TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).







 






Hà Nội 40 Năm xa - tranh bìa của hoạ sĩ Đằng Giao








HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA

Tặng họa sĩ Phan Diên
T.P




... Có một Hà nội làng hoa Ngọc Hà em đứng đó
Chầm chậm trở về trong mỗi giấc mơ
Chầm chậm đến với những câu thơ
Chầm chậm đời mình cho ngày xuân tới
Và anh
Tình yêu Hà Nội lại theo về...

THÁI THĂNG LONG
(Chiều Phủ Tây Hồ, 1993)



CHƯƠNG 4
... tiếp theo

Ngày 4 tháng 10 năm 1995.




Sáng nay được rảnh rang đến chín giờ ba mươi, tôi dạo quanh Hồ Tây và nhân thể nhận tấm ảnh chụp ở chùa Trấn Quốc hôm nọ. Và cũng là đến thăm lại cảnh xưa, chốn cũ, nơi xưa kia tôi đến với sách vở học hành, còn là nơi hò hẹn với Oanh, nhà ở Đội Cấn đến đây cũng không xa mấy. Khi đó tôi sống nhờ nhà cô ruột, tính tình bà rất khó và sân sau chùa còn là nơi dung nạp mối tình êm ái tuổi học trò. Không còn nhớ rõ lắm, hình như Kiều, cũng từng đeo đuổi Oanh đen, cô rất giỏi pháp văn, nếu so với tôi, thì kẻ này tám lạng, người kia cũng xấp xỉ nửa cân.

Tối đầu tiên đến Hà Nội, Kiều chở tôi qua phố Đội Cấn, lấy tay chỉ khoảng này nhà Oanh đen đấy mày còn nhớ không?. Nhìn vào căn nhà cửa đóng vẫn chẳng có gì thay đổi lòng da diết buồn! Bao nhiêu lần Oanh đen ngồi học cùng tôi, đứa này hỏi, đứa kia trả lời, quấn quít bên nhau đến nỗi thời gian trôi đi quá nhanh, mới sáng mai sao đã sương chiều? Chùa có tu sửa lại cũng là lẽ đương nhiên, ngay con đường dẫn vào cổng, hai bên đều xây ốp kè đá moëllon trồng hai hàng cau rừng thẳng tắp mướt xanh, càng tăng vẻ đẹp thơ mộng. Sư cụ chủ trì cũng hiển nhiên không là nhà sư trước kia mà tôi quen biết, nhưng mới đây đã được nghe thầy ngâm thơ của mình trên màn ảnh nhỏ truyền hình. Nhà sư tiền nhiệm trụ trì đã di cư vào Nam ngay đợt đầu, xây ngay một ngôi chùa mới mang tên Trấn Quốc trên đường Minh Mạng,() và đôi lần, tôi găp thầy và thầy Thích Tâm Châu đến thăm chủ soái Hàn Thuyên nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh.
Nhớ chiều qua gặp giáo sư Hoàng Như Mai, ông tâm sự: Thầy Quỳnh không chỉ là thầy dạy ở Louis Pasteur, còn là thần tượng của tôi.
Ta nên in chung một cuốn, anh nói về thầy Quỳnh từ sau 1945, còn tôi sẽ nói trước 45, bộ truyện Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình hay lắm chứ ! Rất nên tái bản, thật hữu ích!
Còn Lý Lan trách khéo, ý là sau buổi họp, lại không tìm thấy tôi. Có gì đâu, cứ chở cô phía sau xe đạp trên yên xe của em bé ấy. Trả lời, quả là tôi có ý trốn thật. Kim Cúc có nụ cười hóm hỉnh, thêm khoé mắt nhìn cùng lời nói bông phèng vun vào rất độc. Lý Lan còn nói thêm, chở nhau trên xe đạp rồi chụp chung ảnh lưu niệm cũng thú vị đấy.! Vài chục năm sau giở ra, ối chao hai mươi bốn năm xưa một đêm: không gió cũng không mưa;() lúc đó thành bà nội, bà ngoại rồi còn gì.? Với tôi là lần đầu mới tái hồi, còn quí vị ra Hà Nội họp hành hàng năm. Lý Lan tiếc mãi, buổi sáng nay không cùng tôi thăm chùa Trấn Quốc thật tiếc và nhất định phải có một lần đến thăm ngôi chùa vào loại cổ nhất, xây dựng từ thời Lý Nam Đế và mỗi đứa một chiếc kem que vừa mút vừa ngâm nga: Mình ơi có đi bờ hồ/ Cùng ta chén kem kẹo dừa.

Nhìn đồng hồ, đã đến giờ sang thăm NXB Văn học và tham dự buổi giới thiệu sách Port Sudan của Oivier Rolin, qua bản việt ngữ mới xin xong. Tôi vẫn là người đến sớm nhất, khách chưa thấy ai, gặp giám đốc Lữ Huy Nguyên đang trò chuyện với Vân Long.
Gặp dịp, tôi nhắc cuối năm chín tư, Trần Nhật Thu cho biết, là anh điện thoại báo sẽ gửi giấy phép tái bản tập thơ Nếu anh có em là vợ, đến nay một năm trôi qua, chưa thấy gì, anh coi lại xem sao? Anh Nguyên rất tận tình, mở tủ tìm tập vở ghi chép ngày, tháng nhận bản thảo, rồi quay lại hỏi tôi đưa bản thảo vào tháng mấy? Nhớ mài mại vào tháng mười một chín tư; thế là anh lật qua từng tháng, năm, 1994, 1995. Và anh hẹn:
Đúng 10 giờ đêm 5 tháng 10, anh gọi điện thoại lại nhà tôi, sẽ có câu trả lời ngay.Tôi cầm bút ghi số điện thoại nhà riêng và đúng lúc này nữ thông dịch Nguyệt cùng đi với Lacombe tới nơi. Dịch giả truyện Port Sudan còn trẻ, ấn tượng là bộ râu quai nón rất nam tính, trao đổi về lối viết tiểu thuyết của Rolin rất khác lạ: truyện xuyên suốt từ đầu trang đến cuối không có lời đối thoại. Không phải chỉ riêng cuốn này mỏng thôi, chỉ hai trăm trang, còn các cuốn khác cũng như vậy cả, không lời đối thoại, dịch giả nhấn mạnh. Oivier Rolin ký tên vào một số bản tiếng việt và trao cho nhà xuất bản, rồi bắt tay Phương Quỳnh mới tới, cặp kè bên cạnh Cao Xuân Hạo. Phương Quỳnh quay lại kể chuyện Ý Nhi ở Paris, gọi viễn liên thăm đoàn nhà văn thành phố ra Hà Nội, cũng gửi lời thăm tôi. Ý Nhi nói vắn tắt thôi, viễn liên Paris- Hà Nội gọi lâu tốn rất nhiều tiền. Còn cho biết thêm, Robert Lacombe hỏi ý kiến Phương Quỳnh danh sách đại biểu tham dự hội sách lần này riêng với anh, em ủng hộ hết mình. Tôi cảm ơn thật lòng không xã giao.
Nhớ lại, vài năm trước gặp Quỳnh ở nhà Ý Nhi, từ đấy chúng tôi quen biết nhau; lúc đó có cả Tô Thùy Yên. Lúc này Yên chưa đi H.O., chàng thi sĩ rạt rào tình ý với người nữ, nên gặp Quỳnh mới lần đầu như tưởng đã rất lâu. Cũng chẳng trách được, bọn văn nhân thi sĩ thời nào cũng vậy, người nữ vẫn là nguồn cảm hứng cho họ, chẳng hạn một văn sĩ kinh điển Pháp như Prosper Mérimée đành thú nhận: sau đàn bà thì văn chương mới được xếp vào ngôi vị đáng kể().Và đâu đó, tự dưng đến tay tôi bài Giã biệt II:
... Cũng có lần anh muốn thâu gom
Cả quá khứ của em, quá khứ của anh
Làm đống lửa dỗ dành
Gọi về hai kẻ lạc loài nơi đồng không...
Em mới lớn và anh còn rất trẻ
Cũng có lần anh đến ngõ nhà em
Nhưng rồi lại đi luôn
Lang thang rã rời ngoài phố đông người
Không gặp một ai quen
Quán xá bây giờ cũng đổi mộng
Cũng có lần anh đứng lại bên đường
Thẫn thờ chờ xe ngớt băng qua
Bất chợt nghe như đời đã muộn
Muộn đến chán chường rũ thõng đôi tay
Tưởng không cái vội nào còn bắt kịp
Chỗ tối tăm ở phía dưới chân đèn
Nỗi ngu muội nằm ngay trong ý thức
Anh nhìn quanh kinh ngạc lạnh hồn
Mọi người vẫn sống được
Đáng tội cho anh có một cái đầu
Thông thống bốn bề
Đành không cô lập nổi u mê
Nên cứ phải luẩn quẩn nỗi ám chướng
Rất nhiều hôm anh đã đi rong không mấy đỗi đường
Mong rớt bớt dần những thống khổ ()

Nhớ lần gặp một trong hai vợ cũ tác giả, tôi đọc bài thơ cho nghe, khen hay. Lại bình, như vậy có đến hai bài giã biệt, tặng hai nàng; vậy hình bóng này tặng nàng nào, làm sao biết được, nếu không là tác giả? Nhà văn nữ Thụy Vũ cười rất tinh quái: Ông ngây thơ quá đấy? Chỉ là thơ cũ đem ra sơn phết lại, ghi tặng tên người mới đó thôi?
Vậy là Giã từ 1 tặng vợ mới bước qua; còn Giã từ II tặng tình nhân cũ người, với ta lại mới? Quả chàng là tay quán quân prolific tim hồng!
Trở lại với Olivier Rolin rất kiêu hãnh với kỹ thuật viết văn không đối thoại, chàng văn nhân Thụy Sĩ được giải Fémina 95, hẳn rằng ban chấm giải tán thành lối viết mới này không ít? Một bạn nhà văn khác, tôi không biết tên và cũng không cần hỏi, tán dương lối viết mới của Rolin. Quay sang tôi, anh hỏi, chắc cũng tán đồng ý anh mới nói và cảm tưởng tôi ra sao? Nếu là mới với Rolin thì được, với tôi lại không.
Cách đây 38 năm, tôi từng viết một tiểu thuyết Truyện người của tình phụ(), khoảng hơn trăm trang in, cũng không phân chương tiết, không xuống dòng, không đối thoại, kể lại cuộc đời ba đào tình ái, lẫn văn chương của một nữ sĩ tài danh miền Nam.
Lúc đó, với tôi, chỉ là thể nghiệm cách viết khác với cách viết trước mà thôi.
Cuộc trao đổi bị cắt, khi có tiếng xì xào của bác phó nháy, một, hai, ba chụp nhé, cười lên. Thế là mọi ngừời có mặt lại ngồi xoay quanh cái đinh chờ đợi được bấm máy. Cứ mỗi lần chụp ảnh chung kiểu này, tôi lại nhớ đến Lữ Quốc Văn kể chuyện thầy dạy học của anh, Nghiêm Toản rất sợ bác phó. Mỗi lần nháy, làm tim cũng bị nháy theo, chẳng biết có tham gia hội kín, hội hở không? nhưng mật thám tây gọi lên tra hỏi, chỉ vì tấm ảnh chụp chung có tên làm loạn.
Tôi cũng đành ngồi vào cho chụp lòng không vui. Lại một phen chứng kiến Rolin vừa cầm bút vừa hút thuốc, hút liên miên, hết điếu này qua điếu khác lại rút tiếp ra từng bao trong tút Chesterfield.
Lại lẻn ra cửa thật nhanh tìm một quán cóc, đi tìm giấc ngủ, tay tôi vẫn cầm ly cà phê, thú vui này đôi khi phải móc túi đền ly.
Sau đó đạp xe lên bờ hồ, rảo qua mấy hiệu sách thật đẹp, sang trọng nằm trên phố Tràng Tiền trung tâm, nhớ xưa kia cây bút trẻ Tô Hoài lóc cóc chạy mua bánh giò Đờ Măng, đáp ứng cơn đói sáng dày vò bề trên Nguyễn Bính.() Bước vào hiệu sách lớn, nhìn lên số 34, man mác quầy hàng bầy rừng sách văn chương, thi phú, đông, tây, kim cổ, thật sướng mắt!. Và đây rồi, một nhà văn tây, tưởng đã chết đi, nằm yên trong điện Panthéon, sao bây giờ lại nhỏm dậy với bút danh mới André MALRAUR(). Có nhà văn thơ cổ điển vào loại tầm cỡ bên tây, như tác giả Ác hoa() hay Thơ xuôi nho nhỏ() còn bị con dân cựu thuộc địa chê lên chê xuống, viết tên chàng sai bét sai be.
Lại trở ra đền Ngọc Sơn, tìm đúng nơi xưa kia bốn thằng chụp ảnh: Khánh, Duật, Chiểu và Tường, ngồi trên bờ tường nhìn ra cuối hồ. Ở đây chỉ còn lại hai; Duật thì sang Anh, còn Chiểu ở Mỹ. Theo múi giờ, hai thằng này chắc đang ngủ, tôi thức, còn Khánh đang đứng lớp giảng bài.
Cảnh quan đền vẫn nguyên như cũ, bom đạn tránh xa và tương truyền năm trăm năm trước, có chàng tuổi trẻ Nguyễn Siêu đứng ra tu tạo, sửa sang, sơn phết, riêng Tháp bút phía ngoài tạc dòng chữ Tả thiên thanh. Cho đến một ngày, có chàng văn sĩ ở tận nước Mỹ xa xôi, ngày ngày giang tay ôm tả thiên thanh, để Viết lên trời xanh, đầy ắp cảnh chiến tranh tương tàn.()
Tôi lượn vòng quanh chùa nhiều lượt, nhìn toán thợ sau giờ làm việc, đang rít ống điếu thuốc lào kêu ro ro, một thợ phê thuốc, nằm lăn ra ngủ trong lán, dựng bằng tấm tăng Mỹ, mầu xanh olive. Đó là sự ngạc nhiên, thích thú, vì khám phá sự kiện Mỹ đã không có mặt ở Hà Nội hơn ba chục năm, sao ở đây vẫn còn những tấm tăng nhà binh mới cáu cạnh dùng làm lán? Hay là chúng nó cũng được lắp bánh xe lăn theo chân ngọai trưởng Mỹ đến thủ đô? Thôi chúng ta cùng vào xem cụ rùa trong đền đi nào! Một khách lên tiếng. Ấy thế là tôi theo họ vào đền. Trưng bầy trong tủ kính lớn, một con rùa thật lớn, cứ theo chỉ dẫn trên bảng, rùa được vớt lên tứ năm sáu tám, nặng 250 kí lô, dài 210 xăng ti mét, ngang 120. Rùa sống ở hồ có tới bốn hoặc năm trăm năm, áng chừng vào thế kỷ 16, giai đoạn nước ta chống quân Minh xâm lược.
Rùa qua đời, xác ướp lồng trong tủ kính, xung quanh bóng đèn chiếu sáng, rất được nhiều khách tham quan, dừng chân, chiêm ngưỡng, trầm trồ dị vật.
Ra ngoài, ngược lên Hàng Bè, Hàng Sũ, cửa hàng bán chẳng thiếu thứ gì, nhiều nhất phố này là bán giầy da.
Hà Nội mùa này mặc váy quả thực vậy, các cô, các bà toàn maxi váy lả lướt khắp phố phường, đủ mầu sắc lung linh xoay như đèn kéo quân quanh hồ, quanh phố, mọi nơi mọi chốn, chẳng khác gì tôi đang lạc vào một thành phố châu Âu.
Tạt qua phố bờ sông, tìm lại Cột đồng hồ năm cũ, nay không còn dấu vết trên con đường thoải dốc dẫn lên cầu Chương Dương. Cầu Paul Doumer, tên của toàn quyền áp đặt tên lên cầu Long Biên ngày nay; thì khoang còn, khoang xập, chỉ dành cho người bộ hành và xe đạp độc quyền rong ruổi.
Ngày tháng cũ trở về, tôi cùng bạn học nam, đạp xe sang Gia Lâm, có lần đi xa hơn vượt một chặng đường trên Đường số 5, tưởng như đang xuống Hải Phòng bằng xe đạp. Cũng có lần rong ruổi, đạp xe đi thăm chùa Hương, và trước đó thám hiểm chu vi hồ Lãng Bạc trên dưới hai mươi cây số. Với tôi, chỉ là chiếc xe đờ mi cuốc() dán mác Sterling, ống tuýp 808, ghi đông chữ U, tai hồng Bell, bạn đồng hành thời học sinh đến thời vào nghề làm báo.
Trong số bạn bè chăm tập thể dục buổi sáng ở Septo, đôi khi còn gọi là Sân vận động hàng Đẫy. Cứ bốn rưỡi sáng, nghe tiếng chuông ngoài phố 325 (ngõ Chợ Đuổi cũ), biết ngay thằng Khánh đến rủ đi. Nó với tôi hai thằng đầu húi cua, mặc quần sọoc như cặp sinh đôi sàn sàn kích cỡ, khó phân biệt được, bé nào chui đầu ra trước, bé nào ra sau, cứ gặp ai cũng tốc miệng cười chào hỏi.
Sân vận động Hàng Đẫy đã khác xưa nhiều lắm, mở rộng chu vi, xây cất bề thế, chẳng bù cho ba bốn chục năm xưa hoang vu, vắng vẻ, lùi xùi, từ cổng vào chỉ có một hàng bán trà đá mùa hè, trà nóng mùa lạnh.
Cũng như Trại Quần Ngựa xây từ thời Pháp để nuôi ngựa, nay chỉ còn cái cổng cũ xưa, như di tích một thời, chẳng khác gì cửa chợ Đồng Xuân-Bắc Qua chỉ còn mặt tiền cổng cũ, bên trong đang đào móng, thay nền, xây chợ mới. Bạn hàng bán buôn chợ cũ đưa sơ tán xuống Cửa Đông, kéo dài sang đến lề Phùng Hưng, Đường Thành. Riêng chợ vải được chuyển về Phùng Khắc Khoan, khi đến thăm nhà báo về hưu, các cô bán hàng níu kéo, đưa xem vải, chào hàng.
Nhà báo Hiền Nhân() ở trên gác hai số nhà 36. Nay mắt anh đã mờ, đọc báo chỉ nhìn hàng chữ lớn qua kính lúp, và đọc nội dung toàn bài đành phải nhờ đến cháu, đến con. Trước năm tư, chủ bút Tia Sáng, tờ nhật báo lớn nhất Hà Nội bấy giờ, đã có máy in Rotative tối tân ấn hành, rồi thời kỳ sau hiệp định Genève, anh trở thành tổng biên tập nhật báo Thời Mới.
Anh là người cho đăng truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh trên báo Tia Sáng, tòa soạn nằm trên phố Gia Long. Kể lại chuyện cũ, tôi nhớ nhầm địa chỉ toà báo là 38 Gia Long, lại nói là 34; thì anh sửa sai ngay, tôi mừng vì trí nhớ còn minh mẫn. Sinh năm 1907, nhà báo sống gần trọn thế kỷ hai mươi, kinh qua bao biến thiên lịch sử, từ tiền chiến đã nổi danh biên tập viên cừ khôi của nhật báo Đông Pháp, trong khi bạn anh, Thượng Sỹ vang danh trên vai Ngự sử văn đàn trên báo Tin Mới. Thượng Sỹ vào miền Nam, Hiền Nhân ở lại miền Bắc, sau bảy lăm thống nhất chưa gặp mặt nhau; mỗi năm chỉ một lần gửi thư chúc tết.
Tôi đem một số sách của tôi tặng ân nhân, hẳn là không còn đọc được, đề tặng người như một kỷ niệm ghi ơn bước chân vào làng báo, làng văn, cách đây gần nửa thế kỷ.
Rồi băng qua ngõ Phất Lộc, thuộc loại phố cổ, nhà xưa, cùng niên kỷ với ngõ Tràng An nơi phố Huế, bước chân hậu bối như sánh bên tiền nhân từng vang bóng ngàn xưa. Này phố Mã Mây, kia là Hàng Bạc, nơi có những bước chân đầu tiên, cậu học sinh 18 tuổi, từ Nghĩa Lộ về thủ đô, đến nhà ông bà Đội Mộc xin trọ học, như mẹ anh gửi gấm.
Không hiểu sao, chỉ qua một đêm, anh cảm thấy không thể ở lại đến ngày thứ hai, lấy cớ đi tìm trường xin vào học, anh tạt vào quán Mai Hương bán chả rán, nem chua ăn cho thỏa dạ. Gặp được bà chủ tốt bụng, có chồng người Hoa, đứa con trai mười tuổi đang ê, a học tiếng pháp, anh tấp vào chỗ cậu bé, chỉ cách đọc sai vần... Bà chủ hỏi thăm học ở đâu, nhắm xem có thời gian kèm cho cháu bé không? Anh trình bầy cho bà hiểu hoàn cảnh, bà chấp nhận cho làm bồi, bưng thức ăn cho khách, đêm có thể ngủ lại sau khi cửa hàng đóng cửa, bằng cách kê ghế đẩu ngả lưng. Hàng ngày ,dành một, hai tiếng kèm cháu học.
Tôi trở lại nhà ông bà Đội Mộc, xin va li đồ đạc và ngay đêm thứ hai ngủ ở quán Mai Hương, số nhà 20. Nhà còn đó, chủ mới xây lại ba tầng lầu, nhìn vào như để sống lại khoảng thời gian lao đao đã trôi qua. Như là, vẫn hãy còn bước chân nhỏ bé, thơ dại của tôi còn hằn trên vỉa hè.
Khi ấy, tôi mua áo quần loại hàng chợ rẻ tiền, mặc áo sơ mi màu mỡ gà ngắn cũn cỡn đến hiệu cho thuê sách đặt cọc thuê cuốn Tấm lòng vàng tác giả Nguyễn Công Hoan. Cuốn sách gối đầu giường, không phải đã hiểu biết cái hay của văn chương, mà chính nội dung chuyện là nguồn an ủi tinh thần, nâng đỡ tôi qua cơn thử thách nghiệt ngã.
Dọc theo phố Mã Mây chẳng còn tìm thấy vết tích căn nhà cho ngủ đêm đầu tiên, tôi lững thững qua Hàng Buồm. Ôi!, cái phố tàu thân quen mấy chục năm xưa vẫn còn đó, nơi này là nhà hàng Escalier d’O, bánh nướng Đông Hưng Viên tuyệt hảo. Hàng năm tôi phải ghé mua cho bằng được một cân Jambon thập cẩm gửi về Nghĩa Lộ cho mẹ tôi. Bà chỉ thích bánh nướng mang nhãn hiệu ăn ngon miệng từ ngày xưa.
Chùa Bạch Mã rêu phong còn trơ gan cùng tuế nguyệt, như một câu cổ thi tô nét đẹp cổ quan. Một ngôi nhà cổ mang số 28, bề ngang chừng hai thước, mái thấp lè tè, lợp ngói âm dương, cây cỏ chen chúc mọc trên ống máng cũ.
Từ quán cà phê 19 Hàng Buồm, cô chủ thuê mặt bằng của báo Người Hà Nội, ngụm hớp cà phê thơm lựng, nhìn sang dãy đối diện, bắt gặp một gã đàn ông trạc ba chục tuổi, co quắp ngủ giấc trưa ngon lành. cạnh bên sư tử đá nghếch mõm canh chừng. Anh ta cũng như tôi có giấc ngủ trưa ngồi trên ghế, mắt lim dim nghe nhạc thính phòng từ nhà bên cạnh phát ra.
Cô chủ sinh trưởng ở Hà Nội, giọng nói vẫn là của gạo trắng, nước trong, mà đây đó, trong lần ra thủ đô, chỉ gặp được dăm ba người như thế. Rồi được nghe kể Hà Nội sau năm tư, đa số người cũ không còn được ở lại, thay vào đó là dân tứ xứ tràn về lập nghiệp, nhiều nhất từ Nghệ An, Hà Tĩnh.
Do đó, bây giờ giọng người Hà Nội được phát ra âm thanh nặng nề, cung bậc trầm bổng, tất nhiên không nên so sánh câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An(). Nhưng đúng ra, giọng nói bớt hẳn đi giọng thanh lịch ngày nào! Đến góc Hàng Buồm và Hàng Đường cũng có giọng trong trẻo như cô chủ cà phê Hàng Buồm. Trả lời hộp sữa bột này ba mươi nghìn đúng giá. Thưa lại với cô, cũng hộp sữa này ở Bưởi hai mươi tám nghìn cũng đúng giá. Cô trả lời: Thôi cháu cũng bán cho chú giá đó. Bởi chú, hình như cũng là người Hà Nội một thời. Cô giải thích thêm, túi xách, đôi giầy da không cùng phom thủ đô, nên cô nói thách đôi chút.
Một lần đi ăn phở gà ở Thịnh Yên, khu chợ Hoà Bình dưới chợ Mơ, cô chủ dùng kéo cắt thịt gà, không chặt miếng, lại xé từng sợi nhỏ đặt trên bánh phở. Hỏi, nếu đề nghị cô chặt gà thành miếng, thay vì xé, tôi quen ăn sẽ ngon miệng hơn, cô có đồng ý không? Tất nhiên tính thêm tiền cũng hợp lý. Cô lắc đầu sẽ không tính thêm tiền, nhưng người Hà Nội sau năm tư có thịt gà ăn không dễ, phần không muốn cho hàng xóm tố cáo mổ gà và không chặt gà thành miếng vì sợ tiếng động chết người của dao thớt, nên phải dùng kéo cắt, rồi xé nhỏ ra từng sợi. Thế ra, phở gà xé cũng có lịch sử song hành với biến thiên thời cuộc, hay đó chỉ là cách lý giải dí dỏm vui vui của người Hà Nội gốc.
Từ hiệu phở Thịnh Yên đạp xe tới khu nhà của Sỹ Tiến- Khánh Hợi không mấy xa. Người bạn văn vong niên có tên thật Nguyễn Xuân Kim, tác giả Những mảnh tình nghệ sĩ; mà xưa kia Anh Hợp giắt tôi đến chơi, gặp bữa là xà vào ăn.
Hỏi không ai biết, nói tên chẳng ai hay, lang thang hàng tiếng đồng hồ, đành bỏ về cho rảnh. Sau, phải hỏi Kiều, nó cho biết anh qua đời, còn chị và cháu Quyên sang Pháp.
Nhớ lại cô bé thường hay xà vào lòng, mỗi khi chú tới, nay đã là ca sĩ Lệ Quyên. Tôi như có lời ngỏ: ...Chú nhớ đến bố mẹ và cháu, giữa bầu trời thu Hà Nội, bỗng da trên cánh tay nổi da gà, hẳn không phải mới đi ăn phở gà chặt miếng, rồi vã mồ hôi đâu. Thật may nhìn chân dung bố mẹ cháu trong cuốn sách(), bố cháu mặc áo vét, đầu đội bê-rê, dưới ghi chú hàng chữ: Sĩ Tiến, NSND. Đúng ra trên tác phẩm từ xưa ký bút danh SỸ TIẾN, Y dài, không là I ngắn. Riêng với cháu, chú vẫn được nghe giọng hát qua băng, đĩa và khen cháu thực lòng cháu hát hay!.
Đang mơ màng giấc ngủ ngồi, bỗng cô chủ quán đánh thức Ông ơi, một giờ chiều rồi đi họp thôi, chiều nay hai giờ, tôi còn phải tham dự buổi diễn thuyết của Didier Eribon. Như tiễn chân, nhìn tôi giắt xe đạp rời quán: Ngày mai, mời chú trở lại uống cà phê, cháu sẽ pha tặng chú ấm trà không lấy tiền!

***

Đạp xe đến Yết Kiêu chẳng gặp ai: Kim Cúc, Minh Ngọc, Hoàng Như Mai và cả Lý Lan, hoá ra mãi đến 16 giờ mới bắt đầu. Tôi vào quán, sao bữa nay rất đông khách, đa số ngoại kiều Pháp và sinh viên Việt học tiếng Pháp ở đây.
Bà chủ quán hỏi: cam vắt không đá, phải không? Lắc đầu, một cà phê đen, một thuốc lá ba số. Bà chủ quen, bởi mỗi sau buổi họp tôi và Lý Lan vào quán uống cam vắt không đá. Bà hỏi cô bạn đâu rồi, còn tôi, có phải là đang theo học sinh ngữ Pháp không?. Cô bạn cũng dễ thương đấy chứ, khuôn mặt bầu bầu trông lâu phát ghét, Rất sính văn chương dân gian, song chỉ một chữ ghét này rất khó lý giải, với người rất gần thì ghét không còn là ghét; trái lại thì ghét đúng là ghét thật sự.
Ngồi một mình chẳng nói chuyện cùng ai, bèn giở tập thơ của Jelloun ra đọc. Tuyển tập thơ này gồm nhiều bài được chọn từ các tập khác, liệu có thể làm sống động lại trong tim tôi, chính là tôi và thế giới (mà tôi đang sống đó). Câu đề từ này, Jelloun chú thích tên Aimée Césaire. Tự bạch, một số bài thơ làm vào thời kỳ đầu, phản hồi từ sự căm giận, sự cần thiết để làm cách nào đó chống lại áp bức, bất công, man trá và bội phản. Cũng rất không thích làm thơ tình, ngay vào những năm sáu lăm đang theo học ban triết Đại học Rabat.
Cảm thấy lý thú là ngày mai đây, Jelloun sẽ đăng đàn diễn thuyết, hẳn sẽ thâu thập được nhiều ý mới lạ. Tự phô bầy thân phận nhà văn nhược tiểu dân tộc, người Maroc học và viết tiểu thuyết tiếng tây, có giỏi giang mấy, vẫn có chung tâm trạng và nỗi thống khổ, cùng niềm nhục nhã dân bị thống trị, chịu nhiều bất công quá đáng.
Nhìn ra ngoài, bóng chiều xế đổ nghiêng trên hè phố đã bớt gắt đã nhìn thấy bóng dáng Lý Lan băng qua đường. Trông vẻ dáng bên ngoài không thể biết là người Sài Gòn, mà còn lầm cô gái chính hiệu Bắc hà. Lại trách sao mấy buổi hội họp xong ,tìm không gặp, đi đâu mất tiêu luôn mới chở được một hai lần là lặn luôn hà?
Giờ vào họp, như chương trình, Didier Eribon nói về khoa học nhân văn ở Pháp thập niên năm mươi rất chung chung. Chỉ diễn giả và người sắp chương trình mới biết ai là nhà văn hôm nay, được nói vể. Chọn ghế hàng sau cùng ,là nhớ đến lời khuyên trong thánh kinh nếu anh thích ngồi trên, bị mời xuống sẽ bẽ mặt.
Lý Lan sát cạnh, nhắc nhở đến đoạn nào hay, nhớ phải dịch ngay cho nghe, không được chần chờ. Nói vậy, nhưng cô biết sau mỗi đoạn có thông dịch làm việc này, trừ buổi nữ giáo sư Lê Hồng Sâm hướng dẫn chương trình dành cho các nhà văn dịch thuật, nên không cần thông dịch viên, đa số bỏ ra về hội nghị đành phải nghỉ sớm.
Từ phòng họp bước ra, Lý Lan phát biểu ngay: Sao ông hỏi triết lý gì mà rắc rối thế, khiến diễn giả trả lời câu hỏi quá khó. Thật tình mà nói, tôi rất ưa dáng vẻ ông ta khi diễn thuyết, ăn nói chừng mực, giọng điệu ngắt câu, lên bổng xuống trầm nhịp nhàng, lưu loát (cười) mà tôi có hiểu nội dung ra sao đâu?
Chúng tôi lại vào quán cạnh trung tâm, nhìn vào bàn trong đủ mặt các diễn giả, từ Didier Eribon, Toussaint, Rolin và phu nhân ngồi từ trước đang sôi nổi bàn cãi về buổi nói chuyện của Eribon. Nhớ khi Eribon vừa dứt, nói về Jean-Paul Sartre, hỏi có vị nào muốn phát biểu, xin mời. Đứng phắt dậy, tôi nói bằng tiếng phú lang sa:
- Thưa ông, một câu hỏi nhỏ nêu lên xin được giải đáp: vào đầu thập niên sáu mươi NXB Bernard Grasset xuất bản Cuộc cách mạng của các nhà văn hôm nay() của R, M. Albérès, rồi dẫn chứng câu nói của Henri Lefèbvre nhận xét về Sartre ...với nhà văn, anh ta quả là triết-gia-văn-sĩ; còn với triết gia, thì anh ta chỉ là văn-sĩ-triết-gia mà thôi. Ông có ý kiến gì về câu nói đó khác nhau ra sao? Xin cảm ơn.

***

Như Lý Lan đã ca cẩm trên kia, Didier Eribon xin khất, vì câu hỏi hóc búa, rồi trả lời chung chung với tôi, ông ấy là triết gia. Câu này chỉ là một định đề (), hoặc là câu trả lời mà chẳng trả lời, kiểu đánh bùn sang ao, theo lối nói dân gian đất việt. Đúng lúc này, Robert Lacombe bước vào quán, đi lại phía các bạn ngồi chờ, nhìn thấy tôi và Lý Lan quay trở lại kéo ghế ngồi. Lacombe chất vấn, tôi đặt câu hỏi với Eribon rất interesting, và có phải tôi đã rất quan tâm về thuyết hiện sinh của Jean-Paul Sartre không? Trả lời, văn chương hiện sinh của Sartre không chỉ ảnh hưởng ở Việt Nam, mà chính ngay trên đất Pháp, đã có một cô Monique có thật ngoài đời, vì đọc sách của nhà văn rồi tự tử theo thuyết hiện sinh.
Một nhà phê bình thân thiết, Francis Jeanson, được coi là commentateur chevronné() của Sartre, viết cả một cuốn sách phẩm bình về tư tuởng Sartre par lui même (1947). Một chuyện lạ nữa, về Jean-Paul Sartre là, trước hai tuần qua đời, ông trả lời phỏng vấn của báo Paris Match(), đại để suốt đời ông đi tìm surhomme (tạm dịch người-cho-ra-người, nhưng chỉ tìm thấy soushomme (người- chẳng-ra-người ); nên ông đã không nề hà gì phủ nhận sách đã viết như L’Être et le Néant... để được trở về làm hòa với Thượng đế (Dieu).
Ông muốn triệt tiêu kiểu nhìn lén (regard d’autrui), nhưng điều này vẫn cứ nhảy phóc ở cửa ra vào rồi nhìn về phía ông. Sau cùng, ông làm hoà với Thượng đế.
Và tôi cũng rất không ngờ buổi nay ông Eribon lại nói về Jean-Paul Sartre, chương trình chỉ ghi chung chung nói về khoa học nhân văn. Cũng có thể nói thêm về nhân vật có thực ngoài đời, như Monique đã dấn thân thật sự như trong văn chương hiện sinh. Nhưng cũng là Sartre, lại chống đối một lối dấn thân khác.
Trong Văn chương là gỉ(), ngay dòng đâu tiên, ông phê phán lối dấn thân của một thanh niên ngu xuẩn khuyên người ta nên gia nhập đảng phái chính trị
Robert Lacombe bắt tay từ biệt chúng tôi, nhắc, tối nay trung tâm mời phái đoàn nhà văn TP.HCM cùng các nhà văn Pháp, Thuỵ Sĩ, Bỉ sang quán Hoa Ban, chủ quán Huy Thiệp. Tôi hỏi, bữa ăn không có trong chuơng trình nghị sự, vậy có nghĩa là khách mời tham dự hay không, được quyền chọn, Lacombe gật đầu. Lý Lan khuyên tôi, nên đi cùng, làm thông dịch, vì cô rất thích nói chuyện với diễn giả Eribon.
Tôi chưa có ý kiến gì Lấy xe đạp chở cô đi dạo phố Huế, tiện thể rẽ qua phố Tuệ Tĩnh thăm Phương Quỳnh. Lý Lan nhận lời ngay, trên đường đi, nhớ có đọc một bài phỏng vấn, nên kể cho cô nghe về Huy Thiệp, chủ quán Hoa Ban.
Có đoạn viết: ...Nhà văn … Nguyễn Huy Thiệp tuyên bố rửa tay gác kiếm và gài thêm câu: Mỹ bỏ cấm vận, Thiệp ngưng viết quay sang kinh doanh, hai phóng viên ngoại quốc viết vậy. Tôi cũng muốn đến ăn ở nhà hàng Hoa Ban, tiện dịp biết con người bằng xương thịt, tác giả truyện Phẩm tiết hoặc Tướng về hưu viết rất đạt.
Phương Quỳnh ở trên lầu hai, phòng treo đầy tranh các hoạ sĩ tài danh tiền chiến, đôi ba bức hoạ sĩ đương đại có máu mặt. Quỳnh được coi như dealer với khách mua tranh nước ngoài, nên từ lâu bỏ nghề viết truyện ngắn.
Gặp Lý Lan lần đầu, Quỳnh niềm nở tiếp đón nhà văn trẻ đã rất mạnh miệng trả lời phỏng vấn văn chương, chẳng chút ngại ngùng e dè hay sợ điều cấm kỵ: ...Tôi ấy à, tôi thường nói với bạn bè tôi, những truyện tôi gửi cho chủ bút, một là đăng hai là không. Tôi không thể chịu được khi người ta chuyển đổi, sửa văn tôi. Những người phụ trách bài vở, nếu không biết luật này, tôi sẽ nổi giận ngay và không bao giờ còn cộng tác nữa.()
Quỳnh được bạn bè ở thành phố kể lại về Lý Lan, nhà văn trẻ gốc Hoa này rất bướng, từ chối làm ủy viên Hội nhà văn TP.HCM, rút ra khỏi chức vụ được bầu bán.
Lý Lan ký tặng Phương Quỳnh cuốn truyện Chiêm bao thấy núi. Không nấn ná ngồi lâu, hàn huyên với Quỳnh được- một là, sắp tới giờ qua nhà hàng Hoa Ban- hai là, một giáo sư viết sách ngữ văn, đang thuyết giảng thao thao bất tuyệt, nào là tình yêu có là một triết lý, thuyết phục Quỳnh cho bằng được, ngả vào lòng chàng càng sớm càng tốt. Vì Quỳnh thay đổi ý rất nhanh!.
Từ giã Quỳnh, cô hỏi đi đâu bây giờ; Lý Lan cho biết về Cửa Đông, rồi đi ăn tối ở Hoa Ban; Quỳnh tiếc là không còn xe gắn máy ở nhà, vì mới cho mượn, chứ đi xe đạp mệt chết!
Quỳnh ơi, tuy mệt thật, nhưng phía sau chở Lý Lan lại không biết mệt là gì; hơn nữa, nếu đi một mình, thì đây cũng là một người, một ngựa xem hoa, ngắm cảnh, viếng chùa chiền, di tích lịch sử, hết lê la trước Phủ Tây Hồ, qua Nhật Tân, Nghi Tàm, qua đê Yên Phụ, xuống Phó Đức Chính, thả dốc qua Hàng Than, Hàng Bún, phố Châu Long, lang thang sang Cửa Bắc, vào nhà thờ; lại đến 80 phố Quán Thánh, nhìn lại trụ sở báo quán Phong Hoá, Ngày Nay nhóm Tự Lực văn đoàn, ngẫm lại vào thập niên ba mươi, nhà văn trẻ Từ Ngọc() gửi bản thảo tiểu thuyết Ngược Giòng dự thi, thì bị một nhà văn trong ban giám khảo, hớt cốt truyện, đưa lên đăng feuilleton trên báo Ngày Nay. Như muốn nói thêm với Quỳnh, điều chưa tiện nói:
...Này nhé, như cô chẳng hạn, cô quen đi xe Dream, một khi phải theo dõi anh chàng trung niên gàn bát sách này, đi xe đạp; bỗng gặp lại cái dốc xưa kia từng lao xe xuống bon bon, nay về già cũng vẫn còn thử sức, lao dốc Nghi Tàm và tuyệt nhiên không còn tìm thấy hồ Quảng Bá.
Bây giờ, Hà Nội đầy rẫy biệt thự song lập đắt tiền cho ngoại kiều thuê. Chỉ trên đê Yên Phụ thôi, nhà xây lên bị đập đi, lại xây tiếp, lại bị đập, nhưng vẫn còn một căn duy nhất xây lên, vẫn sừng sững ngang nhiên thách đố. Và căn nhà đó tồn tại. Vậy thì, cô theo cũng chán, chỉ còn nước bỏ về, để gã đi lang thang một mình cho khuất mắt.
Quỳnh tiễn chân, nhìn theo tôi chở Lý Lan ngồi phía sau xe đạp, vẫy tay, rồi vội lên lầu với vị khách si tình nóng ruột. Lý Lan thì ra sức thuyết phục, khi tôi cho biết sẽ không đi ăn, cô vặn vẹo hỏi, liệu có điều gì làm phật lòng, âm thầm giận dỗi không tham dự tiệc mời của toà đại sứ không?
Chỉ trả lời bâng quơ, đường đi quá xa, qua ba canh đồng mới húp được bát cháo lỏng, thà nằm nhà giữ sức cho khỏe, có tốt hơn không? Đến Cửa Đông, thả Lý Lan xuống, nhìn dáng đi vùng vằng, sao thấy nao lòng!.

***

Gọi cửa thì đã hơn tám giờ tối, chị Thái ngạc nhiên, bởi trước đó gọi điện thoại báo đi ăn cơm khách, về trễ. Cháu Trung chạy ra đón, câu đầu tiên hỏi: ... bác về có mua kẹo cho cháu không?.


______________________________________________________________


ĐỌC TIẾP CHƯƠNG 5




THẾ PHONG


HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA
Bút Ký của THẾ PHONG
Nhà Xuất Bản Thanh Niên - Hà Nội 1999




© Cấm trích đăng lại nếu không được sự chấp thuận của tác giả .





TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC