Người Cháy Bỏng Tình Yêu
Thánh Y Tuệ Tĩnh









Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn và tôi đều yêu cỏ cây hoa lá. Yêu cỏ cây trong sự sinh tồn của mình và đồng bào nghèo khổ. Không phải yêu điệu bộ vịt vờ để làm thơ thẩn.

Thân hữu ghé phòng văn Mai Thục nhâm nhi nước trà cỏ Giảo Cổ Lam, chén rượu chát tự ngâm từ quả Táo Mèo trên đỉnh Hoàng Liên Sơn. Và nhiều loại lá cỏ thân thương khác. Giản dị hương lá cỏ. Nhưng lá cỏ là cây thuốc cứu người nghèo. Lá cỏ là Nam Dược Trị Nam Nhân. Một thông điệp kim cương, sáng vòng trái đất, Thánh y Tuệ Tĩnh truyền cho đàn chim Việt.

Nguyễn Anh Tuấn và tôi luôn thao thức đi tìm Thánh y Tuệ Tĩnh. Nhiều đêm trăn trở, Nguyễn Anh Tuấn viết ý tưởng của mình:

“Danh y Tuệ Tĩnh đã mất tại Giang Nam Trung Quốc trong nỗi nhớ thương nước Nam khôn nguôi suốt những năm tháng cuối đời. Ước nguyện cuối cùng tha thiết nhất của cụ bộc lộ trong tấm bia mà một nhà nho Việt Nam đi sứ Trung Hoa chép lại: "Đời sau nước Nam ta, có ai sang đây thì nhớ đưa hài cốt cho tôi về với..."

Ước nguyện xót xa cuối cùng đó của cụ hiện chưa thể thực hiện được. Nhưng cái ước nguyện lớn nhất của đời cụ, bộc lộ chí hướng và triết lý cao siêu "Cây Thuốc Nam chữa người Nam" cùng nhiều tư tưởng y thuật tiến bộ của cụ thì đã và đang được thực hiện. Tuy nhiên, việc thực hiện này vẫn dừng ở mức độ hạn chế, tùy tiện, được chăng hay chớ; chưa trở thành phong trào xã hội sâu rộng, chưa đi vào tiềm thức của đại đa số nhân dân cũng như trong hàng ngũ thầy thuốc trong cả nước.

Nhiều loại thực phẩm chức năng đang được quảng cáo rao bán với giá "cắt cổ" thực ra chỉ là nguồn gốc từ cây cỏ có xuất xứ từ nước ngoài; trong khi đó, rất nhiều cây cỏ có giá trị dinh dưỡng và chữa bệnh cao ở trong nước thì bị coi rẻ và lãng quên... Nỗi trăn trở, thậm chí khiến phải tủi hổ này đã buộc chúng tôi đau đáu nghiền ngẫm, và sau rất nhiều ngày tháng bàn bạc, đã nảy ra ý tưởng cần phải đi tìm "Những người yêu kính Thánh y Tuệ Tĩnh" tụ hội sức mạnh, làm sống lại Thánh y Tuệ Tĩnh dùng “Thuốc Nam, chữa người Nam”.

Đồng cảm với Nguyễn Anh Tuấn, tôi cùng anh rong ruổi bụi đường, đi tìm “Những người kính yêu Thánh y Tuệ Tĩnh”.

Lương y Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khai hiện đang dùng cây cỏ vườn nhà cứu người nghèo, mách chúng tôi tìm ông Nguyễn Hữu Oanh “Người cháy bỏng tình yêu Tuệ Tĩnh”.

Câu chuyện xây đền thờ Tuệ Tĩnh

Hà Nội rất bé. Chúng tôi dễ dàng tìm được điện thoại của ông Nguyễn Hữu Oanh, nguyên phó ban Tôn giáo Chính phủ.

Tôi gọi. Ông Oanh nhận ra tác giả tiểu thuyết Lệ Chi Viên mà ông đã có lần điện thoại, chia sẻ tâm tình ủ kín. Hóa ra, ông từng là Phó chủ tịch Văn xã Tỉnh Hải Dương. Ông có công xây dựng Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, đền thờ Chu Văn An, Tượng đài Đức Thánh Trần, Văn Miếu Mao Điền, xây đền thờ Tuệ Tĩnh… và nhiều danh nhân lớn của đất nước trên mảnh đất Hải Dương quê hương ông.

Nguyễn Hữu Oanh nồng nhiệt đón chúng tôi tại nhà riêng phố Thái Hà- Hà Nội. Trước khi gặp chúng tôi, ông vội về quê, khấn nguyện tại đền thờ Thánh y Tuệ Tĩnh.

Dáng vẻ thanh lịch, chân thành, nồng ấm, ông kể chuyện xây đền thờ các danh nhân. Mỗi câu chuyện là một bộ phim truyền kỳ về con người Việt Nam tỏa sáng ngàn năm trong bi kịch và thăng hoa, gắn kết chúng tôi và ông.

Trước tiên là chuyện xây đền thờ Thánh y Tuệ Tĩnh. Cụ tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, cha mẹ nông dân nghèo ở Nghĩa Lư huyện Dạ Cẩm- Hồng Châu (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương).

Ông Oanh đưa những tập ảnh ghi từng hòn đá, gốc cây, mái đền… theo dấu chân ông, cùng giọng kể mạch lạc, nhiều chi tiết đời thường:

- Con đường tâm linh dẫn tôi xây đền thờ Cụ Tuệ Tĩnh. Lúc tôi làm bí thư huyện ủy Cẩm Giàng huyện Cẩm Bình, tôi muốn tôn vinh Thánh y Tuệ Tĩnh nhưng không đủ tư liệu. Người dân nói tôi phải gặp ông Phan Văn Tánh ở làng Cụ Tuệ Tĩnh. Năm năm liền, tôi đến chúc Tết ông Tánh và ngỏ ý hỏi về Cụ Tuệ Tĩnh. Ông Tánh nói: “Cụ tôi oan khất lắm. Tôi từ chối”.

Khi làm phó Chủ tịch UBND Tỉnh Hải Dương phụ trách văn xã, tôi ngày đêm suy nghĩ phải làm gì có ích cho quê hương mình. Hải Dương giống các miền quê khác. Cánh đồng lúa xanh ngô lúa, dòng sông, con cá, lá thuyền, thôn làng rơm rạ, khói lam, lợn, vịt, gà, mèo, chó… Phải tìm ra hồn cốt của mảnh đất thiêng này. Câu nói: “Hải Dương địa linh nhân kiệt” vang trong tôi. Hải Dương nơi nhiều danh nhân lớn của nước ta hiển hiện: Khúc Thừa Dụ, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Đức Thánh Trần, Thần Toán Vũ Hữu, Thần Nông học Trần Cảnh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Thị Duệ…

Tôi nghĩ phải xây các đền thờ khơi dậy trầm tích Văn hóa Tâm linh Anh hùng Nhân kiệt nuôi dưỡng sức sống bền lâu của dân tộc, giống nòi.

Tâm linh giục tôi xây đền thờ Thánh y Tuệ Tĩnh trước. Anh Đỗ Nguyên Phương Bộ trưởng Bộ Y tế tôn Cụ Hải Thượng Lãn Ông làm Cụ Tổ. Tôi lên gặp anh thưa:

- Theo em, Cụ Tuệ Tĩnh mới là Cụ Tổ của ngành y Việt Nam. Cụ Tuệ Tĩnh lấy “Nam dược trị Nam nhân”. Cụ Hải Thượng Lãn Ông “Bắc dược trị Nam nhân”.

Anh Phương rất khiêm nhường:

- Làm sao bây giờ anh Oanh? Tôi đã chót chọn Cụ Hải Thượng Lãn Ông rồi.

- Mình không tranh cãi nhau làm gì anh ạ. Ta cứ làm giỗ hai cụ. Năm chẵn giỗ Hải Thượng Lãn Ông. Năm lẻ giỗ Thánh y Tuệ Tĩnh.

Năm 2001 tôi với anh Phương làm giỗ Tổ Tuệ Tĩnh. Anh Phương mời các vị đầu ngành y tỉnh thành cả nước về đền Thánh Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm Bình dự lễ. Tôi lo việc tế tự, chủ trì làm lễ giỗ Tổ.

Chuẩn bị dâng lễ, trời quang mây tạnh, bỗng ào đổ mưa tầm tã. Mưa trút nước mắt của Trời Đất Thế Nhân giáng xuống đầu chúng tôi suốt hai giờ liền. Không dâng lễ được. Mọi người xáo xác, âu lo. Sự lạ.

Tôi nói với anh Phương:

- Anh Phương ơi! Cụ Tổ phạt chúng mình rồi. Ai có áo mưa ra đứng giữa trời, trước lễ đàn làm lễ tạ Cụ.

Anh Phương thành kính thắp nén nhang dâng lễ đàn dưới mưa, tạ ơn:

- Con xin lễ tạ ơn Tổ. Con ngộ nhận. Con xin tạ tội trước anh linh Cụ Tổ. Chúng con xin chọn năm lẻ giỗ Cụ Tổ. Mong Tổ chứng cho lòng thành của chúng con.

Mọi người im lặng sám hối dưới mưa. Tôi mặc hai áo mưa đứng ra lạy Cụ, đọc văn tế Cụ.

Trời tạnh. Lòng tôi và mọi người hoan hỷ.

Sau đó, tôi cùng anh Phương trăn trở đi tìm mộ Cụ. Nhưng khó biết mộ Cụ hiện ở đâu? Sách cổ viết năm bốn mươi lăm tuổi, Cụ thi đình, đậu Hoàng Giáp. Năm năm lăm tuổi, Cụ bị bắt đi sứ Trung Quốc. Cụ được nhà Minh giữ lại làm ở Viện Thái y, rồi mất ở bên ấy. Không rõ năm nào. Tôi nhờ ông Nguyễn Hồng Phúc Đại sứ Trung Quốc lập đoàn đi Trung Quốc tìm mộ cụ. Đoàn đi tìm, tôi không đi, vì tư liệu mù mịt. Quả thật đoàn đi, lại về tay không.

Không tìm được di cốt để đưa Cụ về quê nhà theo tiếng kêu khắc khoải đã ngót sáu trăm năm “Đời sau nước Nam ta, có ai sang đây, thì nhớ đưa hài cốt cho tôi về với”. Lạy Cụ! Hài cốt của Cụ bây giờ ở đâu? Cụ linh thiêng mách bảo chúng con sang đón Cụ về Đất Tổ Quê Cha.

Tôi mơ làm dâng Cụ ngôi đền.

Nhưng tiền ở đâu? Tôi gặp chị Trần Trung Chiến Bộ trưởng thay anh Phương. Chị Chiến chuyển tiền cho tôi. Trên không duyệt. Tôi gặp Thủ tướng Phan Văn Khải. Thủ tướng ghi Bộ Văn hóa chuyển tiền xây đền Thánh y Tuệ Tĩnh.

Tôi lăn lộn cùng anh chị em xây đền Thánh. Lấy thân mình nhận năng lượng của Cụ để tìm hướng đền, đúc tượng… Đền hướng Bắc mong Cụ trở về.

Nhân dân quê hương lập ba ngôi đền thờ Thánh y Tuệ Tĩnh. Đền Thánh thuốc Nam ở quê gốc Cụ, thôn Nghĩa Phú xã Cẩm Vũ. Đền Bia ở thôn Văn Thai xã Cẩm Văn. Miếu Nghè ở chùa Giám xã Tân Sơn, huyện Cẩm Bình.

Tôi xây đền thờ Cụ tại đền Bia thôn Văn Thai. Nơi thờ tấm bia ghi lời Cụ, do ông Nguyễn Danh Nho thế kỷ XVI từng làm phó Tổng đốc Tỉnh Hải Dương, sau lên phó Tổng đốc Hà Nội, làm trưởng đoàn sứ bộ sang Trung Quốc hoạch định biên giới, tạo tác. Thuyền qua sông Trường Giang, Nguyễn Danh Nho bỗng nhìn thấy ngôi mộ có tấm bia rất lạ. Ông cho dừng thuyền. Nước thủy triều dần lên, phủ tấm bia. Ông phải đọc từ dưới lên theo nước cuốn. Dân gọi ông là “Ông Rồng cuốn”. Nguyễn Danh Nho đọc và biết đây là mộ Cụ Tuệ Tĩnh quê mình. Tấm bia có câu: “Đời sau nước Nam ta có ai sang đây, thì nhớ đưa hài cốt cho tôi về với”.

Nguyễn Danh Nho tìm cách áp bản chữ trong Bia, mang về quê Cụ Tuệ Tĩnh, đục bia đá, áp bản chữ vào bia mới. Trên đường Bia được rinh về đền Thánh, bỗng đến thôn Văn Thai, giáp thôn Nghĩa Phú, Bia rơi xuống đất, lún sâu. Mọi người cố nâng Bia lên, không được. Sau này, nhô đất chỗ Bia rơi, người dân nhìn thấy nó tạo hình con dao cầu và bát thuốc. Dân lập đền thờ Cụ gọi là đền Bia.

Nhân dân quanh vùng chứng kiến hai lần Cụ Tuệ Tĩnh hiển Thánh. Lần thứ nhất vào thế kỷ XIX. Lần thứ hai còn tươi mới trong ký ức chúng ta. Năm 1936 ngày giỗ Cụ, bỗng nhiên dân làng dâng lên đền Thánh các loại lá cây vườn (lá tre, lá chuối, đu đủ, ổi, rau thơm, cỏ nhọ nồi, ráu má, rau sam, thài lài, cứt lợn…) Lễ tạ Thánh xong, họ mang về nấu, giã uống, khỏi bệnh, vui khỏe, yêu đời, thương nhau. Tất cả do lòng dân kính yêu Cụ mà thành. Những lá cây đó đều chữa được bệnh cứu người, ghi trong hàng nghìn bài thuốc Nam Cụ gửi lại. Nam dược trị Nam nhân.

Quan sở tại thấy sự lạ. Họ ghen vì dân yêu Cụ. Dân ghét họ. Họ không hiểu. Bởi Cụ thương Dân, cứu Dân. Họ hại Dân, đè nén, cướp giết Dân. Họ ghen tới mức đem tấm Bia do Dân dày công đào bùn đất, nâng lên đền thờ ra bỏ tù. Bia bị dùi cui, xích sắt lùa về trại giam. Họ la lớn: “Ông chỉ là con ma chết rồi. Cớ sao dân làng lại kính yêu ông đến thế? » Họ thi nhau tra tấn tấm Bia. Bia tả tơi rơi rụng. Những hàng chữ Bia do cụ Nguyễn Danh Nho áp vào biến mất.

Tôi kính yêu Cụ cháy bỏng tâm tình. Cụ là Thiền sư, Thầy thuốc, cứu đời cả Thân và Tâm. Tôi tự rút ra sáu bài học về Cụ.

Đỉnh cao của Văn hóa Việt. Nam dược trị Nam nhân.

Đỉnh cao Nhân cách Việt. Cụ dùi mài kinh sử một đời, đỗ tiến sĩ không ra làm quan, lấy Đạo Phật làm phương châm sống. Cụ đi tu để cứu người, xây dựng tu bổ hai mươi bốn ngôi chùa ở hạt Sơn Nam quê nhà, huấn luyện y tăng chữa bệnh làm phúc.

Tấm gương tiêu biểu học sinh nghèo vượt khó. Sáu tuổi Cụ mồ côi cả cha mẹ, đi ở với ông chú, được nhà sư chùa Giám đưa về nuôi cho học văn, học thuốc, tu tâm tích đức cứu người. Vừa học vừa tu, vừa chữa bệnh, Cụ học suốt cuộc đời và viết những bộ sách thuốc quí cho dân tộc.

Giải nghĩa chữ Nôm sách Thiền tông khóa hư lục của vua Trần Thái Tông.

Về y học, Cụ soạn các sách: Dược tính chỉ Nam, Thập tam phương gia giảm, và hàng nghìn bài thuốc Nam… Nhưng phần nguyên tác của Tuệ Tĩnh không còn trọn vẹn do bị quân nhà Minh cướp, đốt. Những tác phẩm còn lại đến nay đều do người đời sau thu thập trong nhân dân.

Hiện có Bộ Nam dược Thần hiệu do hòa thượng Bản Lai ở chùa Hồng Phúc (nay là chùa Hòe Nhai- Hà Nội) biên tập, bổ sung, in lại năm 1761.

Sách Nam dược chính bản triều Lê Dụ Tông đổi tên Hồng Nghĩa Giác tư y thư in lại năm 1717.

Thập tam phương gia giảmBổ âm đơn được dân gian diễn thơ Nôm…

Tự lực và sáng tạo. Nam dược trị Nam nhân. Không chuộng ngoại.

Đức tính cương thường đạo lý. Không cúi đầu trước quyền lực thống trị. Đi sứ Trung Quốc tỏ rõ tài năng Đất Việt, làm cho họ phải kính nể. Triều đình Trung Quốc phong Cụ Đại y Thiền sư.

Tình yêu quê hương dân nước nồng nàn. Viết sách Giác y thư từ Trung Quốc gửi về cho dân Việt. Đạo đức nghề y xứng là Cụ Tổ. Cần cứu người là cứu, không phân biệt kẻ thù hay tiếng nói màu da, trổ hết tài năng cứu vợ vua Trung Quốc.

Được trọng dụng ở Trung Quốc vẫn đau đáu thương nhớ quê nhà. Còn nắm xương tàn Cụ vẫn diết da mong được trở về đất quê hương. « Đời sau nước Nam ta có ai sang đây, thì nhớ đưa hài cốt cho tôi về với ».

Kính yêu Tuệ Tĩnh. Chúng ta phải làm gì?

Đó là câu hỏi nung nấu trong ông Nguyễn Hữu Oanh, Nguyễn Anh Tuấn và tôi, cùng biết bao người Dân Việt kính yêu Thánh y Tuệ Tĩnh.

Ông Nguyễn Hữu Oanh hiện đang hoạt động Trung tâm hỗ trợ thủ khoa, Trung tâm nghiên cứu Bảo tồn Văn hóa tín ngưỡng. Nhưng dù đi đâu, làm gì, ông luôn cháy bỏng tình yêu Thánh y Tuệ Tĩnh. Về đồng bằng sông Cửu Long, ông vui miên man trước khu vườn dược liệu của giám đốc Ba Bé. Ông nói : « Em đang làm việc của Cụ Tuệ Tĩnh. Lập bàn thờ Cụ và cứu dân nghèo ». Ba Bé đã làm theo, được phong Anh hùng thời đổi mới.

Lên Ba Vì mênh mang vườn thuốc, rừng thuốc, ông Oanh khích lệ bác sĩ Nguyễn Hữu Trọng rời Hà Nội lên bản Dao lập Tuệ Tĩnh Đường. Gần mười năm qua, bác sĩ Nguyễn Hữu Trọng đã lập Tuệ Tĩnh Đường dưới chân Ba Vì thơm hương thuốc. Hơn tám mươi tuổi, bác sĩ Trọng vừa mới sinh quí tử giữa vườn cây lá thuốc Ba Vì.

Nguyễn Anh Tuấn và tôi cháy bỏng tình yêu Thánh y Tuệ Tĩnh, giống ông Oanh. Hằng ngày chúng tôi dùng cây lá và sống theo Cụ Tuệ Tĩnh, nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Cụ đã nêu ra phương pháp dưỡng sinh tuyệt diệu tóm tắt trong mười bốn chữ:

“Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”.

Chúng tôi mơ mọi người dân Việt Nam đều thông hiểu cách sống của Thánh y Tuệ Tĩnh. Mơ các ngôi chùa Việt Nam đều có Tuệ Tĩnh Đường. Các nhà sư đều học được những bài thuốc Nam cứu dân. Vườn chùa thơm các loại cây thuốc Nam thân thiện, cứu người.

Chúng tôi muốn mỗi người Việt Nam đều hành động theo Thánh y Tuệ Tĩnh. Trồng cây thuốc vườn nhà. Giữ ao làng trăng tắm mây bơi. Biết dùng Nam dược trị Nam nhân. Cây lá quanh ta linh diệu tuyệt vời. Mắt thường làm sao ai hiểu được. Chỉ có những ai từng mắc bệnh hiểm nghèo, nhờ lá cây mà sống lại, mới thấu tình Thiên Nhiên Trời Đất Mẹ Hiền Việt Nam và Tình yêu lớn của Thánh y Tuệ Tĩnh với giống nòi.

Chúng tôi đang hành động vì tình yêu lớn với Thánh y Tuệ Tĩnh, nắm tay mọi người dân tự cứu mình. Dùng Nam dược trị Nam nhân để giảm dần cảnh đau lòng các bệnh viện quá tải hiện nay, lay động tâm hồn các thầy thuốc trở lại tình người “Lương y kiêm Từ Mẫu”.

Tôi và Nguyễn Anh Tuấn thường tự nhủ lòng mình và nói với thân hữu rằng: “Nếu mình viết ra một trăm cuốn sách, làm một trăm bộ phim, nhưng không cứu nổi ai, dù chỉ một con người, thì cũng vứt sọt rác mà thôi”. Tôi không muốn in thêm một cuốn sách nào nữa. Thùng rác trên quả đất này đã ứ đầy. Tôi đang hành động cùng người dân Việt trồng cây thuốc Nam cứu người Nam.


________________________________________________________

Hồ Gươm Mùa Phật Đản 2012




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 19.08.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com