TRÁI TIM NGƯỜI MẸ


QÚY THỂ


      Buổi chiều nào thằng Hồng cũng leo lên núi sạn hái bông chổi về bó chổi đót cho mẹ đem ra chợ Phương Sài bán. Công việc xong Hồng ôm đàn ra cầu sắt Vĩnh Ngọc đàn bài “Dòng sông xanh”, hắn chỉ biết đàn có một bài này, tiếng đàn mộc mạc vang vọng, dội vào những thanh sắt to bản của thành cầu, trôi ngược đến bến Đất sông Cái, nơi mỗi chiều vợ chồng anh Tạo chị Hoàng ra tắm. Hai người đôi khi dừng lại lắng nghe, ngước lên cầu nhìn thằng bé ngồi đàn. Dòng sông lấp loá nắng chiều như những mảnh gương nổi trên mặt nước. Nền trời trăng trắng, lên cao, nhẹ và trong ra. Mây là những khối mỡ vàng đặc quánh, từng đống rải rác. Cây cầu sắt Vĩnh Ngọc không dựng theo kiểu có vây cong. Nó như cái thang ba đoạn bằng sắt sơn đen, đặt nằm ngang gối lên đầu cầu hai bờ nam bắc và ba chân cầu dưới sông . Cầu sắt Vĩnh Ngọc là cây cầu huyết mạch nối liền đường xe lửa xuyên Việt. Trong chiến tranh, cầu là mục tiêu giành giật của hai bên . Những trận đánh sinh tử chiếm đi và chiếm lại đều phải trả giá bằng máu. Cây cầu sắt là một lịch sử, một phần, một hình ảnh không thể thiếu của dân mấy làng cù lao sông nước này. Thời kỳ tạm chiếm, mấy năm đầu lính Bảo Đại áo ka ki vàng, gác cầu. Sau đó địa phương quân, lính Mỹ Diệm. Mấy “Ông địa” này đều là con em trong các làng gần cầu.

Hồng sống bằng nghề làm chổi đót, hắn con mụ Liên , nhà nghèo, con một, không cha, được mẹ thương lắm. Nó là một thằng địa phương quân gác cầu kỳu cựu. Hắn cao có thước ba, đẹt, bằng đứa bé mười hai mười ba tuổi, mặt mày xấu xí. Mấy đợt quân cảnh và cảnh sát vào làng vây ráp bắt lính, năm nào hắn cũng khai mười lăm tuổi. Nhờ cái vóc dáng đặc biệt ấy hắn trốn quân dịch được tám năm. Nhưng trong một lần lên núi hái bông chổi bị bọn quan cảnh tóm, đưa tới trung tâm 2 nhập ngũ MãVòng. Bà Liên thương con, sợ đi lính chết thì họ Bạch tuyệt tự, phải kêu bán rẻ con heo nái đang có chửa gần đẻ lấy tiền chạy cho tên bác sĩ quân y, để được làm việc nhẹ, gác cầu, ở gần nhà …

Hôm đó rằm tháng bẩy, lễ Vu lan, Hồng lên ca trực chiến khuya. Mười giờ hắn mới vác súng đi ra cầu. Hắn nhát gan lắm, sợ Việt cộng thì ít, sợ ma thì nhiều. Bọn lính cũ doạ, người đàn bà năm xưa chết trong đường hầm xe lửa thành ma, thích ân ái với trai tơ, chưa có hơi hám đàn bà. Con ma nửa khuya ra cầu ngồi. Bọn lính nghe mùi nước hoa thoang thoảng, tưởng gái bán bia bên nhà hàng Hải Đảo, kéo vào lòng ôm ấp hôn hít, chạm phải cái lưỡi dài mỏng như lá tre sắc bén và lạnh ngắt. Thằng lính hốt hoảng la lên, xô ra bỏ chạy vô lô cốt. Mấy ngày sau thế nào hắn cũng bệnh một trận thập tử nhất sinh. Khi lành, nếu không xin đổi đi nơi khác thế nào cũng nộp mạng cho mấy o du kích núp bờ sông Cái bắn tỉa.

Gái Vĩnh Ngọc, Ngọc Hiệp, Lư Cấm nổi tiếng là đẹp. Quanh năm sống dưới bóng mát vườn dừa, nước da trắng như cái cùi dừa, môi mọng như quả nho và còn nổi tiếng là gan dạ và lảng mạn. Các cô đi đánh giặc như đi chơi. Trước khi ra bờ sông Cái phục kích còn tô son điểm phấn cho mấy anh du kích ngắm, ngồi phục kích lâu sợ gió làm khô da nẻ môi. Nằm chờ địch trong đám lau lách bên bờ sông cũng thường đem chuyện tình yêu ra nói. Trước khi nâng súng lên nhắm thằng lính gác trên cầu, còn chơi trò cá cược, thách nhau ai bắn trật phải dẫn người kia qua Nha Trang bao kem dừa. Các cô bắn tài lắm. Bắn tỉa chỉ được bắn một phát. Bắn trật hắn chạy vô lô cốt quay đại liên ra quét nát hai bên bờ sông. Nhưng thường chỉ cần một phát là thằng lính cộng hoà kia ăn đạn rơi xuống sông , nó chới với và nhẹ như cái bị độn bột cưa, trong bộ áo quần lính , lặng lẽ rơi xuống vỗ nhẹ nước chân cầu.

Tối nay Hồng lên ca khuya, hắn thèm thuốc lắm, không dám hút, hắn sợ bị bắn sẻ, cũng sợ lão thượng sĩ phạt, Hắn xé đầu điếu thuốc lá thơm hiệu Côtáp đưa lên mũi hít mấy hơi dài cho đã. Cứ vài phút hắn bắn xuống sông một phát, bắn vu vơ chẳng nhắm vào đâu. Hắn cận thị nặng. Bọn lính đặt tên cho hắn là thằng “Hồng cận”. Ngoài cái vóc dáng một thằng đẹt, mặt mày xấu xí, con gái chê, còn bị cận thị rất nặng. Mẹ hắn nói hắn giống bên ngoại, dòng dõi bên đó toàn là người bốn mắt, dù ai cũng nghèo, làm lao động phổ thông, xích lô ba gác mà lúc nào cũng kính trắng gọng vàng , giống mấy thầy cô làm ở công sở. Lúc khám quân dịch hắn khai năm đi ốp, lão bác sĩ quân y không tin, nhỏ vào cặp mắt hắn mấy giọt thuốc gì đó, nói làm cho giản đồng tử để đo lại. Thuốc mạnh lắm, mấy ngày sau hắn chẳng thấy đường, phải sờ soạng như người mù đi ăn cơm nhà bàn cùng với mấy thằng đui què mẻ sứt bị hốt trong đợt “Mùa hè đỏ lửa” 72 thiếu lính .

Hồng bắn một lúc, đến khuya hết đạn, cũng sắp xuống ca, hắn đứng dậy xách cây AR15 như người cầm vali, bỗng thấy túm bèo lộc bình trôi dưới cầu…

Đếm ấy dì Bẩy, tên là Bưởi, sáu mươi tuổi chết chồng , một người tu tại gia người bên kia sông , vai dưới của ông nội thàng “Hồng cận”, hắn phải gọi bằng bà cô. Con trai của dì là anh Tạo hắn gọi là chú, không phải chú ruột, chú bà con nhưng cũng khá gần. Đang ngủ ngon, nửa đêm bà Bưởi thấy đau nhói trong tim, giật mình thức dậy, thao thức mãi không ngủ lại được. Dì ngồi dậy bật đèn, quét diêm thắp mấy ngọn đèn sáp trên bàn thờ Phật, lấy bộ kinh Địa Tạng ra tụng . chị Hoàng là dâu của dì bảy, vợ anh Tạo, chị đang có thai con so sáu tháng. Chị Hoàng nói :

-Sao giờ này má không ngủ, lại tụng kinh? Còn khuya, đã sáng đâu ?

-Đang ngủ nghe tiếng súng nổ...

-Bọn lính gác cầu bắn ấy mà.

-Chúng bắn gì đó con ?

-Chúng bắn xuống sông. Chúng sợ Việt cộng đặt chất nổ lên bè thả trôi đến chân cầu phá hoại .

-Sao má lo quá. Thằng Tạo đi đâu đêm nay sao không về ?

-Anh đi công tác trên huyện Diên Khánh, thôi má ngủ đi, đêm nào bọn lính địa phương gác cầu lại không bắn ?

-Con nói, mẹ đỡ lo. Mẹ vẫn biết đêm nào bọn lính gác cầu cũng bắn xuống sông. Nhưng đêm nay …

Dì thổi mấy ngọn đèn nến tắt, vô giường nằm. Một lúc sau dì hỏi :”Mấy lúc này con nghe trong người con sao, có hôi cơm tanh cá không ? Cái thai có hành không? Có thai con so khổ lắm…” Chị Hoàng :”Dạ, bình thường, Con giống mẹ con, mỗi lần có thai không bị ốm nghén gì cả”. Một lúc sau rất lâu, không còn tiếng súng, chỉ còn tiếng chó sủa, trong buồng vẫn còn nghe tiếng bà mẹ chồng nhai trầu. Chị lo lắm. Lúc nãy chị nói láo. Không phải anh Tạo lên huyện Diên Khánh họp hành hay công tác gì cả, chị biết anh đi đâu, làm việc gì, chắc là việc quan trọng lắm. Lúc trưa chị thấy mấy người đàn ông ngồi sau hè bàn tính. Thấy chị đi qua họ ngừng. Lão Ba Chi lấy trong ba lô cũ ra đưa cho anh Tạo bốn khúc gì tròn tròn gói lá chuối, giống như đòn bánh tét. Tạo đem vô nhà giấu dưới giưòng. Lúc hai vợ chồng nằm nghỉ trưa, anh quay nhìn chị, nhìn thật lâu, cặp mắt lạ lắm. Anh hôn rất nhẹ không dám hôn môi, chỉ phớt lên trán. Điều này cũng rất lạ, xưa , lúc còn bồ bịch, hai người cũng thường hôn nhau. Nhưng từ khi thành vợ chồng, anh hôn, chị mắc cỡ nói :”Vợ chồng gia đời rồi mà còn làm như kiểu Tây Đầm trong xinê, dị òm”. Trưa này chị mong anh hôn ghê lắm. Chị quay về hướng anh, mặt sát mặt, môi chúm lại chìa ra. Thế nhưng anh quay mặt vô vách, anh nằm yên không tỏ vẻ xúc động, hồi lâu cứ thấy mấy ngón chân cử động. Chắc anh suy nghĩ điều gì lung lắm . Chị Hoàng nằm sát vô vách, lén thò tay xuống dưới gầm giường sờ nắn thử, thấy không phải bánh tét, tháng bảy ai làm bánh tét làm chi? Trong thỏi lá chuối có nhiều cục giống như xà phòng bánh. Chị phân vân . Thứ gì mà ai cũng che giấu và tỏ ra thận trọng? Nằm nghỉ trưa chừng hai mươi phút anh ngồi dậy, đi nhanh xuống bếp rút cây rựa giắt trên giàn , ra vườn sau. Buổi trưa đứng gió, không một tiếng động, tiếng chim, tiếng gà, hay tiếng lá rì rào trong gió. Một lúc sau nghe tiếng chặt chuối, Tạo vô nhà, tay xách cái bắp chuối sứ mủ chảy ròng, anh nói :

-Hôm nay rằm, em làm gỏi chay cho má thờ.

Hoàng thấy chồng chặt thân cây chuối hột ra làm ba đoạn bằng nhau, chẻ cái gốc tre đực, lấy ra hai thanh vót nhọn, đóng xuyên qua ba khúc chuối làm cái bè, kéo lê xuống bến của nhà. Anh vào nhà lấy mấy thỏi lão Ba Chì đưa với khoanh dây điện, loại dây nhỏ màu đen, hai dây xoắn nhau như dây têlêphôn, quấn trong cái ống có thể kéo ra được .

Tiếng chiếc đồng hồ treo tường hiệu Ođô đổ mười hai tiếng. Dòng nhạc thời gian chậm và buồn buồn. Chị Hoàng cũng không ngủ được. Trong giường người mẹ trăn trở hoài. Trên bàn đĩa gỏi bắp chuối còn nguyên. Chị nói :

-Anh Tạo trước khi đi nói con làm gỏi bắp chuối cho má thờ, sao giờ này còn nguyên. Má thức khuya đói bụng dậy ăn, con cùng ăn với má cho vui .

-Nuốt sao vô. Bụng dạ nôn nao như thế này …

Bên kia sông, cạnh chùa Hang, đêm ấy mụ Liên mẹ Hồng cận cũng không ngủ được. Bà lo, sao đêm nay lính gác cầu bắn dữ quá. Chó cũng sủa dữ nữa. Có chuyện gì ngoài sông , trên cầu sắt không? Đêm nay rằm , trăng sáng trưng, đứng trên cầu nhìn xuống sông rất rrõ. Một chiếc lá tre trôi cũng nhận ra. Việt cộng có ngu dại gì hoạt động. Tiếng súng vang vọng trong đêm rất xa. Tiếng súng tạt ngang qua phía núi Sạn dội vào vách đá màu xám dựng đứng như tường kẽm, vang vọng u u kéo dài ra mãi. Tiếng này chưa dứt đã nối tiếng khác. Không biết thằng lính nào ham súng ống quá, chắc không phải thằng Hồng nhà mình, con mình vốn ghét trò chơi mạnh bạo súng đạn. Hồi gần sáng, một tiếng nổ đột ngột lẻ loi, rất to và rất khô, con chó giật mình rống lên. Mụ Liên không đi tu, thỉnh thoảng lên chùa làm công quả. Ngày thường bán tương chao ở chợ Phương Sài. Một lúc sau thấy bụng dạ nôn nao, khó chịu quá, ra sân thấy trăng tròn và rất sáng, nhớ con, tự hổi , không biết đêm nay nó có gác cầu không ? Tội nghiệp, mắt mủi kèm nhèm như thế, thấy gì đâu mà bắt con người ta canh gác. Bà không biết thằng con trai bà có nhớ ăn chay ngày rằm tháng bảy lớn nhất trong năm này không ? “tháng bảy ngày rằm xoá tội vong nhân”. Hay lại làm biếng không chịu ăn chay. Hoặc bắt chươc tụi kia khui cái hộp thịt ba lát, nấu nước sôi đỏ vô túi gạo sấy ăn cho tiện? An chay không phải để thành tiên thành thánh gì , bớt làm điều ác, để cho thân xác tâm hồn nhẹ nhàng ra. Bà nghĩ đơn giản, không bắn người thì người cũng không động đến mình. Quả báo nhỡn tiền ghê gớm lắm, thấy ngay .

Hồng là thằng có hiếu, biết nghe lời mẹ. Một mẹ một con đơn chiếc lắm. Bà mẹ biết con mình tướng tá xấu xí, không có đứa con gái nào ưng. Năm nay phải nhờ người mai mối kiếm vợ để có cháu bồng . Nhưng trong cái rủi cũng có cái may. Nhờ cái tướng còi đẹt, mặt mày xấu xí ấy, nhờ thế mới được ở gần nhà gác cây cấu sắt làng vĩnh Ngọc. Vĩnh Ngọc là một làng ven đô, lạ lắm, có mấy chục gia đình, kể ra đều có họ hàng không gần thì xa với nhau. Tình làng nghĩa xóm tốt lắm.Thế nhưng gia đình nào cũng có hoàn cảnh đặc biệt, người bên này, kẻ bên kia. Liệt sĩ bên này tử sĩ bên kia nhiều lắm. Mấy thằng con trai con nhà giàu, to cao khoẻ mạnh đẹp trai có bằng cấp đi sĩ quan bị đẩy lên quân đoàn hai đóng ở Pleiku. Có đứa chưa kịp mang lon diện bộ quần áo sĩ quan chụp hình gửi về đã thấy cái xe Đốt cách (Dodge 4) chở quan tài phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ băng qua cầu Hà Ra tới bến nước sau nhà ông Bốn Biển, để đó rồi thuê chiếc ghe ngày thường dùng chở nước đá chở xác qua sông, ra đến giữa sông thả mấy tờ vàng mã cúng hà bá con sông Cái . Những thằng con trai trẻ trùng đẹp đẽ khoẻ mạnh rồi cuối cùng cũng lên bãi tha ma Hàm Rồng nằm , chiều chiều nhìn đoàn xe lửa chạy rầm rầm qua cây cầu sắt đen sì đứng lầm lì trong bóng chiều muộn .

Khi ánh sáng ngọn đèn pin thằng Hồng vừa loé lên, anh Tạo hụp xuống. Nhanh nhưng rất nhẹ, chỉ một tiếng “chũm” nhỏ như con nhái nhảy xuống ao. Giây phút cuối cùng anh còn thấy trên đầu mình một chùm hoa lộc bình tim tím và cả mùi nước sông tanh tanh mùi vảy cá lẫn mùi bùn non hai bờ lúc nước ròng . Anh thầm nghĩ, may quá ! Chắc nó không nhận ra.

Hồng xem đồng hồ dạ quang thấy đã hết giờ gác, Hồng xách súng tính đi vào kêu thằng khác ra thế, thoáng thấy túm bèo trôi gần đến chân cầu thì hơi nghi, dừng lại. Hắn kép cu-láp bóp cò, chỉ nghe một tiếng tách nhỏ, hết đạn! Hắn tháo gắp đạn ra, thấy cái lò xo đã đẩy lên tận cùng rồi. Hắn bỏ đi vào. Bước được mấy bước thì thấy trong hốc cầu, ánh lên sắc vàng. Một viên đạn AR 15, màu vàng bóng như viên đạn mới, Hồng nhặt lên ngẫm nghĩ, bọn lính làng ẩu quá, đạn dược súng ống bỏ lung tung Thượng sĩ trưởng đồn mà thấy thì chết cả bọn. Hắn cầm viên đạn lên tính vung tay ném xuống nước để phi tang. Hắn lấy cây đèn pin, thứ quân trang của Mỹ, rọi xuống sông thấy túm bèo không trôi mà đứng nguyên một chỗ rất gần chân cầu, cái chân cầu quan trọng nhất. Hắn quét ánh đèn lại một lần nữa thấy giữa đám bèo có một chùm hoa màu tím, với cái cuống nâng hoa lên cao, với dáng vẻ kiêu hãnh của loài hoa sông nước. Hoa thực đẹp, đoá hoa đẹp xuất hiện trong cảnh chiến tranh chết chóc, là một sự giểu cợt mỉa mai. Hắn sẽ thử nhắm bắn bông hoa này, cũng cần có tiếng nổ để cho lão thượng sĩ biết mình không ngủ gục .

Hắn lắp viên đạn vừa nhặt đựơc, đưa súng lên ngắm, dù có ánh trăng vẫn không thấy chùm hoa đâu cả, muốn thấy cần phải có ánh đèn. Cây AR15 nặng lắm, không thể một tay cầm đèn rọi tay kia cầm súng nhắm, những đứa khoẻ làm được còn tay hắn yếu lắm. Hắn ngồi xuống tìm nơi tì súng vào thành cầu, còn một tay cầm đèn rọi. Trước cặp mắt cận thị rất nặng, trong đêm trăng sáng và ngọn đèn pin mới thay pin cũng rất sáng, thế nhưng hắn nhìn, qua khe dẫn, danh từ quân sự gọi là lỗ chiếu môn đến cái đỉnh đầu ruồi thấy một màu tím hoa cà mờ mờ rung rung , chẳng rõ ràng gì cả. Hắn nghĩ, cần gì trúng , bắn cho có tiếng nổ. Hắn bóp cò. Một tiếng nổ không lớn lắm, buồn bã và bỏng rát trong một đêm sương đã xuống ướt đẫm sắt cầu. Đoá hoa màu tím ngạo nghễ vươn lên trong vùng nước sông đang xanh ngắt bỗng quặng trào lên quầng đỏ.

Viên đạn bỏ lăn lóc mà thằng lính mù lượm được nhắm vào đoá hoa lại bay theo con đường ngoằn ngòeo của định mênh để làm ra điều thiêng liêng kỳ dị, một thứ định mệnh tàn nhẫn . Bên kia sông gần chùa Hang, mụ Liên mẹ thằng Hồng đang ngủ giật mình thức dậy rền rĩ than van:”Oi chao! Mô Phật thương xót chúng sinh …”. Rồi bà tiếp:”Con cái nhà ai mà ác quá nhè lúc đêm hôm khuya khoắc vào lúc trời đất yên bình thanh tĩnh này mà nổ súng, tiếng nổ lạ quá, đanh quá , ác quá, tàn nhẫn quá, không khéo đã có linhhồn về với Phật…”. Mụ bỗng thấy một luồng giá lạnh chạy dọc xương sống xuống chân. Bà quấn tấm chiếu cho kín hơn vẫn thấy hai bàn chân lạnh như dẫm trong máu lầy nhầy .

Bên này sông dì Bảy Bưởi, mẹ anh Tạo , đang ngủ bỗng ôm ngực , thức dậy run rẩy, quẹt hai ba cây diêm thắp mãi cây đèn cầy bàn thờ Phật không xong . Bà gọi :”Hoàng ơi thắp dùm mẹ cây đèn”. Bà mở bộ kinh Địa Tạng ra tụng, ngày thường thuộc hết, bây giờ đầu óc lú lẫn đâu cả .Chị Hoàng nói, má ngủ lại đi, ban đêm bọn lính gác cầu bắn vu vơ. Dì Bẩy giọng chưa hết run rẩy, nói như thấy được mọi sự đã xảy ra ngoài cầu sắt Vĩnh Ngọc:”Không phải, viên đạn này, tiếng súng này lạ lăm. Nó bắn ở đâu đâu mà tim tao đau nhói. Má biết nó đã xuyên vào da thịt người nào đó rồi. Không con mình thì cũng con người mẹ nào đó. Tôi nghiệp ! Nam Mo Quan Thế Am Bồ Tát cứu khổ cứu nạn chúng sinh …”

Trong bao nhiêu tiếng nổ , một người mẹ đã nhận ra viên đạn tàn ác của đứa con thương yêu của mình . Trong bao nhiêu tiếng súng người mẹ thứ hai đã nhận ra viên đạn xuyên qua quả tim con mình. Một sự kỳ bí đến kinh hoàng. Sáng hôm sau lão thượng sĩ già tập hợp mấy thằng lính, áo quần xốc xếch mà thường ngày lão thường gọi là một đám tàn quân chuẩn bị tư thế dàn hàng dọc trên cầu làm hàng quân danh dự. Lão nói :”Cuộc đời thiệt oái oăm, bao nhiêu thằng lính thiện xạ, huy chương vàng toàn quân mà lại để cho thằng lính cận thị, thằng lính mù lập chiến công. Chuẩn bị, thiếu tướng sắp đến gắn huy chương”. Mười giờ thiếu tướng đến. Mỗi bước ông đi phát tiếng kêu da bò cút kít, bụng lão rất bự, quấn cái nịt da to bảng, giắt đủ thứ trên đó, người lão bốc lên mùi thum thủm da bò thuộc chưa chín. Có lão thiếu tá quận trưởng đi theo. Ông tướng nhìn thằng lính cộng hoà còi đẹt như đứa con nít này, mặt mày như ông già, tự thấy hổ thẹn, lính quốc gia người không ra người, ngợm không ra ngợm , giống như khỉ . Ông tướng gắn vội vàng cho nó cái anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Rồi lên trực thăng bay ngay. Khi ông quay mặt đi thằng Hồng nhìn qua bên kia sông thấy trên bãi bùn, nước sông vừa rút xuống có cắm mấy cây lồ ô, đầu gậy gắn cái lon đổ dầu nhét giẻ, gọi là đuốc cầu hồn cho người chết dưới nước, bóng mấy ông thầy chùa mặc áo vàng tụng kinh cầu siêu, và tiếng người mẹ già khóc kể, người vợ có chửa bụng đã to mặc áo tang sổ gấu lê lết dưới bùn. Hồng bổng nổi điên chộp cái huy chương mới gắn trên ngực, ngước lên trời ném cái huy chương theo máy bay còn lượn lờ bên trên những cây dừa lão, chửi với theo:”Đù má! Đồ cứt đái ! Cút đi!” Chiếc máy bay cán gáo đã lên cao kêu lạch bạch. Chiếc huy chương rơi tõm xuống sông. Ngày sau không biết có tên điên nào vơt lên đeo không ? Nhưng câu chửi thề rót trọn vào tai bọn quan chức tháp tùng với ngài thiếu tướng còn đứng trên cầu .

Làm cái thất thứ bảy cho anh Tạo xong chị Hoàng quyết trả thù. Chị dỡ đống rơm sau chuồng heo lấy khẩu Cac-bin MI, “cây súng ruột, cây súng cưng” của anh Tạo, anh thường đem nó đi thi bắn, bắn xong anh bôi dầu nhớt, quấn trong hai ba lớp bao nhựa, giấu dưới đống rơm . chị lấy súng lên lau chùi, đưa nòng súng ra sáng kiểm tra, chị nhìn thấy cái lỗ sáng loáng sâu hun hút. Chị không dám động đến bộ phận nhắm, anh đã bỏ ra hàng chục viên đạn để điều chỉnh. Chiều lại, chị trốn mẹ chồng xách súng ra bến, xăn quần lên đến gối xuống nước lần ra xa gác súng lên cành sung .

Chiều hôm đó thằng Hồng ngồi trong lô cốt tối tăm, nuốt gói cơm sấy không trôi. Sau “chiến công” ấy hắn được nghỉ phép một tháng, hắn trốn qua Nha Trang ở. Ngày hôm qua mới dám trở về Vĩnh Ngọc. Đêm nay hắn lên ca gác đầu tiên. Hắn đội nón sắt nặng như chiếc nồi đồng lên, nghĩ ngợi sao đó lại tháo ra, đi đầu trần. Hắn cầm súng lên, hắn chán súng đạn rồi, hắn tháo băng đạn ra ném đại. Lúc ấy bọn lính đi chơi cả, không ai thấy hành dộng kỳ dị của thằng lính đi gác mà không đội nón sắt, không đem theo đạn. Hắn xách cây đàn ghi ta gỗ. Đến giữa cầu hắn tìm chỗ trống trải nhất ngồi tựa thành cầu, dựng khẩu súng một bên. Hắn cầm đàn, búng qua sáu dây và bắt đầu câu đầu tiên bài “Dòng sông xanh”. Hắn thả cái nốt sầu và tâm hồn tan nát trrôi theo tiếng nhạc

Bờ bên kia phía Lư Cấm, chỗ bến đất sau nhà anh Tạo, nơi cành sung vườn ngã ra, chị Hoàng cầm cây cac-bin chuyên bắn tỉa, từ từ đưa cái bóng một con người ủ rũ chán chường, dáng ngồi nghiêng, vào điểm chết trong tầm súng. Chị lấy làm kinh ngạc, thằng này tới số hay là nó muốn chết? Tại sao hắn tìm đến nơi trông trải ngồi yên cho người khác nhắm bắn? Mấy thằng lính gác khác thường tìm cách ngồi nép phía sau những thanh sắt cầu, còn hắn thì chường mặt ra ngoài, lại không chịu đội nón sắt. Hắn ôm đàn, tóc loã xoà trong gió, vẻ nghệ sĩ và rất buồn. Chị kêu thầm, anh ơi xem em cho con quỉ này rơi xuống sông ngay nơi hắn đã phạm tội. Bóng hắn cắt lên rất rõ trong cảnh trời chiều. Đối với người mẹ đầy ắp căm giận và tài năng thiện xạ này thì “để” viên đạn vào nơi đâu trên tấm bia sống ấy cũng dễ dàng. Lòng chị sục lên. Không còn nghi gnờ gì nữa, nó là thằng Hồng cận, không phải một con người bình thường , hắn là đứa sát nhân, chết không oan. Chị chỉ cần lắp một viên đạn vào súng. Viên đạn này chị tháo trong băng đạn mới của anh. Chị lấy mũi kim khắc hai chữ Tạo + Hoàng xong gói nó trong bức thư tình đầu tiên anh gởi chị. Chị đặt vào chiếc đĩa có mấy điếu thuốc thơm cúng chồng trước bình nhang, nghi ngút khói hương. Chị sẽ gửi vào tim kẻ thù viên đạn này. Sau này quân y mổ xác hắn ra sẽ có chuyện để kháo với nhau. Hoàng điều chỉnh hướng súng từng li, đưa trái tim quỉ vào hồng tâm. Chị bắt đầu bài học bắn sẻ. Chị từ từ siết cò súng, siết một nửa, hơn nửa một tí, chỉ cần nhích lên một phần mười li là súng nổ. Đó là bài học vở lòng môn bắn tỉa.

Lòng chị sục sôi, hồi hộp, thái dương nóng bừng, qủa tim đập ghê gớm. Cặp mắt đẹp, ngày xưa xanh ngắt thiên thanh, anh rất mê, nay cũng đôi mắt ấy mắt đục ngầu căm thù .Chị như con báo rình mồi. Chị cố trấn tĩnh nín thở, tự nhủ, có gì ghê gớm đâu, mình đã làm việc này hàng chục lần. Tưởng tượng thằng kia trúng đạn, hét lên rơi tõm xuống sông như cái hình nộm trong bộ đồ rằn ri sướng biết bao nhiêu !

Đúng vào cái giây phút mà ranh giới sanh tử, mong manh như một sợi tóc, thì bỗng nhiên chị Hoàng nghe bụng mình nhói lên. Không phải cơn đau bình thường, đó là sự trở mình chuyển động của bào thai sáu tháng. Người ta thường gọi là “máy”. Chị Hoàng nghĩ chắc vì mình lom khom chọn nơi đứng, nơi đặt súng và ngồi nhắm khá lâu, Bụng chửa bị gập lại, chật chội. Nó xoay trở để tìm vị thế thoải mái hơn . Người mẹ đưa bàn tay cầm súng, bàn tay lạnh ngắt gió sông buổi chiều đẫm mồ hôi lạnh vì hồi hộp. Chị đặt bàn tay ấy lên bụng, nhhận ra có một cái gì êm đềm trìu mến dịu dàng khó tả, đội lên cái đầu hoặc cái gối của nó, chị ấn nó vào . Nó ngoan ngoãn làm theo. Chị buông ra tiếp tục công việc. Hoàng đặt ngón tay lên cò. Trời đã chập choạng tối. Không chần chừ gì nữa, chậm thì không trả thù cho anh Tạo đúng vào ngày ý nghĩa là cái thất thứ bảy của anh “.

Một lần nữa thai nhi động đậy, chị nhăn mặt, rên “Chao ơi!”. Rồi chị than :

-Con ơi, ngoan ngoãn nằm yên đi, để yên cho mẹ làm việc này …

Và ngưòi mẹ lại hừng hực, hăng say nín thở căng mắt đưa cái bóng đen vào điểm chết, tự nhủ, còn chần chừ gì nữa? Kia không phải là cái bia, là con người tốt hay ít ra là bình thường đáng để tồn tại trên thế gian này… Lại một cái chòi đạp rất mạnh. Chị Hoàng oằn người, bủn rủn tay chân, giật mình run rẩy, lạ nhỉ ? Có gì không đúng sao? Đúng lúc ấy bên kia sông , chùa Hang gióng lên hồi chuông tịnh độ buổi chiều. Tiếng chuông chùa, những giọt trầm buồn, đầy chất thiện, ngân nga lên cao, thấm vào trần mây xốp màu kem và nhoà ra như những giọt mực Tàu trên giấy thấm . Dòng nhạc thánh thiện một cách ngẫu nhiên, cất lên thật đúng lúc. Chất từ bi, tha thứ, hỉ xả ngập tràn không gian, chen chúc vào sâu trong tâm hồn. Lẫn trong tiềng chuông, trong làn gió chiều thướt tha trên sông có tiếng cây đàn ghi ta gỗ thực thà:”… một dòng sông xanhh… Một dòng tràn mông mênh …” Tiếng đàn phản ánh tâm trạng ân hận, đau đớn, xấu hổ, xót xa… trôi trên dòng nước về đến bến sông này, không xin tha thứ mà xin được đền tội. Người mẹ mềm lòng chới với thều thào :

-Con ơi, anh ơi !…

Lòng chị tự dưng xuống mềm ra tan thành niềm hoan lạc, hạnh phúc được làm người độ lượng, vĩ đại. Chị kiêu hãnh về cái phần của anh còn lại, cái mầm sống mong manh trong ngời mình, cho mẹ , cho đất nước này. Và từ đâu đó trong nơi sâu thẩm tận phần vô thức bỗng ngân lên dòng nhạc thánh thần, một ban đại hoà tấu gồm hàng trăm cây vĩ cầm dương cầm, tấu lên một bản anh hùng ca huy hoàng tráng lệ về ngày đại thắng cuối cùng vang lên trong đại sảnh đường dân tộc … Trong niềm kiêu hãnh ấy sá gì mối hận thù cá nhân này. Chị đứng lên, ngón tay bóp cò buông ra, nó đờ đẫn tê liệt. Chị gạt cái chốt an toàn cây súng, kéo qui-lát mạnh. Viên đạn đã lên nòng sắp kết thúc một sinh mạng văng ra, rơi xuống nước, mong sao đừng kẻ nào nhặt nó lên để cho định mệnh buồn lại có dịp vẽ ra một câu chuyện tàn nhẫn như thế này. Nghĩ ngợi sao đó chị thấy cần vớt viên đạn lên lại. Chị lấy chân mò tìm, nhặt được viên đạn, chị dùng vạt áo lau khô, cất lại trong túi, hẹn, sẽ để dành nó cho kẻ thù đích thực xứng đáng hơn … Chị mang súng bước lên bờ, thả hai ống quần xuống, bước đi. Đứa bé động đậy nhè nhẹ, chị đã mơ hồ nghe, một ca khúc tráng lệ về tình yêu, về một thế gian an lạc hoà bình của đứa bé, theo nhịp đập quả tim người mẹ chị yên ổn hạnh phúc vô song. Lòng nhẹ tênh cất được gánh nặng về sự thù hận. Chị nhìn xuống đôi chân trần màu hồng của mình được bao phủ và dẫm trên cát sông mịn màng màu xám tro, còn giữ hơi ấm dịu dàng trong một ngày thu, cứ để cho hai dòng nước mắt yêu thương lăn xuống má …

 

 
 
 
 
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi ngày 28.07.2012.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.