Ea Sola!
“Hạn Hán và Cơn Mưa” Đâu Rồi?








Quý bạn đang nghe Nhớ Về Hà Nội
qua tiếng guitare của nhạc sĩ Văn Vượng




Tôi nhớ lại những năm 1995, đạo diễn múa Ea Sola (người Việt quốc tịch Pháp) trở về Hà Nội. Một thân một mình, Ea Sola tìm đến những phụ nữ nông dân Việt Nam đang ngày đêm “Bán mặt cho đất, bán lưng cho giời” để đưa họ lên sân khấu, thành diễn viên múa. Dù gặp vô vàn rào cản, Ea Sola đã thành công tại Việt Nam với vở kịch múa “Hạn hán và cơn mưa” do chính những phụ nữ nông dân kể về đời mình qua ngôn ngữ cơ thể họ.

Ea Sola là một thiếu nữ rất xứng đáng để tôi yêu phục. Cô bị “tấn công” dồn dập từ những quan niệm nghệ thuật cổ hủ, ngưng trệ. Và cả thói ngạo mạn của những người đi trước, có tý quyền lực, luôn nghĩ mình là “cái rốn của vũ trụ”, “nhất quả đất”… Có lúc Ea Sola chạy ào vào nhà riêng của tôi, vừa “vét cơm nguội trong nồi” vừa kêu cứu vừa khóc. Là TBT báo Phụ Nữ Thủ Đô, tôi điện thoại cho ông Trần Hoàn, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

Tôi nói: “Cô Ea Sola đang khóc ở nhà riêng của Mai Thục. Anh có cách gì giúp cô ấy không?”. Ông Trần Hoàn bảo: “ Những chuyện xảy ra với Ea Sola đáng phải khóc lắm”. Và ông tắt máy.

Tôi hiểu như vậy là ông Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương có ý ủng hộ và tin tưởng Ea Sola. Tôi khuyên cô: “Đừng sợ! Em cứ kiên nhẫn theo đuổi màn kịch múa đầy sáng tạo mang phong cách châu Âu hiện đại, kết nối, vực dậy truyền thống Việt Nam”.

Với “Hạn hán và cơn mưa” Ea Sola đã thành công tại Việt Nam và Pháp cùng một số nước châu Âu.

Mười năm sau. Năm 2005 “Hạn hán và cơn mưa” phần II được trình diễn tại Thủ đô Paris. Duyên kỳ ngộ. Con gái Vũ Mai Trang (26 tuổi) của tôi đang theo học tại Paris đã xem buổi biểu diễn này. Cô bé Mai Trang đã viết bài bình luận, cảm nhận sâu sắc vở vũ kịch “Hạn hán và cơn mưa hay câu chuyện không bao giờ kết về nỗi đau của sự bế tắc ngừng trệ.”.

Bài viết được gửi về Việt Nam đăng trên VietNamNet ngày 25- 11- 2005 đổi tên là “Nghĩ về Hạn hán và cơn mưa phần II”. Tôi đọc bài, thầm vui và viết email cho con gái “Con đã lớn lên trong lòng mẹ cùng máu, nước mắt, mồ hôi, sông núi, cánh đồng, con người, Trời Đất Việt Nam”.

Hà Nội Thu 2012. Con gái tôi mang cả chồng và hai con nhỏ dại, cậu bé thứ hai còn đang bú mẹ, sang Thụy Điển học Tiến sĩ. Nhớ con, nhớ cháu cồn cào. Tôi mở file tư liệu, bỗng hiện ra bài “Nghĩ về Hạn hán và cơn mưa phần II” đang chạy trên VietNamNet.

Tôi nhớ tới Ea Sola. Bây giờ đang em ở đâu? Sao không trở về cánh đồng vàng Việt Nam để « Nghĩ về Hạn hán và cơn mưa» phần III. Em quên những người đàn bà chới với trong màn tang rồi sao? Về đi em! Cánh đồng xanh mượt xuân thì, sóng nón lá nhấp nhô đang chờ đợi em ?

Ea Sola! Hạn hán và cơn mưa đâu rồi?


_______________________

Nghĩ Về Phần 2 Hạn hán và Cơn mưa

Mười năm trước, năm 1995, Hạn hán và Cơn mưa đầu tiên của Ea Sola đã ra mắt công chúng Pháp với những người phụ nữ nông dân 50 - 70 tuổi đến từ làng quê Việt Nam, thể hiện một màn trình diễn cảm động về nông thôn, con người, thiên nhiên, tập quán với phong cách dân tộc cổ truyền. Hạn hán và Cơn mưa* lần này, với những nghệ sĩ múa chuyên nghiệp, trẻ từ Nhà hát Ca Vũ Kịch Việt Nam, tập trung nhiều hơn về đề tài ký ức và nỗi đau chiến tranh.

Hai câu chuyện khác nhau, nhưng vẫn trung thành với đề tài cánh đồng và chiến tranh. Cánh đồng và chiến tranh, phải chăng đó là hai hình ảnh, hai giá trị văn hóa duy nhất mà Việt Nam có thể mang tặng cho nhân loại? Vẫn là như thế từ rất lâu, và vẫn là như vậy, ngay cả một tác phẩm múa hiện đại cũng đưa hai ám ảnh đó lên sân khấu, lần này là sân khấu khuôn tròn sang trọng Théâtre de la Ville giữa trung tâm Paris một buổi tối đầu đông năm 2005, trước những vị khán giả khăn áo đen và nước hoa thoang thoảng.

Hai câu chuyện khác nhau, nhưng vẫn trung thành với đề tài cánh đồng và chiến tranh. Cánh đồng và chiến tranh, phải chăng đó là hai hình ảnh, hai giá trị văn hóa duy nhất mà Việt Nam có thể mang tặng cho nhân loại? Vẫn là như thế từ rất lâu, và vẫn là như vậy, ngay cả một tác phẩm múa hiện đại cũng đưa hai ám ảnh đó lên sân khấu, lần này là sân khấu khuôn tròn sang trọng Théâtre de la Ville giữa trung tâm Paris một buổi tối đầu đông năm 2005, trước những vị khán giả khăn áo đen và nước hoa thoang thoảng.

Nhưng khán giả đã đến đầy kín cả nhà hát, không còn chỗ trống, mà đêm nay đã là đêm diễn thứ tư, đêm diễn cuối cùng. Lòng thấy tự hào, một niềm tự hào vô tội: đất nước tôi được đón nhận, hoặc ít ra được cam kết được tìm hiểu. Nhưng cũng thoáng lo âu… Liệu cái nhân loại đó sẽ nhìn sâu được vào những gì chất chứa trong hai khái niệm đó, hay sẽ là tò mò như đi xem một cái gì đó Việt Nam ethnique, exotique, chiến tranh, một cái gì hay hay như một thứ đồ artifact từ một nền văn hóa ít được biết đến, và chỉ dừng đến thế?

Một tiếng 15 phút trôi qua. Giờ tôi lại ước cái nhân loại đó chỉ dừng cảm thụ của họ ở hình ảnh exotique. Và chỉ dừng lại ở đó. Và vỗ tay. Một đại diện đến từ Đông Dương. Văn hóa lúa nước Việt Nam. Những người nông dân. Chiến tranh (ai cũng biết!) Ngôn ngữ múa hiện đại, đôi lúc khó hiểu một chút (cũng dễ tha thứ thôi vì là nghệ thuật hiện đại) với những thân người tạo hình một cách khá bạo liệt (hay vì thế mà có một số, rất ít thôi, nhân loại đã khảng khái bỏ về. Văn hóa châu Á chắc chắn phải là những áo đỏ vàng, nhạc trống chiêng!)

Là cánh đồng, hạn hán hay là chiến tranh. Nhưng tôi ước ít có người nhận ra trong cái sân khấu trống rỗng phủ chói mắt một màu trắng đó chính là cánh đồng miền Trung đất nước tôi khô cháy vì thiếu nước. Tôi ước ít người nhận ra tiếng trống đầy màu sắc cổ truyền dân tộc kia lại chính là tiếng trống ráo riết tuyệt vọng cầu mưa. Tôi ước ít có người nhận ra trong cảnh người diễn viên áo váy đen lướt qua sân khấu trong khúc nhạc “Đừng xa em đêm nay” là cảnh chiến trận hoang tàn với người vợ đơn côi lẻ bóng nhớ chồng hàng đêm, tiếng ru con não nề như tiếng hờ người tử trận. Tôi ước họ chỉ thấy những bức ảnh diễn viên rước trước ngực là một cách tạo hình ẩn dụ gây tò mò, chứ không phải là những bức ảnh thờ, những nỗi đau chồng, con, người thân mất xác…

Và trên hết, tôi cầu cho họ đừng nhìn thấy trong những cử động múa lạ lẫm hình ảnh con người đất nước tôi, những con người nhỏ bé. Như một lũ kiến hoang mang chạy loạn trong cơn vỡ tổ. Như những con ếch con nhái quằn quại giãy giụa. Trong hạn hán. Trong binh biến. Đó là hai scène múa được Ea Sola nhắc lại nhiều lần. Motif bầy kiến và con ếch, theo cách gọi của tôi. Những con người khốn khổ suốt ngày bán lưng cho đất, sống nhờ vào đất, vào tự nhiên. Để rồi khi nguy biến xảy ra cũng chỉ biết ngẩng mặt lên trời trông chờ mưa, chờ một lời giải đáp, một sự cứu thế. Một cách tự nguyện. Một cách nhỏ nhoi… Bị động. Ngưng trệ… Cũng có một sự chuyển biến. Các diễn viên có thêm đạo cụ: túi xách (hay tay nải, khăn gói quả mướp), đôi dép. Họ đi, họ đi tìm cái gì? Vẫn vật lộn, vẫn quằn quại, vẫn hoang dại, hành trang của họ còn là những bức ảnh… Nhưng ánh sáng đã chiếu vào đôi tay họ, một màu đỏ máu, màu đỏ nhuốm lên những bức ảnh…

Các diễn viên trẻ Nhà hát Ca Vũ Kịch VN trên sàn tập Hạn hán và Cơn mưa

Sau tất cả những thứ đó, tôi chắc cuối cùng cũng là cơn mưa đến. Bởi sau những hiệu ứng âm thanh chà xát nhưng lại rất đục, tiếng róng riết vải xé trong micro, gây một không gian chờ đợi căng thẳng, vang lên tiếng trống theo nhịp - như một cơn mưa rào. Họ đã đến đích rồi ư? Hạn hán, chờ đợi cơn mưa, đi tìm cơn mưa, và rồi cuối cùng cơn mưa cũng đến. Nhưng sau những giây phút nhịp điệu đi chậm lại với những đôi tay đưa nhẹ hơn, những khuôn người trôi hứng mưa, lại là hỗn độn, lại là giãy giụa, lại là quằn quại. Và nhất là vẫn không gian đấy, giờ đây lại còn trở nên chật hẹp hơn, với những cử động khó đoán hơn, rối tinh hơn. Lũ kiến bị nhốt chạy lung tung… Những con ếch giãy chết. Một cô gái gõ cửa vào tấm lưng, nhưng tấm lưng không mở (tuy tôi không thấy sự cần thiết của chi tiết này lắm, khi nó gợi nên cảm giác đó là một nỗ lực của Ea Sola làm cho vở diễn của chị trở nên “có nghĩa” một cách “rõ ràng” hơn). Những họng súng chĩa vào thái dương người đàn ông (hình ảnh này được dựng theo một bức ảnh chiến tranh nổi tiếng chụp trên đường phố Sài Gòn?) rất nhiều lần, họ có bắn không hay chỉ làm động tác hành hạ tra tấn, tôi không biết (nhưng cả chi tiết này cũng vậy, đã làm giảm cảm giác về sự hỗn loạn hoang mang đám đông, và có lẽ là không cần thiết bởi chủ đề sự vô nghĩa của chiến tranh hình như đã rõ quá rồi). Và kết thúc vở diễn vẫn là người đàn bà mặc áo đen lướt qua sân khấu với khúc nhạc dân ca thê thiết và lời hát Đừng xa em đêm nay… Không có gì đổi khác, không có gì cải thiện hơn. Nếu không nói là tệ hơn vì cùng người đàn bà đó còn là một cô gái trẻ, tóc phủ kín mặt tang thương, cũng trong trang phục đen. Nỗi đau của sự ngưng trệ, chết dần chết mòn. Không biến đổi, tù đọng, ngưng trệ, bao đời vẫn thế, kể cả sau khi con người ta đã phải trả giá…

Đọc trên tờ giới thiệu chương trình sau buổi diễn, tôi thấy Ea Sola cũng luôn trăn trở với câu hỏi: liệu châu Âu có thể nắm bắt được nền văn hóa này không, nắm bắt được cái tâm hồn của những con người nơi thẳm sâu bị quên lãng? Ước muốn của chị là đưa hình ảnh Việt Nam đến được với cộng đồng thưởng thức nghệ thuật thế giới, một hình ảnh, dĩ nhiên, theo cách diễn giải của chị. Với Hạn hán và Cơn mưa lần này, theo nhận xét của nhà phê bình Jean-Marc Adolphe in trong tờ giới thiệu chương trình, Ea Sola đã đặt được đất nước của chị trên scène thế giới, bởi chị đã chứng tỏ được Việt Nam có thể sáng tạo một sự thể hiện đương đại nền văn hóa cổ truyền của mình, mà không cần lệ thuộc vào ảnh hưởng truyền thống mà cũng không vay mượn hay sao chép những trào lưu phổ biến khác. Báo Le Monde 8/11/2005 nhận xét Ea Sola sử dụng ngôn ngữ múa độc đáo “không bị áp chế bởi một trường phái nào”, khi các cử chỉ múa được giảm thiểu để lặp lại trong một số động tác nhất định. Quả thật, một đất nước, một văn hóa Việt Nam, những cliché về cánh đồng và chiến tranh đã được thể hiện theo một phong cách hoàn toàn khác. Và cũng hơi khác một chút với ngôn ngữ múa chị đã sử dụng trong Hạn hán và Cơn mưa đầu tiên, khi những diễn viên - cụ già nông dân chủ yếu thực hiện những động tác đơn giản, “đơn thuần là hành động thân thể, không ràng buộc bởi quy tắc nghệ thuật”, Ea Sola nói, một dụng ý thành công khi thể hiện tâm hồn chất phác giản đơn bác học kiểu nông dân (phong cách từng bị các chuyên gia nghệ thuật múa Việt Nam lên án là “không phải là múa, càng không phải là múa đương đại Việt Nam” [1]), vở múa lần này chị từng bước kiếm tìm “chuyển động thẳng căng” trong ngôn ngữ cơ thể những nghệ sĩ múa. Những khoảng lặng không âm thanh tiếng động, im phắc nặng nề đặc quánh… Tiếng trống dồn dập nhức óc… Tiếng mặt bàn chân miết trên sàn, tiếng thở… Ngôn ngữ hình thể những tấm lưng trần tưởng bạo liệt nhưng thật mong manh… Ánh sáng trắng hạn hán khô khốc. Ít có động tác vươn cao mà phần lớn cử chỉ và thân mình hướng xuống dưới, với những cơn lắc, cơn co giật ngang, những cái tung đầu hất tóc mặt chìm xuống dưới… diễn tả sự giãy giụa bế tắc. Tôi hiểu phải có vốn hiểu biết và tình yêu (đến đau đớn) đáng kinh ngạc của Ea Sola về một nước Việt cánh đồng và chiến tranh mà dường như có thời chị từng bị từ chối khỏi cộng đồng của nó (tôi sẽ mường tượng như vậy, với một cô thiếu nữ lai sinh ra trong những năm chiến tranh, lưu vong năm 1978 với một tương lai mịt mờ, lang thang tay trắng, không tên tuổi, vô định trên những đường phố Paris) mới có thể nắm bắt được những nét tâm hồn ẩn kín của đất nước đó, con người đó, để tái hiện lại trên sân khấu như vậy.

Chính phong cách đó, tập trung ngôn ngữ hình thể hạn hẹp để diễn tả nỗi đau bế tắc, đã chuyển tải thông điệp “giọng nói êm dịu của vết thương” đến những vị khán giả Tây đang vỗ tay kia. Không thể che giấu được, dù tôi có ước. Cánh đồng và chiến tranh, với tất cả những thứ liên quan đến chúng, dù sao cũng không thể chối bỏ được. Đấy là những gì gắn bó với đất nước tôi, đã trở thành đất nước tôi. Và cả cái thông điệp của sự tù đọng ngưng trệ nữa… cũng là một phần của đất nước tôi rồi.

Hình như Ea Sola cũng muốn tránh cái cliché đó, cái “ách” đó: đây còn là câu chuyện, là nỗi đau vô nghĩa tưởng như không bao giờ kết mà con người khắp nơi trên thế giới này đã phải trải qua. Màn ảnh thờ, chị sử dụng ảnh người từ nhiều chủng tộc chứ không phải chỉ người tóc đen da vàng; màn kết, chị lồng cho các diễn viên nói những câu giới thiệu tên bằng đủ thứ tiếng, và cùng lúc trên màn hình sân khấu là những cái tên châu Á châu Mỹ châu Phi châu Âu châu Úc hiện lên dồn dập chồng chéo cho đến khi chúng lẫn nhòe vào nhau; trang phục của diễn viên cũng không là trang phục cổ truyền của Việt Nam, cũng không phải đặc trưng cho bất cứ một dân tộc nào; rồi sự xuất hiện của những chiếc mặt nạ, nét mặt của con người biến mất, không tính cách, không đặc điểm nhận dạng - đơn thuần họ là con người.

Dù gì thì cliché cũng không dễ dàng phai nhạt, khi có thể nhìn nhận nó đã trở thành một phần của bản chất. Thôi thì ước các khán giả bên cạnh việc tiếp nhận những cánh đồng, chiến tranh, những tù đọng trong những tác phẩm đến từ Việt Nam, vẫn không quên nhận ra giờ đây những tác phẩm đó đã được thể hiện một cách hoàn toàn khác, hiện đại hơn, nên thơ hơn, mà cũng đau xót hơn, điều trước đây chưa có, và cũng là điều chứng tỏ nỗi đau của sự ngưng trệ tù đọng kia dường như đã bắt đầu chuyển động.


    MAI TRANG (Paris)


GHI CHÚ CỦA VIETNAMNET :

* Hạn hán và Cơn mưa, Vol 2. Kịch bản, biên đạo, hình ảnh, sân khấu, trang phục, ánh sáng: Ea Sola. Âm nhạc: Nguyễn Xuân Sơn. Ánh sáng: Takayuki Fujimoto. Đạo diễn hình ảnh: Brian Ring. Cùng các diễn viên Nhà hát Ca Vũ Kịch Việt Nam. Công diễn tại Nhà hát Théâtre de la Ville, Paris, 7-10/11/2005

Nguyên bài viết có nhan đề Hạn hán và Cơn mưa hay câu chuyện không bao giờ kết về nỗi đau của sự bế tắc ngưng trệ. Chúng tôi (VietNamNet) đặt lại nhan đề .
GHI CHÚ CỦA NEWVIETART :

VietNamNet đã ghi dưới bài đăng tên tác giả là FNAC .
Thực ra tác giả bài viết là MAI TRANG , Mai Trang đã gởi bài từ một cửa hàng bán sách, máy vi tính, truyền hình ... có tên là FNAC tại Paris - Pháp.

________________________________________________________

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 02.10.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com