TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





NGUYỄN HIỆP
















PHÚT GIÂY HOÀNG ĐẠO

Tôi hít một hơi thật sâu, lắng tâm, tự nhủ xoá bỏ hết tạp niệm, những phần tâm trí đang trải ra khắp nơi chợt tự tìm về ráp lại thành một tâm trí trọn vẹn. Phút giây ấy xảy ra vào đêm giao thừa, đây là thời điểm hiếm hoi của năm nay tôi không tự đánh mất mình bằng những loạn tưởng, tính toán, kế hoạch vụn vặt, công việc không tên… Lúc cắm ba cây nhang lên bàn thờ ba má tôi xong, hơi thở tôi như một dòng sông uyển chuyển nhẹ nhàng, tôi ý thức rõ ràng từng hơi thở vào thở ra của mình. Không gian giao thừa thật im ắng, tưởng chừng đếm được chính xác từng tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường, thoạt đầu tiếng tích tắc ấy cũng làm tôi ưu tư đôi chút về tuổi tác ngày càng chồng đống, về sự nghiệp chẳng ra sao của mình, nhưng sau vài hơi thở nữa thì cái đầu luôn nóng rực của tôi nhanh chóng dịu dần, êm dần, lắng dần. Giao thừa nơi tôi ở, hầu hết mọi người cứ ngủ khì ra sau một ngày mệt mỏi vì tranh thủ kế mưu sinh và lo lắng cho con cái; tắm vào chiều cuối năm, ngủ vào đêm cuối năm, đó là hai việc đã đời nhất mà ai cũng thừa nhận. Tôi tự thưởng cho mình bình trà thật ngon, một lạng trà móc câu giá mười ngàn đồng chia được bốn bình, tôi ít khi dám trích phần tiền nhuận bút còm của mình để xài một cách xa xỉ như vậy, nhưng của đáng đồng tiền là tôi đã thật sự để tâm để trí vào thưởng thức ly trà chứ không hấp tấp ực vội vàng rồi lao đi như thường ngày, phần nữa, tôi uống từng hớp trà xanh thấy rất thơm ngon bởi tôi hằng quan niệm xài một đồng nhuận bút văn chương bằng mười đồng kiếm được trong các loại lao động khác của tôi.

Thật ra, từ ngày nghỉ nghề dạy học đến nay, tôi chưa bao giờ được "ăn" Tết như mọi người, tôi không có Tết, sáng mùng một là tôi lại phải ôm cái máy Canon mòn đến lòi đồng sáng loá ở chỗ tiếp xúc tay cầm của mình và cuốn biên lai hối hả lên đường đi chụp hình dạo cho mãi hết rằm tháng giêng, đó là cách kiếm tiền khác của tôi ngoài việc viết văn với đồng nhuận bút mưa móc. Vùng đất "làm ăn" của tôi là khu làng Da Beo, làng có tên hẵn hoi: xã Một, nhưng dường như dân chúng thấy được sự nghèo nàn với cách đặt tên như vậy của chính quyền địa phương nên cứ gọi theo kiểu của mình, sở dĩ là làng Da Beo vì đất ở đây bị khai thác làm lò gạch tự phát, tự tiện, mấy chục lò "dã chiến" mọc như nấm chẳng có giấy phép, chẳng kế hoạch gì cả, chỗ bị múc trũng lỗ chỗ, chỗ gò đống như mả lạng, nhìn xa như tấm da beo lốm đốm.

Uống hết ly trà thứ nhất, tôi chế cho mình một ly nữa, thì đột nhiên tâm trí tôi lại trở nên tán loạn. Mối lo nghĩ của tôi hiện rõ mồn một: bởi ngôi nhà đầu tiên mà tôi đến đạp đất và mời chào chụp hình vào sáng mùng một Tết phải là một gia đình không kiêng cử và thân tình, giờ thì những gia đình như vậy còn rất ít. Một điểm "ruột" hằng năm của tôi giờ không còn nữa. Câu chuyện xảy ra từ Tết năm ngoái mà tôi vẫn còn bị nó ám ảnh tới lúc này. Tôi nhìn vào ly trà thứ hai của mình, chợt nước trà trong ly xoáy gợn, vòng xoáy gợn nhanh dần, màu xanh ánh của nước trà chợt đỏ bầm như màu gạch nung quá lửa, rồi đỏ rợn như máu, màu đỏ loang ra rất nhanh, tràn ngập không gian trước mặt. Tôi nghe rõ ràng một tiếng thét của trẻ thơ, của con bé đó, con bé có hai cái nơ xanh đong đưa theo hai bím tóc. Không có câu chuyện nào lạ lùng hơn thế, éo le hơn thế về xúc cảm của con người, không có câu chuyện nào nhẫn tâm hơn thế, độc ác hơn thế về sự xúc phạm đến quyền sống, đến nhân tính con người…

Ngôi nhà có cây câm xe phía trước, năm nào cũng trổ hoa vàng, màu vàng của hoa làm sáng hẵn một góc làng, nơi gốc cây ấy, dưới những những chùm hoa xà xuống tận vai người, tôi chụp không biết bao nhiêu kiểu hình cho trai gái trong làng, là nhà của anh chị Phong. Anh Phong là một nhạc sĩ nghiệp dư (anh có vài ca khúc được trình diễn trong các chương trình văn nghệ tỉnh), công việc chính sau khi anh lành bệnh là đi chăn bầy bò cho Hợp tác xã gạch ngói. Tôi mê nhất là ngón đàn "guitar classic" của anh: có chút ngân vang về lòng kiêu hãnh, lại pha chút buồn buồn ở cung mi trưởng yêu thích của anh, nhất là những lúc anh say, tiếng đàn của anh nghe mê hoặc đến ma quái. Anh đọc nhiều sách về triết học phương Đông và phương Tây, có lần tôi hỏi hình khắc bằng bút lửa những đuôi chim công, cuối mỗi đuôi là một con mắt cách điệu hình Thái cực đồ, tất cả cuộn quanh vòng tròn trên cây đàn guitar của anh, anh đã nổi hứng giảng thao thao bất tuyệt cho tôi nghe về vòng tròn Hoàng Đạo. Anh nói: Nó là một chu trình hoàn chỉnh, mỗi cung biểu thị một giai đoạn tiến hoá, Hoàng đạo của mặt trời được hình thành bởi ảnh hưởng của mặt trăng đến các giao điểm của các chí và các phân như quyền lực của người đàn ông phải có từ phiá người đàn bà vậy… Anh giảng say sưa về xung lực đầu tiên của Hoàng Đạo làm tôi cứ há hốc như nuốt lấy từng lời. Tôi rất nể trọng anh, một người chăn bò lại có kiến thức uyên thâm đến như vậy và lại có cái vẻ "điên điên" của một nghệ sĩ tài năng. Chị Phong nhỏ hơn anh đúng một con giáp, dáng người mảnh dẻ, thắt đáy lưng ong, đuôi mắt dài, nhìn kỹ mới thấy nét hốc hác mệt mỏi, chị là người đàn bà chịu thương chịu khó. Ngày anh bị sốt bại liệt, chiều nào chị cũng dìu tập cho anh đi quanh cây câm xe, có lúc hai người cùng té lăn quay trên nền cỏ rồi cùng cười như nắc nẻ. Hơn ba năm trời đằng đẵng nuôi chồng bệnh, lúc tắm rửa, lúc kê bô, chị lúc nào cũng vui cười, không tiếng thở than, có chăng những lúc khuya khoắt trăn trở mãi không ngủ được, chị lẳng lặng quay lưng, lau vội dòng nước mắt vừa lan xuống tận khoé mũi, chảy vào tận đôi môi mọng rực nóng hôi hổi của mình. (Có lần chị tâm sự thật tình với tôi). Trong những ngày bệnh tật, anh Phong lại sinh chứng uống rượu, mà cứ uống rượu vào lại nhằm chị mà chửi, có lần say bí tỉ, anh tuyên bố: "Anh uống không cần mồi, "chửi vợ" là loại mồi ngon nhất" và anh lại ôm đàn nghêu ngao: "Đàn bà ghê gớm quá ta, nó kềm nó kẹp đời ta quá chừng…", thường khi hát đến đoạn ấy là anh vật đầu ra say bí tỉ, chẳng còn biết trời trăng gì nữa. Hôm sau, hỏi lại anh nói chẳng nhớ gì, trường hợp uống đến "đứt phim" như vậy xảy ra hàng ngày với anh. Vậy mà chị vẫn hết lòng đêm hôm quạt lửa sắc cho anh từng thang thuốc Bắc, chẳng một lần chép miệng thở dài, chị lẳng lặng ra vào như cái bóng an phận chăm chút cho chồng con, sau giờ đi theo các máy mê phơi gạch về là chị vội vội vàng vàng con cá lá rau chuẩn bị cho bữa ăn của chồng con, rồi lại túi bụi trăm công ngàn chuyện không tên khác trong nhà.

Một lần, khi chụp cho mấy anh em thợ làm gạch một số hình ven bờ suối (tôi chụp hình cho thợ gạch nhưng thanh toán tiền với chủ lò, cuối tháng chủ trừ lại tiền công), tình cờ khi đang đi tìm cảnh, tôi bỗng giật mình thấy có người đàn bà đang phe phẩy bơi ngửa, nổi người trên mặt nước trong vắt nơi con suối phình ra một cái vũng nhỏ, cây cối chồm ra lưa thưa đổ bóng, nơi nước như dừng lại không chảy. Hai mắt người ấy mở mơ màng, nhìn thẳng lên bầu trời lá xanh. Toàn thân người ấy không một mảnh vải nên tôi rất e ngại, nhưng vì quá tò mò mà tôi nhón chân đến chỗ chiếc thau nhựa màu đỏ, quần áo cuộn lại gọn gàng, chắc là vừa giặt xong, chỉ một bộ đồ vứt vội trên bụi cỏ. Nép sau chòm lá thưa, tôi nhìn thấy chị Phong, rõ ràng là chị Phong, sao lại tắm ở tư thế ngửa mặt bất động lạ đời như vậy? Tôi mang mãi thắc mắc ấy trong lòng, mãi đến sau khi có dịp nói chuyện với chị, tôi mới lí giải được phần nào sự dằn vặt, khát khao kềm nén quá lâu của chị.

Tôi thật thà kể chị nghe: Đã thấy chị tắm suối mà sao mặt ngước nhìn trời lâu lắm. Hai gò má chị chợt rựng đỏ như trái cây chín mùi, chị lắp bắp: "mình đang tưởng niệm tuổi xuân của mình". Tôi thật ngạc nhiên khi chị cho biết: "Trước ngày đi thanh niên xung phong, mình là sinh viên văn khoa đang học dở dang. Ngày ấy, trong mình lúc nào cũng ăm ắp ước mơ". Tôi nhìn sâu vào mắt chị thì thầm: "Chị à, con người là vậy mà, khi người ta có tình yêu thương, người ta sẽ vượt qua được cả bản năng bảo tồn, huống chi là đánh đổi tuổi thanh xuân, nó đáng giá nhưng không phải là tất cả phải không chị?" Chị cười: "Chà, phó nháy mà cũng lý sự dữ há! Hèn nào tôi nghe người ta bảo đất này tập trung tứ chiếng giang hồ, người ngu thì ngu đến đần độn, người khôn thì khôn đến bất ngờ." Tôi kể cho chị nghe câu chuyện xảy ra hồi năm trước, tình cờ có công việc vào thành phố mà nghe được: Trong một chung cư bị cháy, hai vợ chồng nhà nọ lao vào lửa để tìm cứu đứa con của họ, khi bế được đứa bé trao cho các anh lính chữa cháy thì họ cũng vừa tắt thở. Về mặt lý trí thuần túy thì sự đổi như vậy là phi lý, nhưng với con tim thì đó là thái độ duy nhất phải chọn lựa". Chị im lặng một hồi lâu, mắt chợt nhìn xa xăm: "Bởi vậy nhiều lúc mình muốn chết cho khoẻ thân, nhưng nghĩ đến hai con bé, mình không sao làm được điều đó. Mình sống để nuôi con, nhưng thật ra như đã chết rồi". Tôi đồng cảm với chị: "Với con tim, đó là thái độ duy nhất chị phải chọn lựa"…

Chuyện đường ăn ý ở của vợ chồng anh Phong thật là lạ: khi người chồng bệnh tật, một sống mười chết, tưởng chừng như tuyệt vọng với một chân trái đong đưa vô hồn, đi đứng không được, làm việc không được, cả đàn hát cũng không được thì chị lại yêu thương chịu đựng hết mực, chăm đút, tắm táp, động viên, an ủi, một tay cáng đáng hết công việc, dãi nắng dầm mưa, thức đêm thức hôm, đến khi chồng đi đứng đàng hoàng, có da có thịt, sức khoẻ hồi phục, làm việc lại được thì chị lại đoạn tình, bỏ đi. Đó có phải là phản bội không? Đằng sau sự ra đi ấy còn có điều gì ẩn khuất, bất kỳ ai là người biết chuyện đều lưỡng lự không dám buộc tội. Người bàn ra, kẻ tán vào đủ thứ nguyên do: người thì bảo anh Phong bị liệt dương, người lại cho rằng ly nước chịu đựng đã tràn, do anh ta coi việc mắng nhiếc chị là "mồi" để uống rượu như vậy là xúc phạm, là phỉ báng, "ăn nói trật họng cối xay độc ác kiểu đó ai mà chịu nổi", "bực mình chuyện ở đâu ngoài xã hội lại đem trút vào vợ con, còn hơn là mang rác vào nhà"…

Sáng mùng một Tết, tôi gắng "sắm" một khuôn mặt thật tươi, luôn luôn là nụ cười, tôi thầm nhủ mình như vậy, toòng teng cái máy hình trước ngực, đèn "flask" thì đút túi quần, tôi cùng chiếc xe đạp cuộc Tiệp Khắc bon bon dọc theo quốc lộ IA đến làng Da Beo. Nhà anh chị Phong là ngôi nhà đầu tiên tôi ghé lại cũng như hằng năm, dù năm nào anh cũng chỉ chụp hai kiểu: một tấm hình cả nhà và một cho con cái, nhưng được cái anh chị đều vui vẻ thân tình, anh chị ấy không mê tín cũng chẳng kiêng cữ gì cả. Tôi dựng chiếc xe đạp dựa vào gốc cây câm xe trước ngõ. Cửa nhà khép hờ, sáng đầu năm mà sao im ắng thế này, tôi vừa nghĩ như vậy trong đầu thì cả người chợt bàng hoàng, phía sau cánh cửa hé mở, nền nhà hiện ra với ngổn ngang các mảnh vỡ của bình tách, chai lọ, một nồi măng kho tung toé xung quanh, cây đàn guitar có hình tròn khắc những đuôi công bị đập nát, gỗ văng ra từng mảnh, cần đàn gẫy gập hai phần nằm trong góc tường, mùi thuốc rầy thốc vào mũi nồng nặc khó chịu. Ngay lúc ấy, tiếng con bé thét lên: "Không! Con không uống mà." Tôi bồn chồn đằng hắng một tiếng quên cả sự đường đột của mình. "Ai cứu với!" Con bé ú ớ. Tôi nhào vào tận nơi, vật lộn với anh Phong một hồi tôi mới khoá được tay anh ta. "Chuyện gì vậy?" Tôi vội vàng hỏi. "Ba bắt con uống thuốc rầy". Con bé đang bị trói, miệng nhanh nhảu. Tôi vói chân đá mạnh, chai thuốc rầy văng ra, nghiêng đổ, mùi hôi thốc vào mũi không chịu nổi. "Cứu… em con!" Con bé lại tiếp tục vừa nói vừa hất hất đầu về phía buồng. Anh Phong vùng người thật mạnh làm cả tôi và anh ta đều ngã nhào xuống đất. "Con uống giọt nào chưa?" Nghe tôi hỏi, con bé lắc đầu lia lịa, tôi chợt thấy yên tâm, vội dồn hết sức lồm cồm lôi dựng anh ta dậy. Đôi dép tôi rời khỏi bàn chân lúc nào tôi không hề hay biết, một vết cứa của mảnh chai làm máu ở bàn chân tôi chảy ra nhèm nhẹp. Tôi địu anh ta ra khỏi nhà rồi kêu cứu. Mọi người ùa đến cởi trói cho bé lớn, khi khiêng được con bé em ra thì miệng nó sủi đầy bọt, mắt trợn dọc, da thịt lạnh ngắt, nó đã tắt thở từ giữa đêm. Tôi giao anh Phong cho một thanh niên khoẻ mạnh lực lưỡng. "Để cho cha con tôi được chết! Hoàng đạo, Hoàng đạo, Hoàng đạo…" Giờ, anh ta mới nói được thành lời, giọng kéo dài van nài.
"Má… má bỏ đi, ba giận má nên bắt tụi con phải "đi" cùng với ba… Ba nói: "Để cho má ân hận". Ba cho tụi con ăn bánh tráng cuốn măng kho, còn ba chỉ ngồi uống rượu, đàn suốt đêm. Bỗng ba nói lớn "Giao thừa rồi, đây là phút giây Hoàng Đạo, cha con mình lên đường thôi. Kẻ phản bội, kẻ đi theo trai phải ở lại, phải ân hận cho đến kiệt sức mà lẽo đẽo đi theo. Đàn bà ghê gớm quá ta, ghê gớm quá ta! Ha ha ha… Ba đập mạnh cây đàn xuống nền nhà rồi cười lớn, rồi khóc cũng lớn, con và em con khóc theo. Ba đổ thuốc vào miệng em, con không chịu nên bị trói vào cột nhà, con cắn chặt miệng lại tới giờ này… Ba chắp tay vái lạy con mãi rồi bước tới bước lui chỗ sợi dây: "Con phải uống để cho ba yên tâm mà đi. Cha con mình phải có nhau chớ con!"... Em con chết rồi hả? Em ơi!..." Nghe con bé lớn bù lu bù loa kể lể, ai cũng rớt nước mắt. Cổ họng tôi nghẹn cứng, ruột tôi đau quặn từng cơn, tim tôi thắt lại. Ai đó vừa vào trong nhà đã kêu váng lên: "Trời! Có cái dây thòng lọng treo sẵn này." Anh Phong chợt hát lên nghêu ngao những lời vô nghĩa: "Thế thôi, thôi thế, thế thì thôi. Thì thế thôi! Thì thôi thế!..." Đôi mắt vốn đã thất thần của anh giờ dại hẳn đi. Người thanh niên lực lưỡng thả anh ra, một nhóm công an đến tra hai tay anh vào chiếc còng số tám rồi dìu lên chiếc xe U- oát màu rêu, chiếc xe khuất rất nhanh trong đám bụi đỏ mù mịt. "Thế thôi, thôi thế, thế thì thôi…" Giọng anh ta vẫn còn nghêu ngao nhừa nhựa vẳng lại. Con bé có hai cái nơ xanh đong đưa theo bím tóc chạy theo, nước mắt lưng tròng, giọng lạc bay trong cơn gió vừa thốc lên cuốn xoáy cả rác rến của một góc làng Da Beo: -Ba ơi! Ba ơi!... Tiếng kêu của nó cũng nhanh chóng lạc mất trong buổi sáng mùng một Tết, cái buổi vốn trời rộng đất dài, tưng bừng hoa lá nhất trong năm…

Tôi chế cho mình ly trà thứ ba sau khi uống cạn ly thứ hai mà không biết mình uống từ lúc nào. Tôi chợt nhớ đến cái kết cục của chuyện anh chị Phong mà rơi nước mắt: Sau khi anh bị bắt, một người hàng xóm nhận nuôi bé lớn, con bé có chiếc nơ xanh, còn bé nhỏ được sự giúp đỡ của bà con láng giềng, mỗi người một tay mà có được nấm mồ nho nhỏ. Tôi cầm ly trà trên tay dự định: Sáng mùng một Tết năm nay, tôi đạp xe ra thẳng bờ suối chứ không ghé nhà anh Phong như thường lệ, thanh niên nam nữ làm ở các lò gạch thường kéo nhau ra suối chơi rất sớm, nhưng chợt nhớ lại hình ảnh chị Phong nằm tắm ngửa phe phẩy người trên mặt nước, tôi lại rùng mình, da thịt như có điện gợn dọc gợn ngang từng hồi. Tôi linh cảm mình ra đó trước sau gì cũng gặp chị trong tư thế lạ lùng đó, mắt mơ màng ngước lên trời, mà mồ hôi lạnh của tôi vã ra ướt đẫm hai bên thái dương. Tôi không tin chị đã đi theo trai, hoàn toàn không tin. Tôi chế thêm nước nóng vào bình trà nhưng cứ ngồi nhìn chiếc máy ảnh và cuốn biên lai mãi đến gà gáy. Tôi nghĩ nhiều về nghề đi chụp hình của mình, lợi ích lớn nhất là nó giúp tôi quan sát cuộc sống: quan sát buồn hay quan sát vui cũng là quan sát cuộc sống bởi tất cả cũng là hai mặt của một vấn đề mà thôi. Cũng lạ thật, tôi đi trên những đợt sóng buồn vui cực độ bao nhiêu năm nay mà chưa bị những đợt sóng ấy dìm cho chìm đắm. Lần này, quả là sinh tử sự đại, khi uống ly trà thứ hai, với tiếng kêu của con bé có hai chiếc nơ xanh ấy khuâý động, tôi đã không còn giữ được nụ cười trầm tĩnh bình thường.

Tôi hít một hơi thở vào căng tràn lồng ngực, từ từ thở ra, cố khởi tâm chấp nhận, không tránh né, coi đó là một phần cuộc sống. Với cách làm thường xuyên như vậy đến gà gáy canh hai thì tôi đã nở được nụ cười; nhận thức cuộc sống của tôi là một sự cảm thông mầu nhiệm, có thể nói không ngoa như vậy, bởi lúc này đây, tôi đã không còn phân biệt thợ chụp ảnh và người được chụp ảnh, chúng tôi cùng sống với nhau. Cây câm xe trổ hoa vàng ở đầu làng Da Beo là một thực tại và đó cũng chính là tôi, một thợ chụp hình không đẳng cấp, không vai vế nhưng tràn ngập cảm thương trong lòng. Tôi đưa ly trà lên môi, lướt qua khỏi xung lực ban đầu, đến cung thứ hai thì nước của dòng suối ấy chợt sâu hơn, bông của cây câm xe vàng thêm và vòng tròn Hoàng Đạo hiện lên, hiện lên trọn vẹn, tròn đầy, như mặt trăng, mặt trời, như đàn ông, đàn bà đủ đầy bước vào ngày đầu năm trời rộng đất dài.


Dưới chân núi Tà Cú, 11/ 2006




NGUYỄN HIỆP


© Cấm trích đăng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả .




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC