TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái;
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).




















THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN


Chân thành cảm tạ anh Thế Phong đã cho phép đăng tải.
Từ Vũ


lá thư E-mail 4.

___________________

dien bonnie phan
bonniep@lifesci.ucla.edu.





"Nhận thư và ảnh đám tang anh Thượng Sỹ do ông gửi. Hôm nhận được, tôi vừa giận mình vừa ân hận, kỳ vừa qua, lu bu thế nào mà không đến thăm Thượng Sỹ. Nay nhìn tấm ảnh, tôi thất thần gần một nửa buổi không làm việc được.
Đã xuống thăm anh Sáu Cư () và tiện viếng bạn Nghiêu Đề nữa. Anh Sáu Cư mỗi ngày mỗi già yếu và càng sụm dần. Tuy nhiên, tinh thần vững, đứng trên thân xác đi lại không giữ nổi balance, muốn té nhào.
Nguyễn Đình Toàn đã tới Los. Chỉ mới liên lạc với nhau qua điện thoại.
Trưa nay ngồi ăn trưa với Phát, lại nhắc đến ông.
Hai chiếc áo của Bà Loan mắt mù, có lẽ Ông Văn Nghệ ráp làm một cho nó dầy, cuốn sách có gáy trông được.
Vài hàng vắn tắt đến ông, đây là lối văn thông tấn, như lối nói của nhà văn Hà Nội bây giờ; khi chê ai viết văn theo lối đặt hàng, qua quít cho đạt tiêu chuẩn yêu cầu. Thư sau sẽ dài dài hơn.
Noël vui. Năm mới An khang, Hạnh phúc và Thịnh vượng.
Los. Dec, 9.98.

28.9.96: Ngày đầu tiên, buổi sáng, non trưa, tôi chở bạn đến thăm anh Thượng Sỹ lần đầu. Tôi nhớ được ngày, tháng, năm; nhờ ghi chú sau tấm ảnh chụp chung với anh ấy, người chụp lại là họa sĩ Phan Diên. Buổi sáng hôm ấy trời hơi lạnh, nên nhìn tôi trong ảnh còn khoác chiếc áo gió – chiếc áo này lần chót nhìn được trong ảnh, bởi sau đó trời nóng, tôi gài vào xe gắn máy, rơi lúc nào không hay. Mắt trái của anh Thượng Sỹ đã hư, chỉ còn mắt phải nheo nheo nhìn mới thấy ảnh hình mờ ảo. Phòng khách của anh hẹp, lọt thỏm trong bộ sa-lông hơi kềnh càng, phía sau ảnh treo một tấm liễn nhỏ giấy màu hồng có chữ TÂM (Mặc Thu viết chữ Hán). Anh rất thích bức liễn của Mặc Thu tặng, khi tôi đem tới cho anh, do Mặc Thu nhờ. Cũng chỉ khoảng mười năm nay, tôi mới trở lại thăm anh, lần đầu cùng đi với lão tướng Thạch Thái Phúc (nhà báo đặc trách ở tòa án cho các báo trước 1975). Nhớ lại sau khi uống cà phê ở quán cà phê lề đường trước cửa trường Trung học Cấp 3 Bùi Thị Xuân, do vợ anh Phúc đứng bán. Gọi bậc trưởng thượng là anh, hơn tôi những gần hai giáp trở lên, với đời, như có vẻ xách mé – nhưng trong anh em văn nghệ, báo chí, là chuyện phải của thường ngày xử sự. Buổi ấy anh Phúc đưa cho tôi đọc một mẩu báo trên tờ Công An Thành Phố của Nguyễn Ngọc Lương (nhân vật truyện của Lý Lan, cô ta thấy chàng làm báo chưa hay bằng ai, mặc dầu là Chủ nhiệm tuần báo Tin Văn, viết truyện ngắn cũng chưa có gì gọi là được nhưng thường hay lên mặt dạy đời. Có lẽ trong chuyến cùng đi tham quan với Lý Lan, cô văn sĩ trẻ thấy mẫu người này nên đưa vào truyện nhỏ Qua đèo, mã số nhân vật không mấy bất lương, nhưng Lương thiếu g), dưới bút danh Nguyễn Nguyên, đưa tin nhà văn Thượng Sỹ chính xác nằm vùng trong kháng chiến chống Mỹ của Sài gòn. Chúng tôi đến cốt đánh tan mặc cảm cho anh, bởi từ ngày có mẩu báo ấy, anh không muốn tiếp ai là văn nghệ sĩ, báo chí của Sài gòn trước 1975. Anh Phúc nhắc tôi không nên đem chuyện này ra, đừng để anh Thượng Sỹ thẹn thùng. Tôi gật gật nhưng qua vài câu chuyện, anh cho biết Phạm Duy mới gửi ảnh chân dung, Phạm Cao Củng gửi thư – anh chàng này không biết có phải bạn tiền của Nàng Úc, tác giả Nàng Ái Cơ trong chậu úp hồi nào, bị Thằng Phải Gió gán cho bà coi đồng tiền lớn hơn Trung Hoa lục địa. Như anh Thượng Sỹ dẫn giải, anh gửi tài liệu văn học, sách in cũ ở Sài gòn mà anh ấy cần để in lại ở bên Mỹ kiếm tiền, nhưng có gửi về cho bạn bè ở Sài gòn, lại chắt bóp vắt khăn cổ chày ra nước. Thành ngữ này tôi chỉ dùng theo quán tính, thực ra chưa rõ ý nghĩa sâu xa tiềm ẩn. Tôi đem chuyện của Lương viết về anh như vậy xin anh cho biết ý riêng của anh. Anh sửng cồ với tôi, đính chính hùng hổ như cọp bị mắc lưới – lưới chẳng có trọng lượng nào với sức cọp, nhưng cọp vùng vẫy bao nhiêu vẫn chỉ phí sức, không thoát ra nổi. Hai chúng tôi ra về, anh Phúc trách nhẹ tôi việc hỏi thẳng anh Sỹ. Tôi biết tiếng anh, tất nhiên rồi, vì khi viết phê bình văn học, không thể không biết đến Ngự sử văn đàn (như Hồ Nam viết bài và in ảnh phỏng vấn anh sau này trên tạp chí Văn Hoá, 1997) của Tin Mới từ thời tiền chiến. Vào Nam đem theo cây bút phê bình vung trong mặt trận phê bình văn học Miền Nam. Anh không dùng bút danh cũ, nhưng Nguyễn Đức Long (1906-1998) qua tên ký dưới bài phê bình Tháng giêng cỏ non của Mai Thảo, Kiếp phong sương tiểu thuyết đầu tay của Thanh Thương Hoàng .v.v…, trên tuần báo Ban Mai của Phan Văn Chẩn. Báo đặt trụ sở và nhà in ở 1 Vassoigne, sau đổi Trần Văn Thạch và nay, tên danh nhân bạn học của Phạm Đình Trọng. Tôi nói vậy, bởi anh chàng ngổ ngáo này lúc là học trò quèn (sĩ tử), lớn làm loạn bị bạn học cũ Phạm Đình Trọng đem quân bắt theo lệnh triều đình. Chủ nhiệm Phan Văn Chẩn thân kháng chiến nên mời Lý Văn Sâm viết truyện ngắn; ký Bách Thảo Sương, được vài truyện đăng, sau Bách Thảo Sương đang nhâm nhi cà phê với bạn bè bị hai rờ-sẹt (công an chìm) khóa tay bắt đi. Thượng Sỹ ký tên Huỳnh Bội Hoàng qua mấy bài phê bình bị ngay ông Uyên Thao in báo Quốc Gia ở cùng đường, số nhà 33, lọt vào mắt. Ông Uyên Thao viết ngay hai bài phê bình của phê bình khiến dư luận văn học đánh giá hai bài có giá trị làm rúng động dư luận văn chương và danh tánh Huỳnh Bội Hoàng bị xoá sổ. Ông Tạ Tỵ, một người bạn thân với ông từ thời kháng chiến, viết về ông thật hay, lột tả được con người của nhà phê bình văn học lừng danh trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Tạ Tỵ gặp anh Sỹ trong gian nhà nhỏ với một chiếc giường tre, cũng nhỏ. Xin nhường đất cho họa sĩ vẽ chân dung người:
"…Cửa nhà không bao giờ khóa, ai muốn ra vào lúc nào tùy ý. Quấn áo bẩn mang ra ao giặt, xong, đem vứt lên mái nhà, lúc nào khô lấy xuống. Nếu có việc đi xa vài hôm, những chiếc quần áo cứ nằm nguyên trên mái, chờ tới lúc anh về. Bùi Xuân Phái lúc này cũng sống gần như thường trực ở Chợ Đại, do vậy mỗi lần tôi (Tạ Tỵ) tới đây, chúng tôi lại gặp nhau. Tôi và Phái xách giấy bút đi vẽ, lúc mệt, ghé vào nhà Thượng Sỹ, nghỉ. Chúng tôi vẽ hình Thượng Sỹ dán khắp vách nứa. Thượng Sỹ vốn không đẹp trai nên dễ vẽ lắm. Nhiều lúc đùa nhả, tôi vẽ Thượng Sỹ mặc bộ đồ của ông Adam, chống gậy đi mò mẫm trong đêm khuya. Nhưng tính tình anh rất dễ thương, nhìn thấy những nét vẽ, dù tử tế hay châm chọc, anh cũng chỉ cười và tự hào rằng cả khu Chợ Đại, không có gian nhà nào có được những nét vẽ của tôi và Bùi Xuân Phái. Trong thời gian kháng chiến, Thượng Sỹ không làm việc cho cơ quan nào, anh sống nhờ vào mấy đàn em chuyên buôn lậu giúp đỡ…" (NHỮNG KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ ĐÃ ĐI QUA ĐỜI TÔI, Tạ Tỵ, 1990 trang 78)
Thời gian này, tôi cho xuất bản cuốn Nhà văn hậu chiến 1950-1956, sách dầy 220 trang, khổ 21x27 in ronéo chữ còn chữ mất, bởi máy chữ Uyên Thao cho mượn, cũ ngang với thời gian đoàn quân thực dân Pháp đặt chân lên đất nước này. Mặc dầu có giấy phép xuất bản của Nha Thông Tin Nam Việt, in ra bán hai trăm đồng mỗi cuốn. Số tiền rất lớn, so với lương tôi khi ấy hai ngàn đồng/tháng. Trong tập Nhà văn hậu chiến 1950-56; không có một giòng chữ nào nhắc đến Thượng Sỹ, nhà phê bình văn học. Khi tập phê bình về nhà văn hậu chiến ra mắt, bài phê bình đầu tiên của Triều Đẩu đăng trên Bách Khoa (Lê Ngộ Châu), ông cho rằng:
"…Ông Thế Phong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Riêng về những nhà văn sau 1945. Đó là điều ai cũng mong đợi, bởi vì sau thời gian đó, chưa có ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà đằng đẵng 15 năm trời, đúng một thời luân lạc của cô Kiều. Ông Thế Phong có thiện chí làm công việc tiếp tay Vũ Ngọc Phan, mặc dầu giữa thời đại đáng lẽ tiến bộ về mọi phương diện này, ông đã không được may mắn có những phương tiện ấn loát và trình bầy như Vũ Ngọc Phan. Lỗi đó nhất định không phải hoàn toàn do ông rồi. A ha! Thời cuộc!. Công việc làm của ông Thế Phong đáng khen và khuyến khích, nhưng thực tế không làm thỏa mãn cho riêng tôi…".
Điều không thỏa mãn, ông Triều Đẩu phản đối việc tôi nêu bằng chứng Trúc Sĩ đạo văn của Nhất Linh và Khái Hưng qua tác phẩm Kẽm trống. Trúc Sĩ Nguyễn Đình Thái sinh năm 1918, kém Triều Đẩu bẩy tám tuổi, cùng viết văn trên tạp chí Thế Kỷ của Bùi Xuân Uyên vào những năm 50. Trước 54, ở Hà Nội, Triều Đẩu nổi danh qua Trên vỉa hè Hà Nội, tôi là kẻ mới vào nghề viết truyện ngắn vào 1952. Nên Thượng Sỹ rất đỗi không bằng lòng, vẫn chỉ là cách nói nhẹ. Ông mua một cuốn Nhà văn hậu chiến 1950-56, vào năm 1959, nay hoàn lại tôi, bìa chính mất, với hàng chữ: Kính tặng lại nhà văn Thế Phong, Sài gòn 2-1-1996, Thượng Sỹ. Tôi mở trong sách anh cho lại, những người quen được tôi nói đến, anh lấy bút đỏ đóng khung: Tạ Tỵ, Triều Đẩu, Phan Phong Linh .v.v…. Đoạn kết luận về Phan Phong Linh, tôi có trích ý kiến của Thượng Sỹ. Anh gạch đỏ đoạn này: "…Khóc Phan Phong Linh, Thượng Sỹ viết một bài nhận định về cuốn Thắng Cảnh Việt Nam Qua Thi Ca đăng trên báo Cải Tiến số 10 tháng 10.1956. Có những đoạn đáng xác như: “…Những bài viết trong Thắng cảnh qua thi ca Việt Nam của Phan Phong Linh không những chỉ có giá trị tồn cổ mà còn giá trị về văn học nữa. Người ta có thể dùng cuốn ấy trích làm những bài đọc hay bài giảng văn trong các trường trung học và tiểu học. Phan Phong Linh đã mang cả tâm hồn yêu nước và yêu văn học để viết nên cuốn Thắng cảnh trong thi ca Việt Nam, một cuốn sách hữu ích và trong đó gần hai trăm trang giấy, khổ lớn đã ghi bao hình ảnh đẹp và oai hùng của đất nước. Anh đi, người nào biết anh đều phải ngậm ngùi buồn tiếc. Buồn tiếc vì mất một người bạn tốt có đức, một văn hữu chân thành, một cây bút tài hoa…".
Công bằng nhận định, Thượng Sỹ, nhà phê bình văn học còn có công tâm, hơn rất nhiều người viết điểm sách khác. Sách của bạn bè, dở cũng khen hay, hay ít khen nhiều – không phải của phe cánh thì khỏi cần nói ra cũng biết phải chịu số phận nào. Viết phê bình, điểm sách chỉ có giá trị như một bài quảng cáo có đôi chút giá trị kỹ thuật phê bình văn học. Tôi viết bộ sách này, như một sự tình cờ bất chiến tự nhiên thành. Vì, trước khi muốn tạo cho mình tư thế một người viết văn có bản sắc riêng cần học hỏi kinh nghiệm của người đi trước. Như vậy, phải đọc tác phẩm của người đi trước lẫn người đương thời. Tác phẩm của Tự lực văn đoàn, Hàn Thuyên, Xuân Thu Nhã Tập, …, tác phẩm của các nhà văn độc lập đứng trong báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long, sách phê bình văn học của Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Trương Chính, …, tác phẩm của các nhà văn kháng chiến, các nhà văn Miền Nam giai đoạn 1945-50. Lý luận văn học khuynh hướng mác xít: Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc – các nhà văn khác như Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Thẩm Thệ Hà, Khổng Dương, Hoàng Tấn, Ái Lan, Vũ Anh Khanh v.v…, các nhà văn hậu chiến, thời kỳ Hà Nội 50-54, Nguyễn Minh Lang, Nguyễn Thiệu Giang, Sao Mai, Hoàng Công Khanh, Thanh Hữu, Triều Đẩu…. Vào Sài gòn 1954, đọc Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Chấn Phong, Phạm Thái-Nguyễn Ngọc Tân, Vĩnh Lộc, Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Doãn Quốc Sỹ, Tạ Tỵ v.v…, và những ý tưởng phản ánh lại thành bài viết, tập hợp lại thành sách nhận định văn học. Nhà xuất bản Khai Trí vào thời kỳ ấy, trên đường Bonard, có ý định xuất bản, bảo tôi đem bản thảo đóng gáy da, mạ chữ vàng (tạo vỏ bọc bề ngoài trang trọng, như có giá trị vĩnh cửu). Ông chủ đọc ít tháng, trao lại, không đòi sửa và thêm tên như nhà xuất bản Phạm Văn Tươi, song đòi mua theo kiểu lúa non. Ông ta mua đứt luôn, vì người viết chưa có tiếng tăm gì, mua với giá rẻ. Lúc này tôi rất đói, sau khi trải qua thời kỳ ăn ba đồng xôi, hoặc bánh mì rưới nước tương, muối ớt cầm hơi viết sách khoảng gần hai năm – tất nhiên là cần tiền trả nợ. Riêng thuốc lá nợ ông già Lịch xóm Chùa gần hai ngàn đồng, hàng mấy trăm bao Ruby Queen, còn anh chị Hai Nụ cho nợ trên một năm tiền cơm, tiền nhà. Tôi ra Vũng Tàu chơi, theo lời mời của Trần Phoóng (biệt danh nhà triệu phú Trần Hoài), gã mổ bò vào hạng thượng thừa ở đường Phan Thanh Giản, Vũng Tàu. Rồi tôi xoáy của anh ta mười ngàn đồng, về Sài gòn trả nợ anh chị Hai Nụ để ăn chịu và viết tiếp bộ sách. Nay đem bán rẻ, kiểu lúa non (ép giá) lại bán đứt đoạn, thật khổ tâm, chưa biết cách nào giải quyết. Tôi đi uống bia, lấy can đảm đến gặp ông, xin bản thảo về. Cho đến năm 1960, ông Lê Văn Thoan nhà xuất bản Bông Lúa, điều đình mua cuốn Nhà văn hậu chiến 1950-56, in 2000 cuốn lần thứ nhất với giá 4000 đồng. Tôi ký giao kèo với ông, nhưng thời hạn in trong vòng 6 tháng. Sau 6 tháng coi như hủy giao kèo, nếu sách chưa được in ra. Tôi mừng húm vì 4000 đồng lúc này rất lớn, đúng bằng số tiền ông chủ nhà sách Bonard ra giá cho toàn bộ Lược sử văn nghệ Việt Nam 1930-1956 gồm 4 tập. Trở lại với nhà phê bình văn học Thượng Sỹ, Tạ Tỵ có một cách nhìn, qua trang sách viết ra, rất quí trọng đàn anh văn nghệ. Ông vẽ chân dung Thượng Sỹ, in trong cuốn sách vào năm 1990 (33 phụ bản chân dung văn nghệ sĩ). Tấm này in mầu đen, đầu to, áo kiểu đại cán ba nút, tay chống ba-toong, đi guốc, tay bên kia xách đèn lồng. Bởi lẽ một ngón chân cái của Thượng Sỹ không giống người bình thường, tẽ ra một góc chiếm hai ba phân vượt khỏi bàn chân, không thể đi giầy tây được. Nếu Thượng Sỹ đi giầy, tất thợ phải đóng riêng và bốn ngón chân kia trong giầy, còn ngón cái phải thò ra ngoài, như đầu con vịt bị nhốt trong lồng. Rồi năm 1998, Phan Diên về Sài gòn thăm tiểu trường đình, đem theo mấy bức tranh chụp màu của Tạ Tỵ, cùng chân dung Thượng Sỹ vẽ màu rất đẹp. Phía trong áo đại cán ba nút (tôi gọi vậy), áo lót màu đỏ, mặt trời ở phía sau thân người, ngoài đèn lồng hình quả trám cũng màu đỏ, Thượng Sỹ đi guốc, chống ba-toong đang bước đi. Ngẫm lại, so với anh Thượng Sỹ, tôi còn sung sướng hơn anh nhiều. Sách phê bình văn học, in ronéo toàn tập, sau in typo được hai tập. Tập I Nhà văn tiền chiến 1930-45 dày 500 trang do anh Phạm Quang Nhàn, Nxb Vàng son Sài gòn tái bản năm 1974. Tập 4 Tổng luận 60 năm văn nghệ Việt Nam tái bản bằng typo do tôi bỏ tiền vào 1965, trên dưới 100 trang, in chữ corps 8. Tập sau này, Đàm Xuân Cận dịch sang Anh ngữ có tên A glimpse at the Vietnamese literature có tên trong danh sách tập 3 của Cornell University Libraries. Và Lý Lan cũng cho biết sách tôi đầy rẫy trong Thư viện Cộng đồng Iowa - thư viện lớn bậc nhất, như nhận xét của nhà văn trẻ Phan Triều Hải của TP Hồ Chí Minh tham dự hội thảo văn chương năm 98 ở Iowa. Cuốn Nhà văn Tiền chiến 1930-45 tái bản ở Mỹ nhiều lần, qua nhiều nhà xuất bản, từ XT sang tới nhà sách TQ ở Bolsa in lại, vẽ bìa mới, bán USD 14, mã số bìa 4 có hàng chữ 1948. Cuối năm rồi, nhà từ điển Dac Son N. Eustachon gọi điện thoại cho nhà sách này ở Bolsa, ông nói hớ mua cho tác giả, chủ nhà sách lớn TQ bèn thanh minh rằng chỉ bán, chứ không in đâu và đòi thêm 3 đôn cước phí gửi sách từ Cali đến Houston. Tôi nói may hơn anh Thượng Sỹ, bởi lẽ trên dưới 60 năm trong nghề văn, anh chưa có một tác phẩm nào được in thành sách, trừ một cuốn mỏng dính khoảng mấy chục trang nói về Chế độ đại nghị Anh, trong Loại sách Người dân học tập của NXB Thế Giới, giám đốc Nguyễn Văn Hợi. Cuốn đầu trong loại sách này là cuốn Tổ chức chính trị thế giới, người viết Thế Phong, viết tựa là Nguyễn Đức Quỳnh (ký Hà Việt Phương) in vào năm 1955, hơn hai trăm trang. Tôi dự định sưu tập một số bài của anh từ thời tiền chiến đến hậu chiến, in thành sách. Ban đầu anh gạt đi nói là không cần thiết – nhưng sau anh im lặng. Cứ như cách lý đoán của văn hóa Tây phương, im lặng là đồng ý; tôi chắc anh bằng lòng và đến nay tôi cũng chưa in cho anh được. Tôi định viết thư cho Phan Diên về ý định in sách này; như có lần Diên muốn đóng góp tài chính. Rồi tôi nhớ lại cách đây ba, bốn năm, Ngân Giang vào Nam tham dự buổi ra mắt tập thơ mới xuất bản ở Nhà Văn hoá Thanh niên ở đường Duy Tân cũ. Buổi ấy trời mưa, nhưng Thượng Sỹ bảo con gái Hàm Anh chở đến tham dự. Có Hoàng Như Mai diễn giả và người cầm máy chụp hình là Lữ Quốc Văn tham dự. Xin phép được thêm vài lời về chàng này. Tốt nghiệp Sư Phạm khoá đầu 1957, gồm có Nguyễn Khắc Ngữ, Tạ Quang Khôi…. Ra dạy học ở Phan Rang, trường của Nguyễn Quảng Tuân hiệu trưởng, tác giả cuốn Giảng Văn Lớp 7 (cuốn sách này cũng có danh sách trong Thư viện Đại học Cornell). Nguyễn Khắc Ngữ giới thiệu L.Q.V viết bài gửi đăng trên tạp chí Trình Bày. Sau 1975, anh cầm bút viết lại, những bài tạp văn, truyện ngắn, điểm sách ký Nguyễn Quốc Văn. Một buổi, anh đến tòa soạn tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh đưa bài mới; cô tài vụ mời vào lãnh nhuận bút. Anh cầm bút định ký tên nhận nhưng liếc mắt qua bài nào được trả, hóa ra Văn này không phải Văn kia. Nhà giáo Nguyễn Quốc Văn tham gia cách mạng nay hưu viết trên báo Sài gòn Giải Phóng về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi; còn là tác giả bài báo mà cô tài vụ định mời anh ký nhận tiền. Đôi khi bạn bè quen anh khen bài viết về anh Trỗi rất hay, anh lắc đầu quầy quậy, nên quyết định đổi tên Quốc Văn Nờ cho khỏi lẫn Quốc Văn Kờ. Quốc Văn Nờ hay Lờ đều không ổn. Anh lại thông báo cho anh em quen, từ nay đổi tên khác: Lữ Quốc Văn; nhưng anh không hí Điêu Thuyền đâu, tự nhận mình đối với đàn bà dát như cáy, coi phụ nữ như mẹ non. Thượng Sỹ đợi dài cổ không thấy Lữ Quốc Văn mang hình lại; bèn nhắn hết người này đến người kia. Thanh Thương Hoàng vốn có giọng nói kích, kiểu dương đông kích tây, tuy chẳng hại anh em nhưng nghe rất xóc óc. "Anh Thượng Sỹ nhắn đem hình Ngân Giang lại anh trả tiền. Hay là Cờ-Vờ-Lờ chỉ chụp ảnh, bấm tách không phim". Cờ-Vờ-Lờ lờ tịt cả năm không mang hình Ngân Giang lại. Thượng Sỹ kể chuyện, hồi Ngân Giang làm ở Nha Thông Tin Bắc Việt; nhà ở bãi Phúc Xá. Có đêm mưa gió, đã rủ anh về nhà ngủ lại. Coi như chúng ta đều là đàn ông; nằm chung trên giường, đêm lạnh kéo chăn đắùp chung. Nhưng Thượng Sỹ cứ trơ khấc – đàn ông mà chẳng còn cái ấy. Chay. Suông. Ai tin hay không. Tuỳ. Và chẳng biết có phải người ấy là mối tình đầu của anh không, không thấy Tạ Tỵ nhắc đến; Nói về Thượng Sỹ sau khi dinh tê về Hà Nội: "…Tôi được tin Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương dinh tê, rồi đến Bùi Xuân Phái, Sao Mai, Hoàng Công Khanh và Thượng Sỹ. Tôi đến thăm từng người. Đinh Hùng không còn sống một mình mà có thêm cô vợ trẻ, người nhỏ thó, bụng mang bầu. Vào thành, đời sống của Đinh Hùng cũng chẳng khá hơn lúc trước, vẫn phải nhờ vả vào người bạn Mạnh Thường Quân, cả Vũ Hoàng Chương cũng vậy. Bấy giờ các xóm ca nhi không còn hoạt động, nếu còn, chắc cũng mất đi không khí ngày xưa, vì đời sống kinh tế cũng như chính trị đổi khác. Chẳng cứ gì Đinh Hùng đã có vợ mà Bùi Xuân Phái, Sao Mai cũng vậy. Riêng Thượng Sỹ gặp lại người tình cũ tại Hà Nội, nàng đã có chồng con, nhưng vì lý do nào đó, không còn chung sống nữa, Thượng Sỹ bèn đem về làm của riêng, vì anh vẫn còn mê nàng…"
(sách đã dẫn, trang 118)
Một buổi, Lữ Quốc Văn và tôi đến thăm Thượng Sỹ. Lần này, Văn đem ảnh Ngân Giang lại. Thượng Sỹ cầm ảnh lên, không biết anh có nhìn rõ người yêu cũ không; nhưng lại lắc đầu quầy quậy: "Tôi không quen biết người này". Nhìn cái xiết tay giã từ tôi rất chặt; bởi muốn chứng tỏ mình còn rất khoẻ, đầy đủ sức lực, sinh khí tràn trề. Nhưng mắt phải của anh chớp chớp, nước mắt chảy ra. Theo chủ quan nhận xét của tôi, anh dỗi.
Một lần nữa, tôi đến anh chơi vào khoảng 4 Tết, năm 1996. Mười một giờ trưa đến anh, mừng tuổi và rủ anh đến thăm Lê Văn hồi hương, nay dọn về khu cư xá Huỳnh Văn Chính, Phường 19 quận Tân Bình. Lê Văn ở trên lầu 2 – số nhà 220, khu C. Anh leo ngon ơ ba cầu thang và nói chuyện Tết với vợ chồng anh Lê Văn. Có vui mấy, chỉ nửa tiếng là anh đòi về, hoặc đi chơi chỗ khác. Tôi nghe anh kể về chuyện ngủ chung với Ngân Giang, coi nhau như bạn trai, lại không phải đồng tính luyến ái!. “Và đàn bà, con gái mê tôi ghê lắm ông ạ. Trái lại, tôi chẳng mê ai hết!”. Tôi đề nghị anh đến thăm nhà thơ nữ Thư Linh. Anh gật đầu, cho biết bà là con dâu cụ Tuần Vịnh, anh quen cụ từ ngày xưa còn dâu cụ, đây là lần đầu tiên gặp. Anh biết cả phu quân của Thư Linh qua đời vào từ tháng 11 năm 94. Thư Linh vốn là người của Đông Đô, Băng Sơn đến thăm cũng nức nở khen, nếu không thanh lịch chẳng là Tràng An. Rồi Kiều Liên Sơn, dân Cầu Giấy trọn đời, gật gù: “Nữ sĩ rất thanh lịch, như người Hà Nội trước 54”. Anh Thượng Sỹ ngồi ở tràng kỷ, phía trong cùng, tôi ngồi ngoài. Hai vị trò chuyện râm ran, hết thi ca đến chuyện gia đình cụ Tuần Vịnh; chuyện Hà Nội năm xưa, ăn kẹo Thụy Sĩ, uống trà sen thơm ngọt lưỡi và cả lạc rang thật ròn. Chị Thư Linh thường nói đùa: "…tôi rất thích lạc rang, vì Lạc còn là tên tôi". Ngồi nghe, tôi cũng không thể ngủ gục vào giấc trưa quen ngủ; bởi hai vị nói chuyện rất lôi kéo, có duyên, tràng cười ròn tan từ phía này sang phía kia, của khách, của chủ. Hôm ấy mưa lất phất, trời chiều lòng vũ vô kiềm tỏa… mấy tuần trà vẫn phải gọi chị Mai quản gia đem nước sôi lên. Nhìn đồng hồ 16 giờ, tôi giục anh ra về. Anh như dùng dằng nửa ở nửa về; chủ nhà vẫn nài khách, khách không biết phải làm gì. Còn tôi, người chở thồ khách văn nghệ, trên chiếc xe gắn máy, gọi đùa là xe Nàng TTKH. Xe gắn máy chở văn nghệ sĩ Sài gòn cũ như: Thư Linh, Lê Ngộ Châu, Thượng Sỹ, Thanh Thương Hoàng, Lữ Quốc Văn, Thái Thuỷ, Thanh Chương, Khải Triều, Phổ Đức, Uyên Thao, Lê Hoàng Long, Hoàng Vũ Đông Sơn , Trần Nhật Thu, Hoàng Xuân Việt, Hoàng Tấn, Lý Văn Sâm, Dã Lan, Giang Kim, Nguyễn Mạnh Đan, Lý Lan, Nguyễn Ngọc Lan, Hoàng Hương Trang, Văn Quang, Phạm Hữu Khánh, …. Khách Hà Nội như giám đốc NXB Văn hoá Thông tin Quang Huy, Băng Sơn, Vân Long, Nguyễn Hà, Nguyễn Thiệu Giang, …. Khách càng xa hơn nữa, cách cả nửa trái địa cầu như Phan Diên, Hoàng Khởi Phong, Lê Văn (nay hồi hương), bà Vương Hồng Loan, mới ở Florida về thăm Sài gòn.v.v.., và hai khách sau cùng là hai nhà thơ đặc biệt: Ý Nhi, Trưởng Chi Nhánh NXB Hội nhà văn đã sáu năm nay ký vào Thẻ Đọc của tôi tại Thư viện khoa học Xã hội và một trúng giải thơ phong cách Vương Đức Lệ…. Gọi xe thồ nghe không ổn, bởi thồ là chở hàng, còn chở người gọi thồ, với tôi – nhất định không được. Gọi là xe ôm; nghe tục, nhưng nếu đúng chỉ đúng với vợ tôi và một số văn hữu nam chết nhát như Cờ-Vờ-Lờ, nay anh em thường gọi Thằng To Đầu, ngồi phía sau đưa hai ngón tay móc vào passant quần tây người lái xe thồ thì đúng. Đành gọi xe thồ chở người văn nghệ; tất nhiên tôi từ chối nhận tip. Đôi khi cẩn thận, sòng phẳng như nhà gia phả Dã Lan, hay Hoàng Thư đổ đôi lít xăng cho lái xe thồ đôi lần. Có bạn hỏi, xe gắn máy của tôi, nghe đâu là tiền bản quyền từ cuốn sách gây họa văn chương – từ trong Nam ra ngoài Bắc; địa phương đến Trung ương (thường viết TW), ra ngoài nước, Mỹ, Canada, Úc, …, ì xèo dư luận. Khen ít, chê nhiều, đòi kiện, tiểu sát tử đòi thanh toán mạng. Hỡi ôi, TTKH - NÀNG LÀ AI?, hay là TTKH - AI LÀ NÀNG?. Có lần, một bạn mang tên nửa Thế Nhật giận tím mặt vì Thằng To Đầu mà anh chỉ biết qua tên Cờ-Vờ-Lờ, tin vịt ai phao không rõ xuất xứ. Rằng nửa Thế Nhật này được ghép với nửa Thế Nhật kia phải chung ba triệu. Phải mấy năm sau, tin tai bay vạ gió này mới theo gió bay đi, Trần Nhật Thu trở lại với Cờ-Vờ-Lờ bằng câu: "…Xin anh cho bài Con Mèo kịp vào xuân Kỷ Mão". Hình như tôi thấy anh cũng phởn chí, khi được mời viết bài; có lần anh khoe với tôi: “Xuân Văn Nghệ Thành Phố chỉ có tôi và Lý Lan được trả năm trăm ngàn một bài”. Rồi lì xì cho người phát tiền, gặp anh em văn hữu thân, anh lặp lại điệp khúc này, trên một lần hơn. Thượng Sỹ bảo tôi hỏi Thằng To Đầu lấy lại mấy tài liệu văn học quí giá anh trao cho anh ta. Tôi biết anh giận anh Văn – nhưng tôi chẳng hỏi làm gì. Vẫn lại chuyện tấm ảnh Văn chụp Ngân Giang đưa đến tay anh gần hai năm sau, anh trả ảnh, dõng dạc phán: “Tôi chả quen người đàn bà này”. Thượng Sỹ giận dai chẳng kém Mai Thảo bên Huê Kỳ. Đắc Sơn gọi chàng này là: “nhà văn ngông nghênh thời thượng Mai Thảo được quạt rất mạnh tay, các nhà thơ hôm nay như Du Tử Lê, Nguyễn Tất Nhiên cũng được chiếu cố khá kỹ”. Ý ông Đắc Sơn N. Eustachon, nhà từ điển Việt-Anh, muốn nói tới cặp phê bình gia văn học ở Huê Kỳ là Thu Vân và Trần Nghi Hồng viết phê bình nhận định về các nhà văn hải ngoại. Thu Vân này chính là Trần Thị Bông Giấy từng viết bài Phạm Duy, ông là ai?, đăng trên Sài gòn Nhỏ Los Angelès. Gọi đích danh nhạc sĩ Việt Nam ăn lương Mỹ làm nhạc chống Cộng khi Mỹ đang tung hoành ở Việt Nam. “Nay Mỹ đã thay đổi, những người Việt Nam làm việc ăn lương Mỹ cũng phải thay đổi luôn. Có nên nghi ngờ rằng Phạm Duy cũng là một trong những người Việt Nam này (…). Tuy nhiên khi sự tự cao tự đại lên đến hàng “các ca khúc quần chúng yêu thích và tôn vinh xưa nay đều chỉ là viết ra trong cầu tiêu". Bà Trần thị Bông Giấy còn đưa ra câu chuyện Phạm Duy tị nạnh với Trịnh Công Sơn, qua câu chuyện nhỏ được kể: "…Tôi (TTBG) được nghe câu chuyện từ ông Lê Hữu Mục. Phạm Duy một lần nói với ông tiến sĩ Trần Văn Đoàn, giáo sư đại học Đài Loan: - Nếu tôi ở Nhật, người Nhật sẽ nuôi tôi suốt đời vì tài âm nhạc của tôi. Ông Trần Văn Đoàn hỏi lại: - Thế anh có biết chính phủ Nhật đã nhiều lần mời Trịnh Công Sơn sang Nhật và trả cho Sơn một giá rất hậu không?. Anh bảo anh có tài, vậy tại sao họ chẳng mời anh?”.
Hoặc cũng vẫn ông Trần Văn Đoàn bàn về thiên tài nhạc của Phạm Duy như thế này: "…Trong một cuộc trình diễn ở Đức, Phạm Duy tuyên bố giữa nhiều người: - Nhạc của tôi không thua gì các symphonie của Beethoven. Ông Đoàn bèn hỏi Phạm Duy: - Anh bảo nhạc của anh không thua gì các symphonie Beethoven. Vậy xin hỏi, anh có phân biệt nổi thế nào là một symphonie với một concerto không?. Phạm Duy cứng họng… ".
Rất tiếc anh Thượng Sỹ qua đời không biết được chuyện, bởi Phạm Duy, người thường xuyên gửi thư cho Thượng Sỹ, cả hình ảnh và coi nhau như bạn tâm giao. Tôi không nghe Thượng Sỹ khoe, như Phạm Duy có cho tiền đô gửi một chút này làm tin không?. Nhưng nếu có – hẳn đồng đô này quý giá lắm, vì trong bài viết về Phạm Duy, TTBG còn cho biết một chi tiết khác "…ai cho tôi chỉ mười ngàn đô thôi, tôi sẽ ca tụng X… hết mình".
Đó là lần cuối tôi chở anh đi chơi vào mùng 4 Tết 96 như nói ở trên. Trên đường về nhà anh, tôi hỏi về suốt mấy tiếng đồng hồ trò chuyện với Thư Linh ra sao?. Anh khen nữ sĩ,ø người vẫn đẹp; hèn nào nói rằng năm 1940, ảnh Thư Linh in trên bìa báo Xuân Đàn Bà của Thụy An là có cơ sở và thơ Thư Linh hợp với khẩu vị phê bình văn học của anh.
Cao Mỵ Nhân, học trò cũ ở Hải Phòng, viết trên Saigon Times ở Cali, tháng 11/97, có đoạn nói về thiên chức bình văn của thầy Thượng Sỹ: "…Tôi đã tập làm văn, làm thơ từ thuở đó (thuở còn học TS) nên vô Sài gòn tôi tiếp tục gởi thơ thiếu nhi, truyện nhi đồng tới các báo. Báo Phụ Nữ Diễn Đàn thường đăng thơ của tôi vào cuối thập niên 50. Thầy Thượng Sỹ trở lại nghề của Thầy, viết báo và điểm sách, cái công việc mà theo thiển ý của tôi, người đọc sách và phê bình sách phải công tâm ghê lắm mới chịu chỉnh cán cân cho ngang bằng được, chớ vì nội tình, ngoại cảnh chi phối, một chút lơi là, thiên chức bình văn hại cả bạn vàng ngay.
Nhà văn, nhà báo Thượng Sỹ hay để tính chủ quan bộc phát, nên chi chính ông xuất hiện cùng thời với nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan từ thời tiền chiến xa xôi mà sự nghiệp hình như không bề thế lắm, ông vẫn đứng lại ở những cột báo, khiêm nhường như không tha thiết lắm cái … nghiệp dĩ trước mặt ….(…). Song với nhà văn thì phải có tác phẩm và nhà báo phải có ấn bản lưu giữ, để đời… còn thầy Thượng Sỹ của tôi chỉ có cái danh suông. Song le, muốn có cái danh suông thôi, cũng không phải là đơn giản, ông đã phải viết bao bài vở, đăng bao nhiêu lần với danh xưng Thượng Sỹ, cho dù bài vở của thầy Thượng Sỹ đã in sâu vào tiềm thức bạn đọc suốt hai phần ba thế kỷ nay, nhưng vẫn là một lâu đài mộng xây trên khói mây của một người cầm bút trọn cả cuộc đời…"
Buổi đưa tang Thượng Sỹ đúng vào ngày mưa gió, thời tiết Sài gòn bị ảnh hưởng áp suất nhiệt đới. Bữa trước đó, Thư Linh đã đọc một bài thơ khóc Ngự sử văn đàn rất cảm động. Người đến viếng càng xúc động hơn khi nghe Phổ Đức với giọng ngâm còn rất mạnh, ấm, thiết tha:

“Nhớ từ thuở trường văn trận bút
Ngôn luận dài chẳng chút kiêng dè
Người quí nể, kẻ ngại e
Phê bình văn học chẳng che giấu gì
Lời chính trực cần chi khen bậy
Ý cao minh mực giấy thẳng dòng
Văn đàn ngự sử … đời phong
Thanh danh Thượng Sỹ như cồng rền vang.
(……………………………………………. )
Anh đã mất, khóc thương cũng mất
Viết nhớ anh chất ngất lời đau
Trăng thu mờ ẩn nơi đâu
Một ngôi sao tắt mái lầu sương rơi.”
THƯ LINH

Thạch Thái Phúc chống gậy, tóc râu bạc phơ, đi đứng không lấy gì làm vững chãi. Cung Mạnh Đạt, chủ báo Hà Nội ngày xưa còn mạnh hơn cụ Phúc. Thanh Thương Hoàng được Cung Mạnh Đạt gọi bằng cụ, vẫn còn: “Cảm ơn ngày xưa cụ ký cho em căn nhà bên Làng Báo Chí…”. Và chủ soái Hàn Thuyên, giáo sư thành Đạt Ma (Nguyễn Sỹ Tế xưng tụng Nguyễn Đức Quỳnh) hoặc Ông Trùm Vito Corleone trong phim truyện The God Father, dầu nhắm mắt rồi vẫn làm cho kẻ thù run sợ (Phan Lạc Phúc phong tước) … cũng cúi đầu, rỉ rả nói nhỏ: “Cậu cấp cho tôi một căn nhà bên ấy nhé, được không?”. Hoàng bèn nhận lời cảm ơn của Cung Mạnh Đạt, nhưng không nhận cách xưng hô cụ bởi Chú Tư Gà vẫn tự khai sinh năm 1940, đến năm 2000 mới vừa tròn sáu chục. Thư Linh mặc bộ đồ đen, nhắc Thằng Phải Gió đừng đùa giỡn, như trước từng viết về TTKH - NÀNG LÀ AI?. Nguyễn Hải Phương, thi sĩ nổi lên sau 1975, luôn nhận mình: bạn thâm giao Đinh Hùng trước 1975, Lữ Quốc Văn, Lê Cao Phan, Hoàng Vũ Đông Sơn, …, trí nhớ tôi bây giờ sa sút, chẳng nhớ hết được!. Đến lò thiêu Bình Hưng Hoà, gặp con gái nhà văn Lê Văn Trương, cô Giáng Vân. Có cả Hồ Nam chở Vương Đức Lệ đến lò thiêu Bình Hưng Hoà tiễn Thương Sỹ. À quên, có cả Nguyễn Hùng Trương, ông luôn luôn tránh đời áp đặt cho mình cái nhìn tự ti mặc cảm, thích tự xưng ông với mọi người. Lại viết tắt là Ô. Khai Trí. Vậy, chủ nhà xuất bản lớn vào bậc nhất của Sài Gòn cũ, có lần tôi chống ông mua lúa non tác phẩm của tôi. Hai chúng tôi tránh mưa và cơn ám khí đang lùa thổi mạnh như bão vào nghĩa trang này. Chúng tôi tìm hai ghế trên xe buýt, ngồi đàm luận văn chương, xoáy vào cuốn Thơ tình chọn lọc Việt Nam và thế giới của D. Khai Trí chuẩn bị ra mắt. Sở dĩ tôi viết D. Khai Trí là từ chữ đồng nghĩa của Ô. là Dù. Và Dù viết tắt là D. Xin tha thứ, xin tha thứ hết lòng… nếu đọc đến đây khiến phải chau mày. Cứ như quảng cáo, trên 600 thi sĩ trong và ngoài nước, hải ngoại, thơ dịch ngoại quốc, cả Simonov của Nga, cả Evtouchenko từng có tập thơ Ánh Sáng Tương Lai, tự ông vứt xuống cầu Moscova, vì tự biết tiền bản quyền và tập thơ thuộc loại thơ đặt hàng, v.v…. Có in thơ Mai Thảo, nhưng thơ Tạ Tỵ in rồi bỏ, lấy thơ của người khác thay thế. Ở đây, đủ thi sĩ thượng vàng hạ cám, từ đông sang tây, từ đầu cực đến cuối cực; thích, trích dăm bảy bài; không ưa, một bài thật ngắn – rồi cho vào một cái thúng, xóc lộn lên, đem rao bán 150 ngàn, so với số trang hơn ngàn, khổ 14,5x20,5, mang nhãn Nhà xuất bản Thanh Niên - Giám đốc Chi nhánh ở TP. HCM biên tập, nhà thơ Thái Thăng Long. Tôi muốn đề nghị với D. Khai Trí ký tặng bản đầu tiên cho Ngự sử văn đàn Thượng Sỹ, nhưng sao lại không nói thành lời. Anh Thượng Sỹ, giá anh còn sống, anh có nhận bản đầu tiên và sử dụng cánh tay còn đủ mạnh viết một bài giới thiệu cuốn này cách phải lẽ; không run tay làm xiêu tó nội dung. Anh còn nhớ học trò cũ, bà Cao Mỵ Nhân nhắc nhở “…phải công tâm ghê lắm mới chịu chỉnh cán cân cho ngang bằng được, chớ vì nội tình, ngoại cảnh chi phối, một chút lơi là, là cái thiên chức bình văn hại cả bạn vàng ngay…”. Vĩnh biệt anh Thượng Sỹ, với những chai bia Sài gòn ở quán 326 Nguyễn Cảnh Chân Quận I; uống với Lê Văn, Lữ Quốc Văn – và chủ quán, một cô rất xinh, học trò cũ của thầy Văn ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa.
Từ nay, cô chủ quán không còn gặp cụ Thượng ngồi cùng bàn với chúng tôi nữa. Một vì sao, Ngự sử văn đàn ra đi giữa cơn bão văn chương hoà đồng với bão áp suất thấp nhiệt đới trong ngày.



( còn tiếp ... )


THẾ PHONG

THƯ VIẾT Ở SÀI GÒN
do VĂN UYỂN xuất bản và phát hành

Điạ Chỉ Liên Lạc Mua Sách :
Nhà xuất bản VĂN UYỂN
PO Box 1882
San José, Calofornia 95109, USA
Email: ttbg@sbcglobal.net


© Hình Ảnh trong tác phẩm đăng tải là tư liệu của nhà văn Thế Phong .

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC