Văn Hóa Hán Trung Hoa



VŨ HỮU TRÁC



(Viết từ cuộc nói chuyện về Trung Quốc với nhà văn Trần Đình Hiến
và nhà văn Hà Phạm Phú do nhà văn Nguyễn Xuân Hưng thực hiện).

Hàng ngàn năm nay ở Trung Quốc đa số trí thức trong xã hội Trung quốc luôn có tình thế từ thấp đến cao gắn chặt quyền lợi mình vào chính quyền. Họ được hưởng lợi từ chính quyền đầy thủ đoạn chính trị. Ngược lại chính quyền nhuộm trí thức theo hình mẫu “Quân tử” bằng các chuẩn mực “Nho giáo”. Đặc biệt dân Hán nắm lấy Nho giáo như một thứ triết học làm kế sách trị quốc, từ đó biến thành các quy tắc tuyển dụng trí thức, biến đổi trí thức thành sản phẩm “Hán hóa”. Do được hưởng lợi từ chính quyền, tri thức chạy theo, xu nịnh chính quyền được thành những ông quan có Nho học phục vụ tận tâm và bám chặt vào chính quyền, tôn thờ đạo “Vua tôi”.

Trong khi phương Đông , do sống trong môi trường sản xuất nông nghiệp thuận lợi trở thành thói quen trồng trọt trên đất, dựa hẳn vào thiên nhiên có những phát minh phù hợp lối sống trồng cấy. Môi trường xã hội lao động tạo tỷ lệ ứng dụng công nghiệp, tư duy có độ sâu sắc về khoa học ít, nên dễ tạo nên môi trường tuân thủ kẻ nắm chặt các tập tục để thúc đẩy nâng cao lên tạo thành một loại “đế chế quốc” phong kiến rộng lớn mà phía châu Âu không hề có. Một mặt môi trường sản xuất nông nghiệp ở châu Âu thì ngược lại, không thuận lợi do đất đai khó khăn trồng cấy, nên kém phát triển hơn công nghiệp, buổi đầu dễ hình thành tiểu thủ công chốn đô thị. Người ta nói châu Âu do có môi trường sống khác, hình thành phong cách sống có tỷ lệ tư duy từ nghiên cứu cao, có những phát minh mang tính kỹ thuật tồn tại ở các mức độ khác nhau, nhiều hơn so với châu Á.

Những phát minh của cuộc cách mạng Công nghiệp ở Anh dẫn tới ba lần cách mạng Tư sản Pháp và sau một thời gian là cách mạng Dân chủ ở 13 bang Bắc Mỹ chống lại người Anh dẫn tới thành công dành được độc lập. Trong khi Pháp trở thành những nước thực dân dần xóa bỏ vương triều, rồi Mỹ và Anh trở nên nước hùng mạnh do một phần bởi tính ứng dụng nổi trội, hình thành xã hội có nền công nghệ mới có độ khoa học sâu sắc chiếm tỷ trọng cao, khi đó châu Âu nói chung bị chia nhỏ kể cả như Đức có tới 39 các tiểu vương quốc chỉ bé bằng một một tỉnh hay một bang nên hạn chế sức tìm tòi, sức cạnh tranh thúc đẩy sản xuất bị chậm hơn. Châu Á chỉ một quốc gia là Nhật Bản từ trước thời Minh Trị đi theo chiều hướng mô hình xã hội Châu Âu dưới các địa phương tự trị kiểu Samurai.

Xã hội tồn tại và phát triển dù phương Đông hay phương Tây dù có lịch sử phát triển khác nhau về hình thái xây dựng, đều cần có tư duy triết học duy lý về xã hội. Đơn cử gần đây, Trung Quốc có xu hướng bỏ Mác xít và Mao ít, mà chỉ nêu đường lối Đặng Tiểu Bình. Người Trung Quốc đã một thời độc tôn một ông vua cộng sản, là một ông Mao như một vị hoàng đế. Tuy nhiên hơi hướng của Mao vẫn lẩn quất, Đặng Tiểu Bình nói “Mao 7 đúng 3 sai”. Nay Đại hội đang CS lần thứ 18 vừa rồi nêu rõ mục đích chỉ chọn theo con đường chủ nghĩa xã hội “đặc sắc Trung Quốc”. không còn nhắc đến chủ nghĩa Mác-Lê nin nữa.

Trong khi lý luận về Ý thức của con người, ứng dụng trong Triết học vận dụng trong cách điều hành xã hội, cùng lúc ở phương Tây phát triển mô hình xây dựng cộng đồng trong nền Dân chủ, có Cộng hòa, thì phía phương Đông đặc biệt Trung quốc chuyển hóa triết học chính vị, biến “Nho học” được Khổng tử đúc kết từ các sản phẩm lý luận phong kiến Trung Hoa thành một triết học xây dựng xã hội đại diện tiêu biểu phương Đông là Trung Hoa. Xây dựng thành mô hình sao lại theo mẫu hệ thống thần kinh con người từ trung ương đến địa phương. Các hệ thống khác cũng căn cứ theo kiểu tư duy này, kể cả hệ thống Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp, sử dụng quân đội hay an ninh.

Không một nước nào có tầng lớp trí thức như ở Trung Hoa, có một lịch sử truyền thống đặc biệt gắn bó với giai cấp thống trị bằng một loại nghề, đó là nghề mưu sỹ hay gọi là quân sư.

Xã hội Trung Quốc rất đặc biệt vì có tầng lớp mưu sỹ này. Thuở xa xưa, thời Xuân Thu là những thuyết khách như Tô Tần, Trương Nghi. Sau đó Khổng tử là một trí thức bôn ba, vẫn tìm cách tiếp cận với chính quyền, để làm sao có được điều kiện thực thi được cái đạo Nho của mình.

Tầng lớp này trong một xã hội phong kiến vốn tôn ti trật tự, những người như Tô Tần, Trương Nghi, đến Khổng tử được quảng bá là những “Túi khôn” . Họ làm cho người cầm quyền nghe dùng mưu của họ mà chỉ dùng đến ba tấc lưỡi, họ thi hành cái “đạo” của họ thông qua quyền lực của chính quyền. Họ là quân sư được hưởng bổng lộc cao hơn hẳn trí thức khác.

Lịch sử Trung Quốc, khi trị quốc, bình thiên hạ các vị quân vương cần có triết lý triết học, bao giờ cũng dùng quân sư. Tào phủ của Tào Tháo đầy chặt quân sư như Tuân Úc, Tuân Du cho đến Tư Mã Ý. Tào tháo được coi là dùng binh như thần bởi theo cách riêng của mình, chỉ chắt lọc mưu trong một đống mưu sỹ mà không lệ thuộc dùng mẹo của một ai. Ngược lại Khổng Minh- Phục Long là một trường hợp tiêu biểu được quảng bá điển hình, Lưu Bị phải ba lần nhún mình mới mời được Khổng Minh ra làm quân sư. Sau còn có Phụng Sồ - Từ Thứ mà nếu ai có được cặp đôi Phục Long và Phụng sồ thì chắc chắn bình được thiên hạ. Lưu Bị hoàn toàn dựa vào Khổng minh bày mưu. Khi làm quân sư thì Khổng Minh rất sáng láng, nhưng đến khi làm Thừa tướng trực tiếp cầm quyền, thì hầu như kế sách của ông ta bị Tư Mã Ý (cũng là quân sư tham chính) đều “bắt bài” phá được, bởi ông là một trí thức mưu sỹ.

Lợi dụng triệt để điều này, giai cấp thống trị tiến hành khoa cử, tuyển lựa trí thức ra làm quan. Cao cấp là kẻ thi đỗ cao là lớp quân sư, đỗ thấp thì ra làm quan đến huyện lỵ. Bởi vậy quan lại bậc cao thì thế tập, cố vươn lên đứng dưới một người, ở trên vạn người, mới thỏa thích. Con đường hành đạo của họ là theo hình mẫu “Quân tử”, phấn đấu “Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ”. một bộ phận nhỏ được chính quyền tuyên dương, làm mẫu như nghề quân sư. Vì vậy phần lớn trí thức nhỏ hơn luôn khao khát là một bộ phận , luôn trung thành, không phản kháng của chính quyền, bởi họ là một phần chính quyền, được hưởng lợi lộc từ chính quyền.

Trí thức đã chui vào chính quyền để làm quan, tuân theo khuôn mẫu Nho giáo, nên không chỉ theo vua, theo con vua, cháu chúa. Suốt đời tìm cách ca ngợi Vua Chúa, con vua, cháu Chúa, thậm chí còn truyền tụng cho con cháu mình để ca ngợi mãi về sau.

Ngược lại Trung quốc đã nhiều lần chứng minh sự tiêu trừ trí thức, như khi vừa thống nhất toàn Trung quốc lần đầu tiên, đời Tần đã ngay lập tức đốt sách giết học trò, cấm tụ tập, cùng với cấm mỗi gia đình dùng riêng dao. Thiên An Môn 1989 chủ yếu là sinh viên biểu tình chống bất công quyền nhà nước sử dụng đất đai, chiếm quảng trường đã bị đàn áp bằng súng máy và đè nát bằng xe tăng, xe bọc thép bánh xích.

Tuy nhiên cũng có một số ít tình huống muốn giữ nhân cách, nếu dùng sức mạnh của học vấn để chống lại, hay đơn giản là phản biện chính quyền thì trí thức chống đối sẽ bị giết trước tiên. Hoặc là họ phải phải về quê ở ẩn, hoặc lặng im ngậm hột thị không phản biện gì. Khi kê trí thức đã bị thất sủng về quê chọn cách gõ đầu trẻ hay làm thuốc trị bệnh, cứu người giữ danh, nếu không muốn bị ngay lập tức là đối tượng triệt hạ của lịch sử.

Trí thức dạng thông thường, không len chân vào chính quyền được, dù có được học hành bằng Nho học, lấy “Tứ thư, Ngũ kinh” làm nền học vấn mà không đỗ đạt, nếu không muốn chết yểu trong nghèo đói hay không được lòng nhà cầm quyền, thì ngoài chuyện chữa thuốc, dạy học, viết văn thơ, không mấy có ảnh hưởng trong đời sống xã hội.

Có thể coi “Nho học”, nghĩa gốc của từ “Nho” trong tiếng Hán là “Sách” viết theo chữ Hán. Người Việt không gọi các chữ trong đó là chữ Hán như tên vốn có của nó mà lại gọi là chữ Nho và “Nho giáo” là để chỉ lối học hành bằng chữ tiếng Hán, những người có học thức “Nho sĩ” là người đọc sách Nho, cũng như người học nhữ Hán là “Nho sinh”, “Nho gia”.

Trong khi Âu châu, vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, có Socrates thì Trung Quốc có Khổng Tử. Cả hai nhà triết học này đều suy tư về mối quan hệ phái đạo giữa con người và quốc gia. Khổng Tử đã tiếp thu và phát triển triết lý của Chu Công nước Trung Hoa cổ đại cách nay 3.000 năm là người đặt ra triết lý về “Thiên tử hòa hợp với đạo Trời”. Chu Công là một nhân vật lịch sử đã giúp vương huynh của ông ta lật đổ một nhà nước suy tàn, sáng lập nên nhà Chu vào thế kỷ 11 trước Công nguyên. Khổng Tử cũng thường nói: “Chu Công là thầy ta. Chính ngài đã lập ra các định chế cho nền tảng văn hóa Trung Nguyên”. Chính bản thân Khổng Tử đã viết cách nay 2.500 năm. “Chu Công trị nước bằng đức độ của mình có thể ví như Bắc Đẩu tinh lúc nào cũng đứng yên một chỗ để những tinh tú khác hướng về”. Khác với triết lý Socrates triết lý của Chu Công “Thiên tử hòa hợp với đạo Trời” tuy ngày nay cũng giúp lấp lỗ hổng lý luận về đường lối ở Trung Quốc mà Mao Trạch Đông để lại.

Do đặc tính chữ Hán, mà người Trung Quốc rất giỏi đúc kết các châm ngôn bằng từ gợi tả rất ít dễ nhớ dễ thuộc. Khổng tử truyền bá Nho học, dùng những câu rời rạc, mà rất gợi tả bằng một số ít các từ kiểu Quân tử thì có “Tam cương, Ngũ thường”, dạy dỗ Phụ nữ thì có “Tam tòng, Tứ đức”. Đạo của loại này thực chất là “Quân tử”, coi mục đích làm quan là trọng, là con đường vinh dự, nhưng để đạt đến mức được hưởng lạc thú của ông quan thì còn xa vời. những kẻ có tầm thấp dù có noi theo hình ảnh lý tưởng ấy, chỉ có thể mon men đến chỗ gần các quan chỉ mong mỏi được đứng bên cạnh được nhà cầm quyền, được để mắt tới và luôn vung chân múa tay muốn được thi hành Tu, Tề, Trị, Bình.

Tu, Tề, Trị, Bình cũng là cách để đạt tới cái khoái, cái sướng cá nhân khi “Quân tử” được phủ định người khác. Vẫn biết nếu không có tầng lớp dân đen lúc nhúc ở bên dưới, thì không thể thực hiện được. Tu, Tề, Trị, Bình không bao giờ là để hành sử với bề trên. Trong khi phụ nữ là kẻ giữ giống dòng gia tộc phải luôn học theo cách dạy của Nho “Tại gia tòng Phụ”, “Tề gia, nội trợ”. Việc “Quân tử” chỉ ít dùng Tu, Tề, Trị, Bình khi muốn cân bằng âm dương, có nhiều vợ, nhưng “Quân tử” vẫn khinh thường đàn bà “Quân tử thực bất cầu bão”. Nho giáo hình thành nền tảng tri thức còn có quan hệ mật thiết với tư tưởng Đại Hán.

Nho giáo Trung Hoa, đi liền với tư tưởng Đại Hán, góp phần quan trọng cho việc hình thành nền văn hóa Hán. những kẻ luôn được truyền tụng vì có nguyện vọng hữu cơ gắn với chính quyền, nếu có thể làm đến quan, thì phải theo phục vụ triều đình luôn đối xử với dân chúng như kẻ thảo dân, cây cỏ. Thực chất Trung Quốc hàng ngàn năm chứng minh không có tầng lớp trí thức trong dân chúng, nếu có cố gắng dân chúng cũng chỉ đạt đến “Hảo hán”, chỉ mang tư tưởng Đại Hán là người “Hảo hán”, “Hán tốt”, theo tư tưởng Nho giáo. Họ được dạy tuân thủ nền nếp áp đặt từ triều đình, tôn thờ vua quan, bằng lòng với thân phận tôi đòi, không được chống đối chính quyền.

Điều lạ là khi văn hóa Hán làm nền tảng tư tưởng của Nho giáo, nó rất dễ lây, dễ lan truyền. Trước hết Nho giáo đã rất hấp dẫn tầng lớp cầm quyền, thường là tộc người Hán cai trị. Dù là thuộc tộc người nào cũng khó bảo, khó cai trị do đặc tính thông thường của con người là dễ làm những điều buông thả, ham thực hiện dục vọng cá nhân hơn là mất công làm điều nhân nghĩa Nhà cầm quyền sử dụng Nho giáo như một sự kết hợp với dạy dỗ để rèn dũa cộng đồng xã hội. bởi thực chất nó hướng con người, khuyến khích vào dục vọng là ham quyền, cho dù nhỏ nhoi.

Trong sử sách Trung Quốc, người Trung Quốc cũng công nhận, chỉ có Lưu Bang và Chu Nguyên Chương là các vua là dân gốc Hán. Có cả tự nhận là gốc Hán như họ Triệu lập nên nhà Tống thực ra có nguồn gốc là dân du mục. Hùng mạnh như Kim Quốc, Nữ Chân hay Nguyên Mông, Mãn Thanh, dù đã nô dịch người Hán thì con cháu họ sau cũng thành Đại Hán tất. Lạ thay, cuộc “Hán hóa” thời Tống nảy nòi ra Chu Hy, người đã nâng Nho giáo lên đỉnh cao. “Tống Nho” trở thành một hòn đá tảng học thuật Nho giáo cổ như một Tôn giáo, thành Đạo Nho tỏa bóng lên xã hội và con người Trung Quốc, vượt lên trên tất cả để biến tất tật thành lý luận Đaị Hán gian.

Dù cho ai đó có kêu gào “phê Nho” thế nào, thì một di sản ngàn năm như Nho giáo Trung Hoa, nó vẫn còn rợp bóng lên Trung quốc hiện tại. Có cái đạo nào hướng đến sự hưởng lạc hơn đạo Nho. Đó là một thứ đạo nâng dối trá đến mức nghệ thuật hơn là Đạo Nho mà lại giấu kỹ thực chất hèn hạ ấy của con người. Hấp thụ Nho giáo bằng đạt đến nhu cầu tối thượng là cá nhân phải có quyền, có thế lực, nhất là có thể nô dịch người khác. Trung Quốc nay đang tìm cách xuất khẩu Nho giáo sang Mỹ. Hiện tại như Mỹ được phần cộng đồng người Mỹ gốc Hoa và các tộc người đến từ Trung đông thích quyền lực tin theo, Nho giáo muốn truyền vào đâu được thường phải kèm theo các sách “Thánh hiền” khiến nước Mỹ phải cấm nhập những “thày” dạy.

Không mấy người biết Trung Quốc hiện nay có phương châm “8 chữ” là “Nam dụ, Bắc bình, Đông lấn, Tây an”.

“Nam dụ”, dụ dỗ các nước phương Nam, trong đó có khối Asean, có các nước đang phát triển trong đối thoại Nam-Nam. Lúc thì dụ Lào, lúc thì Căm pu Chia, Việt Nam vừa là khu vực “Nam dụ” vừa là “Đông lấn”.

“Đông lấn” là lấn ra chiếm biển Đông, chèn ép Đài Loan, lấn ra đảo Nhật Bản. “Bắc bình” phía Bắc bình ổn với Nga. và bình với Mông Cổ đang là đối trọng với Mỹ. “Tây an” ở phía Tây tăng cường giữ an ninh Tây Tạng, yên ổn với phương Tây tư bản khi chưa thể đối đầu.

Tám chữ ấy hoàn toàn không ngoài tư tưởng Đại Hán, chưa ra ngoài Đạo Nho truyền thống. Tuy nay có khéo hơn, nhưng người Trung Quốc vẫn nhìn thế giới với bản chất không thay đổi như thế.

Bây giờ dù là một Trung Quốc khác không phong kiến kiểu cũ, nhưng khi nhìn kỹ thì vẫn là hậu hệ Nho của Hảo hán, thực ra “nó” vẫn là “nó” là phong kiến cải tiến. Văn hóa Hán coi Trung Quốc ở chính giữa thế giới. Ngày xưa nước “ở giữa” gọi dân phía Nam là Nam-man, Tây-nhung (mọi), Đông-di, Bắc-địch (rợ). Những dân tộc trong cùng nước là Nguyên Mông, Mãn Thanh, Khiết Đan… tất cả dù đã có lần chiến thắng người Hán, nhưng nếu đã nhồi cho học Nho, hấp thụ Nho giáo thì rồi cũng vô tình biến thành Hán cả. Đạo Nho đúng là nó tự chạy, không cần cài đặt, nó tự hấp dẫn con người và lừa dối con người. Nghiên cứu Nho giáo là phải phân hóa tư tưởng Khổng tử thành từng phần để học, trong khi bây giờ úp mở để kèm theo với việc xuất khẩu tư tưởng Đại Hán một cách tinh vi. Khi đã cùng hệ tư tưởng với nhau thì quên dân tộc, chỉ thấy đâu cũng là Nho, cũng Trung Nguyên mà không thấy Nho chính là Đại Hán.




© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật ngày 01.12.2012 theo nguyên bản của tác giả gửi từ Hà Nội .
XIN VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM KHI ĐĂNG TẢI LẠI