Căn phòng rộng khoảng chừng chín mét vuông, tường sơn màu vàng chanh, có một cửa để đi ra đi vô và một cửa sổ, trong phòng kê một cái giường, một cái tủ áo và thêm cái bàn viết. Mỗi ngày gã đi qua mấy bước rồi đi lại mấy bước, đến khi chán thì lại đi vòng quanh, gã đếm từng bước chân của mình, ngày nào suy nghỉ nhiều thì ngày đó đi được nhiều bước, ngày nào suy nghỉ ít thì nằm dài trên giường nhìn lên trần nhà để thấy đầu óc mình đặc quánh đến nổi lắc qua lắc lại chẳng nghe kêu nổi vài ba tiếng…lóc cóc…lọc cọc…cho đở buồn.
Gã đang thất nghiệp, nói đúng hơn là gã “chê” việc làm; việc gì gã cũng chê là không xứng với tầm cỡ của một con người uyên thâm học cao, học nhiều và hiểu rộng như gã…vợ gã thì lại rất tự hào và ngưỡng mộ cái sự “học cao hiểu rộng” của chồng, nên từ sự ngưỡng mộ đã dần chuyển qua…sợ hồi nào không hay. Ngày ấy hai người cưới nhau vì gã đã lở dại “vui chơi” lúc đang còn là sinh viên năm thứ hai trường kiến trúc…kết quả của sự “vui chơi” quá đà này là…một đám cưới vội vàng diễn ra vì cái bụng của (vợ gã bây giờ) nàng lớn nhanh hơn bình thường.
Gia đình vợ thuộc tầng lớp lao động…chỉ thường thường bật trung, còn gia đình gã nói cho ngay cũng khá tầm cở. Sự chênh lệch giữa hai gia đình thông gia làm cho gã có ý xem thường bên nhà vợ ,và sự xem thường này ngày càng lớn khi bên nhà vợ lại cứ tỏ ra hãnh diện vì có chàng rể “con nhà công chức…có học hành…”
Vào khoảng thời gian mà cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc trở nên căng thẳng, gã phải nhập ngũ nhưng…chỉ một thời gian ngắn gã bèn đào ngũ để về sống chui sống nhủi trong nhà, vợ gã bán sinh tố, nước giải khát ngoài vĩa hè để nuôi chồng, nuôi con. Gã tự hào cho rằng mình là người khôn ngoan khi đào ngũ.
Sau năm 1975, gã trở thành người yêu nước vì đã biết…trốn. Nhưng đến lúc này thì gã phải bương chải lăn lộn bên ngoài để kiếm sống khi không cần trốn chui trốn nhủi nữa…thế là gã phải đi kiếm việc làm.
Gã thở dài, việc thì có nhiều đấy nhưng lại không “xứng” với sự “thông thái” của gã, thế là gã nằm “chờ thời” và vô tư nhìn sự vất vả khổ cực của vợ đang diễn ra hằng ngày trước mắt gã. Suy nghỉ hoài và suy nghỉ mãi, suy nghỉ nhiều quá phát nhức đầu đến nổi rụng dần những sợi tóc nên gã đâm ra bị hói…
Nằm nhà mãi cũng chán, gã ngồi dậy đánh áo quần đi ra đường kiếm bạn uống cà phê; bàn luận thế sự với “công cuộc” tìm kiếm cách mưu sinh như thế nào để vừa được nhàn hạ mà lại có lắm tiền, lại còn được “làm thầy, làm cha” của thiên hạ nữa chớ, bởi vì gã là người ưa lý sự và thích dạy khôn người khác, dưới con mắt của gã thì mọi người đều ngu dốt; ngoại trừ gã…
Quán cà phê nữa “cóc” nữa “xoài cát”…có nghĩa là vừa hơi sang mà cũng khá là bình dân; một nơi qui tụ nhiều thành phần…nhất là giới “mánh mung”. Có tiếng gọi lớn:
- Ê…me xừ Phùng…toa vô ngồi đây với moa nè.
Gã nhón gót nhìn vào trong quán, reo lên:
- Ồ…voa là, bông rua me xừ Hải…lâu quá mới gặp…
Tay bắt mặt mừng ríu ra ríu rít. Gã kéo cái ghế ngồi xuống bên cạnh bạn, vui vẻ hỏi:
- Toa lúc này sao rồi? sức khỏe sua chớ hả.
- Âý…cũng xa và.
Thế là hai người nói chuyện râm ran; cứ “toa toa, moa moa” luôn miệng và mỗi câu nói đều chêm thêm một vài tiếng tây nghe loạn xà ngầu với một vẻ mặt rất hí hững, hảnh diện vì có nhiều con mắt nhìn của những người chung quanh…không cần biết là họ nhìn vì khó chịu hay vì…ngưỡng mộ? miễn có người nhìn là được rồi. Đâu dễ gì để có người cùng “toa…toa, moa…moa” với nhau? lại còn được thể hiện sự hiểu biết nhiều về “vocabulaire” để mà ríu ra ríu rít búa xua…thích quá chừng đi chứ.
Sau khi nói lung tung đủ thứ chuyện "trên trời dưới đất"; anh chàng Hải mới sực nhớ để hỏi gã:
- Này toa, lúc này làm ăn sao rồi? không tính đi vượt biên sao mà còn ở đây?
Gã thở dài:
- Moa đang buồn quá đây…tiền đâu mà đi vượt biên? Cả nhà moa lớn bé cọng lại gần chục mạng, cũng phải mấy chục cây vàng chớ ít sao? Công việc thì không mấy sua để moa đắc co…còn toa?
Hải cười sãng khoái:
- Moa sắp đi Mỹ…diện con lai, vợ moa “mua” một đứa nhỏ lai Mỹ đen giá hai cây vàng, giấy tờ xong xuôi hết trơn rồi.
- Ô là la…toa thật là “bố cu bông săng”.
- Hà hà…có gì đâu, đang có chương trình đi Mỹ diện con lai mà, toa cứ kiếm một đứa con lai, mua phéng nó chừng hai ba cây vàng gì đó là xong ngay…voa là…đắc co?
Gã mừng rỡ vội vàng đứng lên:
- Mẹt xi bố cu toa…ô rờ voa toa nhé, moa phải về cho con vợ moa hay liền lập tức cái tin vui này…
Có lẽ không nhiều thì ít một số khách trong quán thở phào nhẹ nhõm vì không còn phải “bị” nghe hai anh tây " chưa tới nữa mùa" này cứ toa toa moa moa loạn xạ linh tinh.
Gã về nhà nóng lòng chờ vợ đang đi chợ; bụng dạ sôi như có lửa đốt; nhưng rồi vợ cũng về đến nhà; gã kéo vợ vô cái phòng chừng chín mét vuông ấy và thì thào to nhỏ chuyện "kiếm con lai" đặng...làm giấy tờ đi Mỹ; vợ gã sáng mắt nói:
- Có gì khó khăn đâu, nó nằm ngay bên cạnh mình nè...
Vậy là vợ gã đã kiếm ngay được một đứa con lai; nào có xa xôi gì đâu, đó là đứa bé năm tuổi bị mẹ nó bỏ rơi sau tháng 3/1975. Con em dâu của vợ gã đang nuôi nó để chơi đùa với đứa con gái nhỏ của mình vừa mới được ba tuổi. Vợ gã làm “áp lực” với má mình để buộc cô em dâu phải cho vợ gã “rước” đứa bé lai về nuôi và xúc tiến ngay việc làm giấy tờ đi Mỹ. Vợ gã khen:
- Tui công nhận là ông khôn ngoan quá chừng.
Giấy tờ suông sẻ, đi tới đâu được “ô kê” tới đó. Vợ lại khen nức nỡ:
- Ông đúng là người uyên thâm, nhìn xa trông rộng…
Bây giờ đến lúc phải chuẩn bị cho vợ con tập tành cách sống văn minh của xứ người ta kẻo không thôi lại bị chê là dân nhà quê. Cả nhà đi học anh văn; tất nhiên rồi, cả nhà lại đi học nhảy đầm…đương nhiên là phải vậy, rồi thì về nhà tập dợt mấy điệu nhảy, nhạc cứ xập xà xập xình…chát chát…bùm… mẹ với con cứ quay mòng mòng dẫm chân lên nhau, la nhau chí chóe, mấy cái áo bà ba bình thường, mấy bộ đồ bộ, quần tây áo sơ mi giản dị được thay thế bằng những bộ đầm đủ kiểu tân thời. Gã vẽ ra cho vợ con thấy một viễn cảnh với nếp sống rất thời thượng, gặp ai gã cũng khoe:
- Qua bên đó mỗi tuần moa sẽ tổ chức “bạt ti” một lần rồi mời bạn bè hàng xóm đến ăn uống, nhảy đầm…gia đình moa sẽ là một “gia đình quí xờ tộc”.
Ai nghe gã nói cũng đều ngưỡng mộ cho cái gia đình sắp là “quí xờ tộc” của gã. Còn vợ con của gã bắt đầu thấy mình…như là những quí bà, quí tiểu thơ, công tử nên nhìn mọi người chung quanh bằng nữa con mắt.
Vợ chồng gã bán căn nhà đang ở cho chính má vợ của gã để sắm đồ đạt chuẩn bị qua nước Mỹ văn mình, một đất nước mà gã luôn tơ tưỡng trong đầu rằng đó là thiên đàng của hạ giới.
Trong lúc chờ ngày qua Mỹ thì mỗi tối vợ con gã vẫn đi nhảy đầm…chát chát xình…Được học làm người văn minh thật sướng…huống chi sẽ là người quí tộc…mặc dầu…gót chân của vợ gã vẫn còn nứt nẻ và da chân thì mốc, móng chân trụi lủi và bàn tay lại thô ráp…ấy vậy mà vẫn muốn học làm người quí tộc.
Xứ Mỹ đây rồi…
Gia đình gã đặt chân lên nước Mỹ sau khi phải ở trên đảo sáu tháng để học tiếng Mỹ, học cách sống và tiếp cận với nền văn minh của nước người ta, nó hoàn toàn khác với những những gì mà gia đình gã đã học ở quê nhà.
Nếu những ai ra đi vào thời điểm chộn rộn của năm 1975 thì sẽ mang một tâm trạng khác, cũng như nhận được sự đón tiếp và nỗi lo lắng trong lòng cũng khác. Thật là buồn khi gã không phải là nhân vật VIP để được đón tiếp một cách…long trọng như gã vẫn hằng tưởng tượng. Suy cho cùng thì…gia đình gã lúc đó đi chung một chuyến phi cơ với những gia đình cũng đi theo diện con lai như gã…đó là một “bầy người” bị “lùa” leo lên xe, rồi bị “lùa” đi đến một nơi để ở…mỗi ngày cầm gà mên đứng sắp hàng chờ lãnh thức ăn “cứu đói”, coi như gã bị rơi xuống lưng chừng của xứ sở thiên đàng hạ giới. Buồn lắm lắm nhưng không dám than thở với ai.
Thời gian đầu sống bằng tiền trợ cấp nhân đạo, tạm ổn định thì phải đi tìm việc làm. Làm gì bây giờ? Ở xứ mình nói tiếng Việt với người Việt mà còn không chịu đi làm, nói chi đến xứ của người ta, nói tiếng của người ta cứ ngọng ngịu mỏi lưỡi quá chừng… chịu sao nổi?
Gã đi làm “chui” được sáu tháng thì chán nản bởi…đủ thứ lý do, vậy là nghỉ việc và khai thất ngiệp để ngữa tay nhận trợ cấp thất nghiệp. Gã cười tự khen mình khi nói chuyện với ông bạn “moa moa, toa toa” ngày ở quê nhà:
- Tụi Mỹ nó ngu bỏ xừ, moa khai thất nghiệp vì moa không thích đi làm, vậy mà tụi nó không biết…hà hà…ở không lãnh tiền thất nghiệp khỏe hơn đi làm…
Tội nghiệp cho vợ của gã; “buôn thúng bán mẹt” quen rồi nên sốt ruột khi phải ngồi nhà, may nhờ có người bà con giới thiệu nên vợ gã được nhận vào làm cho người “đồng hương”…làm gì à? Thì làm thuê làm mướn chớ còn làm gì nữa. Gã “dạy khôn” vợ là lảnh lương bằng tiến mặt, không khai thuế để khỏi bị đóng thuế…
Mỗi tháng vợ gã được lỉnh lương bằng tiền mặt ngon lành, không phải tốn một xu thuế, gã rất khoái chí và phục cái trí khôn của mình vì…đã lừa được “thầng Mỹ”. Nhưng mà…chỉ được một thời gian ngắn thôi vì sau đó chủ không dám mướn người làm “chui” nữa, sợ bị phạt nếu như nhà nước của Mỹ biết được; thế là…thất nghiệp, lại phải đi khai thất nghiệp, khai bịnh, khai gia cảnh khó khăn…vv…
Nghe rằng nếu ai muốn đi học; chính phủ Mỹ sẽ tài trợ cho một năm là hai ngàn mấy trăm đô, vậy nên vợ gã (bây giờ đã già) bèn ghi tên đi học. Bốn năm học hành, vừa lãnh tiền trợ cấp học, vừa lãnh tiền thất nghiệp của gã, cũng tạm đắp đỗi qua ngày bên cái xứ “thiên đàng hạ giới”.
Ra trường thì vợ gã được đi làm, lương ngàn mấy đô một tháng, đóng thuế xong thì chỉ còn mấy trăm. Riêng gã…dù vợ năn nỉ cỡ nào gã cũng không đi học bởi vì…gã tự cho mình là người thông minh tài trí; học mà làm gì kia chứ? Chỉ mấy đứa ngu mới phải đi học.
Nhưng mà…đi làm được bốn năm thì vợ gã lại đến tuổi về hưu, không có “thâm niên công vụ” nên lương hưu ít ỏi lắm, đã thế gã không còn được hưởng trợ cấp gì ráo trọi, mà lãnh “ké” nữa lương hưu của vợ…cũng như không.
Gã có thói quen là ưa nằm “nướng” trên giường mà thở dài, hơn hai mươi năm sống ở “thiên đường”; chưa một lần gia đình gã được mời đến những nơi sang trọng, hay được ghé vô mấy nhà hàng đắc tiền, cũng chẳng thấy được một cái “party” nào, nói chi đến chuyện mỗi tuần mở bal cho vợ con nhảy đầm như hồi ở quê nhà gã từng mơ mộng. Những điệu nhảy xập xình… “chát chát bùm…” vợ con gã học trước khi đi để qua Mỹ làm “người quí tộc” nay thì dẹp xó và quên hết, chân cẵng cứng ngắt cứng ngơ..
Tài sản ở bên đây không có, ở quê nhà cũng không. Cái ông bạn “toa toa, moa moa” thì lại giàu có nhờ siêng năng chịu khó “cày bừa”. Cái tánh lười biếng mà lại còn tự phụ ưa làm thầy của gã khiến cho bạn bè ngao ngán rồi từ từ xa lánh.
Đợt vừa rồi chà thẻ mua vé máy bay về VN, gã buồn tủi khi thấy mấy đứa em và mấy người bạn đều khá là giàu có (những người mà ngày đó đã từng tấm tắc khen gã may mắn, khôn ngoan)…Dù sao có điều an ủi là cái “mác” việt kiều của gã cũng làm cho nhiều người kính trọng, nhưng…nào ai biết được là ngoài cái vỏ ấy ra thì gã không có cái gì khác.
Gã vuốt vuốt mấy cọng tóc hiếm hoi còn lại trên đầu và suy nghỉ, suy nghỉ lung lắm, đến nổi lại bị rụng thêm vài cọng tóc nữa; “đã hói càng thêm hói”, cuối cùng gã tìm ra được một cách……không thể có nhà ở bên Mỹ thì phải có nhà ở Việt Nam. Chuyến này về lại Mỹ gã sẽ biểu mụ vợ tìm cách òn ỉ bà má vợ đặng “xin” lại căn nhà mà vợ chồng gã đã bán cho ông bà cụ ngày ấy. Gã có công suy tính còn mụ vợ của gã có nhiệm vụ “hô hoán” như thế nào để căn nhà đó thuộc về vợ chồng gã…
Gã là người khôn ngoan, giỏi tính toán mà lại thành người trắng tay, nghỉ cũng thật đáng buồn và cay đắng. Ôi…đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…kia chứ.? Biết thì cũng hơi muộn, muốn trẻ lại chừng vài ba chục tuổi để siêng năng bay nhảy kiếm tiền thì…lưng đã còng, gối đã mỏi; đầu đã...rụng hết tóc rồi.
Bây giờ thì gã mệt trí lắm sau khi nghỉ ra cái cách…phải có một cái gì đó ở quê nhà, đó chính là cái nhà…
© Tác giả giữ bản quyền
Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SàiGòn ngày 29.07.2012.
. Đăng Tải Lại Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com