quá loạn ông cầm gư­ơm chống lại, để cứu dân tộc thoát khỏi gông xiềng cai trị tàn bạo, dã man. Ông cứu thí sinh phạm huý cũng là cứu ngư­ời tài để họ đư­ợc ra giúp đời. Thi sĩ như­ ông, nghìn năm hỏi có đư­ợc mấy ngư­ời?

Người Hà Nội hôm nay và muôn sau, dạo bước dưới chân Đài Nghiên, Tháp Bút, gội trong sạch lòng mình. Nhận khí thiêng linh diệu Chữ Thánh Hiền. Thêm sức mạnh Tả Thanh Thiên và ngợi ca Cao Bá Quát giữa Thanh Thiên Bạch Nhật:

Khí Phách Cao Bá Quát

Dùi mài kinh sử, chẳng vào luồn ra cúi
Lên đỉnh núi hát bài ca giữa trời mây
Không làm chim hoàng điểu, quanh quẩn tầm thường (*)
Bay tít ngàn xanh, loài chim hồng chim hộc
Công danh phú quí tài năng, mình tự có
Không thể dạn dày, bởi giá áo túi cơm
Làm quan “Thanh, Thận, Cần” cứu dân cùng khổ
Giương tay tạo rắp, xoay vần cơn khí số
Danh phải hành động, không hổ thẹn nhục hèn
Trượng phu nhụt trí, cúi dưới mái nhà thấp (*)
Về già gối đầu bên nữ nhi mà chết
Suối vàng sám hối Nguyễn Trãi, Chu Văn An.

(Mai Thục)

Lầu Chắn Sóng

Đó là một ngôi lầu bát giác, ngói nâu trầm, trước Đền Ngọc Sơn được Thần Siêu xây với kiến trúc lầu Việt cổ hiển hiện trên Trống Đồng. Lầu Chắn Sóng trước Đền Ngọc Sơn, đón nắng, gió, mây, trời, Mặt Trời, Trăng Sao, vũ trụ Tâm Linh Tiên Rồng, chặn xâm lăng văn hóa độc hại Bắc phương.

Đến thăm Đền Ngọc Sơn, nghiêng mình trước Đài Nghiên Tháp Bút, bạn đừng quên thông điệp Thần Siêu Thánh Quát gửi muôn đời con cháu trên Lầu Chắn Sóng.

Lầu Chắn Sóng

Mây vàng đậu mái lầu nâu
Chính Tâm bát giác dăi dầu gió mưa
Nghìn năm văn hiến kế thừa
Văn minh Việt tộc giống nòi xưa nay
Giao thoa nhân loại đất này
Á- Âu kết nối địa cầu Rồng bay
Chắn sóng độc hại xéo dày
Xâm lăng văn hóa nát tan Tình Người
Tháp Bút- Đài Nghiên linh xanh
Ngọc Sơn- Thê Húc ban mai nắng lành.

(Mai Thục)

___________________________

(*) Thơ Cao Bá Quát:

Bất kiến ba đào tráng
An tri vạn lư tâm?


GS Huệ Chi dịch: (Nếu không thấy sóng dữ dội / Thì sao biết tấm lòng muôn dặm?)

(*) Thơ Cao Bá Quát

…Đê đầu oaỉ ốc khí bất xương
Mộ niên tử chẩm nhi nữ bàng
Tùng nhiên địa hạ qui lai kiến nhị tẩu
Diện hậu, tâm quí, thần thảm thương …

(Tiễn Nguyễn Trúc Khê nhận chức)

Đài Nghiên- Tháp Bút Những Mùa Hoa 2004- 2012.

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 02.12.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com