Tây Yên Tử Mùa Thu










Người ta mơ một khoảnh khắc thu Hà Nội. Hồ Gươm những quả sấu chín rụng bên thềm. Vài chiếc lá thu rơi, mong manh sợi nắng. Tôi mơ một thoáng thu trong rừng già cùng gió hoang vu.

Mùa thu Tây Yên Tử trong rừng sâu Sơn Động tỉnh Bắc Giang, gieo nhạc ướp hồn tôi. Bản nhạc rừng. Lao xao tiếng suối chảy, lá reo. Tiếng gọi diết da của nàng Bạch Tuyết nghìn tuổi trong rừng Tây Yên Tử.

Sơn Động, cái tên gợi hình ảnh rừng điệp trùng và hang động thâm u, huyền bí. Sơn Động là huyện miền núi cao, vòng cung Đông Triều, phên dậu vùng Đông Bắc Tổ quốc, tỉnh Bắc Giang, trong danh thắng Yên Tử. Trung tâm Sơn Động nằm gọn trong thung lũng An Châu như lòng chảo rộng, lô nhô mái ngói đỏ tươi, vàng thơm hương lúa, được bao bọc bởi tầng tầng, lớp lớp, những cao xanh nhấp nhô mờ sương. Những dãy núi lớn điệp trùng: Mặt Quỉ, Đèo Chinh, Đèo Họa Mi, Khe Rỗ, Vân Sơn, Cẩm Đàn… Núi Mặt Quỉ sừng sững trước thung lũng Sơn Động. Núi có khối đá hình giống mặt con Quỉ, ngang ngửa hiện diện giữa thanh thiên bạch nhật. Người An Châu- Sơn Động biết vậy mà chẳng tỏ ra phẫn nộ đối đầu. Đời cha cho đến đời con, họ thản nhiên nhìn vào Mặt Quỉ và dũng mãnh leo lên mình Quỉ, tra hạt, gieo mầm, mùa nào thức ấy, làm ra nông sản nuôi người, để cho Mặt Quỉ trở nên nhân hậu. Họ đã nhìn rõ Mặt Quỉ nên không sợ Quỉ.

Họ hát ca:

Mặt Quỉ cái tên sao rợn thế
Mà sắn ngô xanh lút mặt người.

Dòng sông An Châu chắt chiu dòng nước ngọt lành từ muôn ngọn núi cao tích tụ, tỏa lan, tưới hồng gương mặt thiếu nữ các dân tộc, bản làng Sơn Động: Cao Lan, Sán Chí, Sán Chay, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa, Dao... rồi mê mải chảy về xuôi. Hợp dòng với sông Lục Nam, nuôi cánh đồng vàng.

Từ Thị xã Bắc Giang về Sơn Động khoảng tám mươi cây số, vượt đèo qua đèo, núi choàng ôm núi, ngược sông An Châu phun trào sự sống, ta có cảm giác dòng sông chảy ngược, đưa phù sa sông Lục Nam về Sơn Động. Ơi con sông ngược xuôi nghĩa tình! Không tháng. Không ngày. Lặng lẽ tuôn chảy, chở phù sa như lòng Mẹ thao thiết vỗ về, trao gửi thương yêu đến mọi vật, mọi người, mọi vùng đất sa bồi. Sông chẳng nói một lời mà thao thiết đổ vào lòng ta. Sông không thốt lời yêu mà dạt dào không năm tháng.

Mỗi năm sông An Châu vui mùa lễ hội vào tháng tư, gọi trẻ già, trai gái các dân tộc tụ về khoe sắc áo, đàn môi, thả thuyền độc mộc, bơi chải, vui vầy, reo hò và cầu nguyện:

Nước dâng đầy cho thuyền thêm bồng bềnh
Trăm thứ tốt tươi, các điều đều ứng
Nhà nông hội họp hát ca mừng vui

Sơn Động mùa Thu. Lá rơi xao xác mà rất nhẹ. Tiếng giun đất cào cào thầm thì kể chuyện tình yêu.

Chuyện kể rằng ngày xưa người Dao (có tám, chín sắc tộc Dao: Thanh Y, Thanh Phán, Dao Tiêu, Dao Đại...) đôi trẻ yêu nhau tha thiết nhưng không lấy được nhau. Cùng nhịn thở mà chết. Chàng trai đau đớn quằn quại hóa con giun đất. Cô gái buồn chao chát biến thành con cào cào. Mỗi khi mưa ướt rừng, chàng giun đất thấm lạnh, râm ri than khóc. Nàng cào cào nghe tiếng người yêu khóc, bay đến úp bụng vào lỗ giun. Thoáng phút giây, gặp bước chân người, cào cào vội vã bay đi...

Chuyện tình của giun đã giữ chúng tôi ở lại cùng Sơn Động một đêm thu.

Rừng phập phồng thức ngủ. Côn trùng ca râm ran. Trăng nồng nàn xa vắng. Hoa dại ướp sao khuya. Cỏ cây rung ân tình.

Thung lũng An Châu. Sớm thu sương giăng choàng sông núi màu lam bay nhè nhẹ. Sương mờ khói dẫn chúng tôi về bản Mậu đợi mưa, nghe tiếng chàng giun đất khóc cho tình yêu bị bước chân người xua đuổi.

Nhưng trời yêu chúng tôi mà không mưa. Rừng trải nắng vàng thu mơn man Tây Yên Tử. Rừng dâng tặng bức tranh thu vàng diệu huyền muôn màu sắc. Rừng quyến rũ. Rừng bí ẩn như tâm hồn. Ai yêu ai mà huyền linh bí ẩn. Dâng sức mạnh nhiệm màu.

Ô- tô của chúng tôi nhẹ nhàng uốn lượn qua những khúc đèo vòng vèo mây cuốn. Lên dốc xuống khe. Những thảm lúa vàng ngây ngất ôm ấp chân núi. Rừng trập trùng choàng vai ấp má, pha màu xanh đa sắc điệu của thông, tre, nứa, vầu, quế, trám, và các loài cây gỗ, cây ăn quả, cỏ lá, hoa dại... Lâng lâng nâng tôi vào mộng. Thiên đường là đây. Rừng Tây Yên Tử cổ tích. Nàng Bạch Tuyết thơm hoa hồng thiếp ngủ.

Trưởng phòng Văn hóa Sơn Động, La Triệu Vân, biết gọi tên đủ màu của cây, nghe muôn điệu tiếng chim rừng. Anh chỉ cho chúng tôi: «Những cây vòm lá xanh đen kia là lim. Mùa hoa, mật ong hút nhụy từ hoa lim rất ngọt».

La Triệu Vân kể về rừng trám nguyên sinh thân trắng, đứng thẳng đều tăm tắp đang hẹn mùa lấy nhựa trám làm nến, làm trầm hương thơm nao nức :

- Rừng ở đây có nhiều cây trám trắng. Có những cây gốc hai người ôm. Mùa Đông, người ta vào rừng chọn những cây trám già, dùng mũi dao chích vào thân cây rồi lấy vỏ con trai (vỏ trai khum khum như lòng bàn tay) cắm phía dưới, hứng nhựa, giống như người ta lấy nhựa thông hoặc nhựa cao- su. Mỗi người chọn cho mình những cây trám, tự mình tạo ra con đường riêng của mình. Con đường đi từ gốc cây trám này đến gốc cây trám khác xuyên qua các cánh rừng lấy nhựa làm nến, gọi là Đường Nến. Đường Nến như Đường Đời. Mỗi người tự mình thắp nến mà đi. Đức Phật bảo thế! Cứ mỗi cây trám, sau năm ngày hứng nhựa đã cho hai, ba cân nhựa nguyên chất. Người Sơn Động từng bước thoát đói nghèo nhờ mỗi người biết tự thắp con Đường Nến. Nhiều Đường Nến mở ra lung linh rừng núi, bản làng. Mỗi hộ dân Sơn Động được giao chăm sóc khoảng một ha rừng. Họ yêu rừng như say người thương, sớm tối không rời. Đường Nến sáng thơm mách bảo họ không đổi đất lấy tiền giấy, vàng rởm của bọn bất nhân.

Đường Nến dẫn chúng tôi lên bản Mậu- xã Thanh Sơn dưới chân Chùa Đồng Yên Tử. Đèo dốc quanh co, suối khe gập khúc, ô- tô lắc lư, chộn rộn. Chúng tôi vui lan man bởi những chuyện tình huyền thoại, pha nét hài hóm hỉnh của thầy giáo Tân, người Tày:

- «Chiêm bản Gà, ma bản Mậu». Bản Gà xã Thanh Luận gần bản Mậu, gạo chiêm ngon ngọt dẻo thơm hương núi, chỉ cần xì dầu cũng ăn được dăm bảy bát.

Gái bản Mậu đẹp mê man. Trai bản không với tới được. Ngày xưa gái bản Mậu là đặc sản tiến vua. Hình như mẹ các nàng gần bảy trăm năm trước là những cung nữ theo vua Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu. Vua không cho theo cùng. Các nàng nhảy xuống dòng suối tự tử. Vua phải lập đàn Giải Oan. Nhưng cũng có những nàng chẳng dại gì mà chết oan. Họ níu bám cùng rừng vui sống tình rừng. Họ ăn ở với những người đàn ông Dao hồn hậu, dũng mãnh, chân chất tình đời, ái ân nồng ấm. Họ tự giành lấy hạnh phúc trần gian, lập nên bản Mậu. Con gái họ xinh đẹp lộng lẫy hoa rừng, kiêu sa dáng mỹ nhân, lại tiến vua...

Đàn bà bản Mậu hồn nhiên như cỏ. Họ là phiên bản của cung tần, mỹ nữ được gần vua, nên chẳng sợ Mặt Rồng, hay Mặt Quỉ. Có bà phạm tội phải hầu tòa. Trước vành móng ngựa, bà thản nhiên xưng «Chị», gọi quan tòa bằng «Em».

Quan tòa tức tối sẵng giọng:

- Này phạm nhân kia, không được gọi quan tòa bằng em.

Bà cười toe toét đáp :

- À, chị quên.

Những chuyện vui ngất ngưởng như thế, làm chúng tôi quên mệt.

Ghé thăm Khu bảo tồn Tây Yên Tử, tôi dán mắt vào bức ảnh Cây Thông Ngàn Tuổi gọi là Bạch Tùng. Tôi mê mải ngắm Bạch Tùng cổ tích được phong là Nàng Bạch Tuyết Nghìn Tuổi trong rừng Tây Yên Tử. Nàng dáng thanh cao, thân bệ vệ, bề thế, mấy người ôm không xuể. Nàng đứng một mình sững sững, đường hoàng, oai linh, sang trọng, vút cao, cành lá chạm mây trời mà nghĩ suy, trầm mặc, thành kính về thiên nhiên, vũ trụ, con người, cỏ cây, muông thú, côn trùng, vạn vật, đất đá, bóng tối, ánh sáng... Tất cả đều cùng bản thể với nàng. Cùng chung một cơ thể sống với nàng. Nàng nâng niu sự sống vĩnh hằng thiêng liêng ấy trong lặng im thánh thiện. Nàng có chờ ai, đợi ai không? Đá núi, mưa ngàn, sương lạnh, trăng sao, cỏ cây hoa, suối rừng già, mặt trăng đêm, mặt trời bừng tỏa, tiếng vượn hú, hổ gầm, tiếng chim lạ, tiếng côn trùng, tiếng thì thầm linh diệu Thiên Địa Nhân tự tình... êm đềm ru nàng thanh thản giấc ngủ nghìn năm. Nàng có muốn thức dậy không? Có còn chàng Hoàng tử nào đi tìm nàng không? Hỡi Nàng Bạch Tuyết nghìn năm tuổi của rừng thiêng Tây Yên Tử?

Đến Khu du lịch sinh thái Đồng Thông- Tây Yên Tử, chúng tôi đi giữa những tán rừng nguyên sinh trên con đường mòn vàng sỏi dẫn lên Chùa Đồng. Đường do người tự đi mà thành. Đi vòng vèo leo lên đỉnh cao Chùa Đồng Yên Tử. Chỗ nào dễ thì đi, khó thì tránh. Không húc phải đá. Không quàng phải dây. Có Trí Đức can trường. Đi đường nào cũng tới đỉnh non thiêng. Khoảng hơn một giờ leo dốc, người già, phụ nữ có thể lên đỉnh Chùa Đồng một cách nhẹ nhàng. Không phải đu vào những vách đá cheo leo thẳng đứng như ở phía Chùa Giải Oan lên.

Bạn Vũ Văn Nên chỉ cho tôi những cây đinh, lim, sến, táu, dẻ, kim giao, thông, tre, lát, trò chỉ, cây thông nàng, dây leo, cỏ thuốc... trong vườn sưu tập thực vật của Khu bảo Tồn Tây Yên Tử. Anh truyền cảm hứng cho tôi vê cây thuốc:

- Cây thuốc Yên Tử nhiều không kể xiết. Dân bản thường hái cây thuốc về chữa bệnh. Có cây Trầu Tiên lạ lắm. Nó là một dây leo dài mười đến hai mươi phân. Mọc thành từng giải một. Bám vào khe đá trên độ cao tám trăm mét. Có một lá nằm ở ngọn dây, lá mỏng xanh mềm giống lá trầu. Lá Trầu Tiên khô thơm quyến rũ. Ai bị đau bụng lấy một lá chườm xoa hoặc hòa nước uống là khỏi ngay. Vườn thuốc Nam của chúng tôi trồng được trên một trăm loài cây thuốc của núi rừng Yên Tử.

Tôi tiếc ngẩn ngơ. Không có nhiều thời gian để ngắm cây hoa lá cỏ rừng Yên Tử dạo nhạc dưới nắng thu.

Nghe anh Nguyễn Văn Hậu phó giám đốc Khu bảo tồn Tây Yên Tử nói về dự án của họ, tôi vốn mê rừng lại càng mê :

- Tỉnh Bắc Giang còn trên sáu mươi nghìn ha rừng tự nhiên. Riêng Sơn Động còn gần bốn mươi ha, chiếm 58 % diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh, có trữ lượng khá giàu tài nguyên. Khu rừng Bảo tồn Tây Yên Tử có diện tích khoảng hon mười nghìn ha, lớn nhất Bắc Giang thuộc các xã : An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận, huyện Sơn Động. Rừng ở độ cao 200 đến 1000m so với mặt biển. Rừng Bảo tồn Tây Yên Tử điều tiết khí hậu cho vùng Đông Bắc. Là khu dự trữ thiên nhiên vô cùng quan trọng. Nguồn tài nguyên lớn, tổng dự trữ gỗ gần một triệu mét khối. Có hơn bảy trăm loài thực vật, hơn hai trăm loài động vật, hàng chục loài động vật ghi trong sách đỏ Việt Nam: pơ- mu, thông, tre, đinh, lim, sến mật, gụ mật, lát hoa, trầm hương, ba kích, sa nhân... Các loại động vật: cu li, voọc đen, chó sói, gấu ngựa, khỉ vàng, hươu vàng, gà tiền, gà lôi, rùa vàng, rắn hổ mang chúa... Đặc biệt mới phát hiện một số loài mới thuộc hệ bò sát và ếch nhái có loài cá cóc sần mẫu sơn quí hiếm. Rừng Tây Yên Tử còn bao bọc một quần thể nhiều di tích lịch sử với cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn: Thác Giót, Đá Rạn, Ao Vua, Hồ Tiên, Suối Nước Vàng...

Rừng vàng. Biển bạc. Tôi vừa mừng vừa lo. Mừng trước nguồn tài nguyên rừng mà Thượng đế yêu thương ban tặng chúng ta. Lo gấp bội phần. Liệu dân mình có giữ được « Tiền rừng, bạc bể » như cha mẹ Rồng Tiên dạy không? Bọn Mặt Quỉ đội lốt người nó đang rình rập khắp chốn cùng nơi. Chỗ nào có tài nguyên hiếm quí, chỗ nào có đất đai phong cảnh đẹp tinh khôi, là chúng đánh hơi, đổ vào, xồ tới, đánh ụp Nhân Dân mà nhai ngấu nghiến. Bằng mọi thủ đoạn siêu cấp độ ngọt ngào, chúng cướp, phá, giết dân lành. Giết sự sống muôn vật, muôn loài. Giết không ghê tay, rợn óc.

Hiểu lòng tôi, anh Hậu nói :

- Chúng tôi đã tổ chức gác rừng, chăm sóc rừng, giao khoán rừng cho các hộ gia đình, trồng vườn ươm, nghiên cứu khoa học, kêu gọi đầu tư phục hồi rừng, trồng xả chiết xuất tinh dầu, trồng tre bát bộ lấy măng, trồng trám, bạch đàn... Dựa vào dân bản, giao đất giao rừng. Họ tự trồng cây, thu hái lâm sản, thuốc Nam và tái tạo gìn giữ rừng nguyên sinh. Mỗi người dân, mỗi hộ dân là một cây gậy sắt chiến đấu, giữ rừng, giữ đất.

Anh Hậu dẫn chúng tôi vào thăm nhà ông Trịnh Tiến Hồng, người Dao, trưởng bản Mậu. Ngôi nhà vườn xanh tươi lưng chừng đồi. Những cây vải già xòa lá xanh um tùm che nắng. Gà lợn chó mèo nhảy nhót dưới bóng râm. Rơm vàng quấn chân. Sân nhà thơm nức hương lúa vừa gặt.

Trong nhà gỗ lim của ông Hồng. Hương thuốc Nam tỏa ra từ những bao đựng thuốc. Mời chúng tôi chén nước cỏ thơm, ông Hồng hồn hậu chuyện trò:

- Cả bản Mậu làm thuốc. Bài thuốc Nam bản Mậu là gia truyền. Cây thuốc quí trong khu rừng này nhiều lắm. Gần một nghìn loại. Mỗi cây thuốc quí một cách chữa được một bệnh khác nhau. Ai có bệnh nội tạng đều có thuốc Nam chữa khỏi: xưng khớp, đau thần kinh, gan mật, thận, dạ dày, đại tràng… Không phải tốn tiền chen chúc vào bệnh viện. Đi bệnh viện là chỉ có mổ. Sỏi thận bé tý cũng mổ. Sạn mật cũng mổ. Hoặc được uống thuốc Tây cực đắt tiền. Càng uống nhiều thuốc Tây càng suy gan, suy thận… Chúng tôi chăm cây thuốc trong rừng. Hái thuốc lá cành, giữ gốc cây để gốc lại nảy cành, xanh lá. Thuốc hái về chữa bệnh cho mình và được phép mang đi chợ bán. Bản Mậu có một trăm năm mươi hộ dân, mười hộ người Kinh, được giao nhận bảo tồn bản Mậu, trồng rừng, giữ cây hoa, sinh vật, các di sản văn hóa dân tộc. Nhà tôi có pho sách chữ Nho ông bà để lại viết về các bài thuốc, phong tục tập quán.

Chúng tôi muốn mua thuốc xoa bóp. Ông Hồng chạy xuống nương lúa đón vợ về bốc thuốc. Chị tất tả đặt gánh lúa xuống sân. Cười giòn tan. Chị rửa chân tay sạch rồi bốc nắm lá Trầu Tiên, địa liền, hoàng cầm… đổ rượu thơm nương lúa để chúng tôi mang về phố.

Tây Yên Tử mùa thu. Anh Hậu miên man kể chuyện tình rừng. Anh yêu rừng. Yêu nét cười cô gái bản. Vẻ đẹp các nàng ghi tạc rừng xanh một chữ Tình. Trong rừng Tây Yên Tử, một con suối, một gốc cây già, một hòn đá nguyên sinh… cũng tạc chữ Tình. Cây đa Tình, Hòn đá đĩ, Giếng Tiên… Mỗi cái tên một chuyện tình. Cây đa Tình ngàn năm vẫn trẻ, xõa bốn thân to khỏe, chằng chéo xuống dòng suối trong veo để những bạn tình đến đây, khắc tên lên thân cây chảy nhựa mà kết thành đôi, sống mãi chữ Tình. Nhưng Giếng Tiên bị lấp. Bởi con gái bản uống nước Giếng Tiên trở nên xinh đẹp. Chỉ dành tiến vua. Trai bản không lấy được gái bản mình, nổi ghen mà lấp giếng. Hòn đá đĩ cũng bị họ đập vỡ tung. Xóa đi tục nuôi gái cấm cung chờ dâng tiến. Một đêm, tiếng đá vỡ động trời. Các cô gái tháo tung then cửa. Ùa vào rừng theo tiếng gọi tình yêu.

Tây Yên Tử mùa thu. Tiếng ve sầu dạo nhạc dịu êm hòa tiếng suối chảy, cỏ cây thì thầm. Không gian tĩnh lặng thẳm sâu. Không thời gian. Nàng Bạch Tuyết say ngủ cùng rừng.

Bất ngờ. Chúng tôi lạc vào nhà máy điện Sơn Động đang xây dựng, cách cung điện Bảy chú lùn một quãng thôi. Những xe ủi khổng lồ đang đào sập núi. Trong dãy nhà văn phòng, các ông Tàu xí xố, xì xồ vẽ vời, chỉ trỏ, làm chủ dự án. Nhà máy điện Sơn Động cháy lòe rừng thiêng, cho mỏ than Đồng Rì vùng vẫy, đánh đổ cây rừng Tây Yên Tử trầm tích thiêng liêng.

Chìm lặng… Lặng chìm… Không lời.

Tây Yên Tử mùa thu. Im lặng mấy nghìn năm nức nở. Mưa máu. Rừng cuộn sóng ngầm. Đất trời chuyển động.

Lặng im… Uất giận… Không lời.

Chúng tôi nhận ra “diễn biến hòa bình” không phải đến từ phương Tây mà là phương Bắc. Tổ sư nó là Trọng Thủy. Trọng Thủy ngang ngửa cưỡng tình duyên trắng trợn giữa đất rừng, đồng lúa, dòng sông, con hồ, biển đảo Việt Nam suốt mấy nghìn năm nay. Nó đã phá phong thủy Rừng Yên Tử thiêng liêng của Việt Nam và nhân loại (như núi Phú Sỹ của Nhật Bản) ngọt ngào như thế!

Dân Việt phải làm gì?

Lặng im… Hội tụ…Tiếng Trống Đồng âm vang.

Âm vang cuộn từ thẳm sâu rừng Tây Yên Tử. Dội vang toàn thế giới.

Tiếng Nàng Bạch Tuyết thức dậy. Vọng tinh cầu:

An Dương Vương! Người chưa tỉnh cơn say
Chén rượu tình ngọt, độc được cay
Nỏ Thần rơi vào tay Trọng Thủy
Máu Mỵ Châu nhòa lệ Đất Trời
Mấy nghìn năm ngậm một lời nguyền
Tình lừa ăn cướp nước Nam truyền đời
An Dương Vương ơi! Hỡi vua cha
Bọt bể bồ hòn! Xiết chặn nước non
Sông núi vỡ mòn, Mỵ Châu lông ngỗng
Gầm rung lên! Trống Đồng, Cồng chiêng
Tây Bắc, Tây Nguyên, Cửu Long, Miệt Vườn….
Quân Dân dũng mãnh hùng cường
Đồng tâm diệt giặc trong, giặc ngoài
Trông biển đảo không quên đất liền
Dân Chủ, Dân Trí, Dân Khí tường rào
An Vi Đạo Việt đón chào Tự Do
Đài Nghiên Bút Tháp nối sao tinh cầu.

Tây Yên Tử mùa thu. Nàng Bạch Tuyết nghìn tuổi vẫn trinh nguyên thơm suối tóc thề, thanh tịnh ru vạn kiếp. Lời ru âm vang cổ tích.

Tây Yên Tử mùa thu. Mây núi chạm trời. Ngọn gió trầm hương bay. Lặng im… Im lặng… Một tiếng nổ Thiền rung vũ trụ. Tiếng thơ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông:

Tiễn Sứ Bắc Ma Hợp Kiều Nguyên Lãng

Trời Nam, sao sứ rọi hai nơi
Dẫn lối ba vòng đêm sáng soi
Bên ấy ơn sâu tình dễ cảm
Nơi đây tục bạc lễ thẹn tồi
Mù xông cờ tiết thân mừng khỏe
Roi vút gió xuân ngựa kết đôi
Trung thống vạc lời xin hãy nhớ
Nỗi lo đất nước khỏi nung sôi.

Thơ Thiền của Phật Hoàng Trần Nhân Tông đấy! Thiền là sự tỉnh thức, dẹp tan mê lú, tham, sân, si, để trí tuệ trong sạch, thông thái tự Xoay lại tìm mình. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gọi là Phản quan tự kỷ. Sáng soi mình. Sáng soi người. Thiền tỉnh thức nhìn thấu vũ trụ. Thấu vạn vật. Thấu nhân gian. Thấu người. Thấu mình. Thấu giặc. Thấu ta.

Thơ Thiền của Phật Hoàng Trần Nhân Tông nổ ầm vang. Từng chữ, từng chữ một. Như những vì sao tung lên bầu trời. Vang động không gian. Bừng sáng thời gian. Ngài dùng thơ hùng hồn khẳng định Văn Hiến, Độc Lập, Chủ Quyền nước Nam:

“Trời Nam, sao sứ rọi hai nơi
Dẫn lối ba vòng đêm sáng soi”.

Trời Nam sao soi sáng, dẫn lối cả Bắc phương. Mở mắt ra.

Phật Hoàng Trần Nhân Tông dùng thơ vạch mặt Trọng Thủy giở trò “diễn biến hòa bình” tráo trở ăn cắp nỏ thần. Thơ Thiền của Trần Nhân Tông là nguồn ánh sáng vũ trụ soi vào cái đầu tối đen của Trọng Thủy, dạy nó mở mắt ra làm Người. Ngài dạy nó phải biết giữ cho nhân dân hai nước Việt Nam- Trung Hoa thoát khỏi nạn binh đao:

“Trung thống vạc lời xin hãy nhớ
Nỗi lo đất nước khỏi nung sôi”.

Thơ Thiền của Phật Hoàng Trần Nhân Tông đấy! Những ai mê lẫn, lẩn thẩn, tham, sân, si, sú uế đầy mình, không bao giờ biết Thiền là gì? Các Thiền sư không dạy kẻ ngu lú bằng lời. Dạy bằng cách đạp cho nó một cái. Ngã lăn ra. Tỉnh lại. Biết thế nào là Thiền.


Bài đọc thêm: “Rừng Thiền Yên Tử” (Mai Thục newvietart.com)

Ghi chú:

Lòng Dân kính mong Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang ký lệnh ngừng khai thác than xung quanh Khu Rừng Thiêng Yên Tử để bảo vệ Sức Sống Tâm Linh của Dân Tộc Việt Nam.

________________________________________________________

Hồ Gươm- Tây Yên Tử Mùa Thu 2006 - 2012




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 22.09.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com