TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN I : MÙA KHÔ

3 - 4 - 5





3- CHUẨN BỊ MỘT CHUYẾN PHI HÀNH VŨ TRỤ.


Mặt trời lên mỗi lúc một cao. Nắng đổ gay gắt. Lũ chim rừng lặng tiếng êm hơi chui rúc vào những lùm cây tán rộng. Nắng nở những bông lửa rưng rức nhún nhảy trên ngọn tre. Không gian nóng bức tựa một lò nung khổng lồ. Cây rừng U Minh lả ngọn, xếp lá rầu ỉ. Trong không khí vô cũng oi bức nhưng không dứt tiếng sáo ngân ran ran của đám ve sầu. Ông cháu bác Ba Phi mệt phờ tưởng chừng không còn không khí để thở. Vậy mà con ếch bà mắc câu dưới đìa cứ “đàn” hết bản nầy sang bản khác. Tiếng đàn của ếch rơi trên nước nghe âm ba gợn sóng. Bài ca “Dạ cổ hoài lang” của bác Ba đã chấm dứt tự bao giờ mà con ếch cứ cất lên những tiếng đàn não nề bi đát như oán như than, có lúc lại ấm ức tỉ tê tựa lời nguyện cầu tuyệt vọng. Ếch đàn không biết mệt mỏi, quên cả nghỉ trưa, bất kể đau hàm. Càng đàn ếch càng thấm thía nỗi nhục của “một nhà nghệ sĩ” nổi danh đã phạm vào cái tội đi ăn trộm rùa. Rồi tất cả cái đau đớn, nhục nhã kia nó tập trung miết vào một chỗ... cạnh quai hàm. Ếch muốn bứt phăng đi cung đàn vướng vít, dứt bỏ hẳn kiếp đời nghệ sĩ tài hoa nầy, nhưng vì sáu sợi dây chì chắc chắn quá, lưỡi câu móc vào hàm sâu quá, khó đứt nổi.
Thằng Đậu nằm gác đầu lên đùi ông nội ngủ say tự bao giờ. Bác Ba Phi cũng thiu thiu mơ màng. Ngoài trời nắng cứ đổ hầm hập. Không gian yên lặng tựa hồ như trời đang nín thở.
Bỗng từ phía biển có một vầng mây đen kịt ùn ùn kéo đến. Vầng mây trông thật quái dị ! Mây cứ sà thấp gần ngọn cây mà bay tới. bác Ba giật mình choàng dậy, làm thằng Đậu cũng chới với bò theo. Hai ông cháu kẻ cắp dáo, người cầm mác, đứng thủ thế.
Vầng mây đen hung hăn bay đến ngay đầu ông cháu bác Ba Phi. Chừng xem kỹ lại cả hai bật cười và ném dáo, buông mác xuống đất. Té ra đó là một bầy rồng bay đi tìm nước ngọt để lấy làm mưa. Bầy rồng có tấ cả là chín con, chúng lần lượt bay qua, một con rồng cái chửa mang cái bụng nặng nề bay sau chót. Con rồng chửa trông thấy đìa nước ngọt của bác Ba Phi nó thèm nhểu nước miếng, thè lưỡi liếm mép lia lịa. Bác Ba hiểu ý ! Con rồng chửa đã chấm điểm cái đìa nước của bác Ba rồi. Bác gật đầu mỉm cười bí mật...
Quả đúng như ghị. Bầy rồng bay đi luôn, chỉ có con rồng chửa tách đàn quay trở lại. Sau khi lượn một vòng thật nhặt, con rồng chửa liền lao mình trườn sát xuống mặt đìa thò vòi nếm thử nước rồi cất lên liếm mép, gật đầu.
Hơi gió của rồng bay qua gây thành trận cuồn phong liệt bổ. Tóc trán ông cháu bác Ba Phi dựng đứng. “Nghệ sĩ ếch” dưới đìa thất kinh vọt thẳng lên cao, nhào lộn đầu một cái. Thế là cả sáu sợi dây nhợ câu bị đứt ngang.
Thấy ếch sẩy câu, ông cháu bác Ba Phi bứt đầu, đấm ngực, chửi bới con rồng chửa phá đám. Thằng Đậu cung tay, giọng hầm hừ:
- Con sẽ bắt rồng gỡ vẩy làm móng đờn khảy chơi.
Bác Ba cũng giận dữ:
- Ông sẽ bắt rồng mổ bụng lấy trứng luộc ăn.
Có lẽ con rồng chửa không hay biết gì đến sự phẩn nộ của ông cháu bác Ba Phi, nên lượn một vòng nửa và nó cứ hí hửng, gật gù cái đầu, nhếch mép cười tỏ vẻ khen cái đìa nước ngọt toại ý. Ông cháu bác Ba Phi vội vã kéo đoạn nhợ câu ếch bị đứt đánh thành cái khuyết, căng vòng tròn qua đầu nhánh chà trên đìa. Hai người làm xong, cũng kẻ cắp dáo, người cầm mác đứng núp sau bụi tre xiêm, quyết bẫy cho được rồng để thế mạng cho con ếch.
Con rồng chửa đảo lại một vòng nữa. Lần nầy rồng sà xuống thật sự. Với tư thế của một kẻ trộm, con rồng chửa vừa cắm vòi xuống đìa nước ngọt của bác Ba liền hút lấy hút để. Nước đìa giựt xuống trông thấy. Rồng mê hút nước, nó biết đâu là sự nguy hiểm đang bao vây vòng quanh bên cổ mình.
Thấy đầu rồng đã lọt trọn vào tròng, bác Ba liền cầm mác xông tới nạt lớn:
- Rồng !
Con rồng chửa giật mình, quật đuôi ngang, ngẩng đầu bay vút lên định trốn chạy. Nhưng nó có chạy đường trời cũng không thoát nổi vì chiếc vòng đã siết chặt cổ nó rồi. Rồng vùng vẫy quyết liệt. Bác Ba Phi sợ đứt bẫy, lao tới nắm đuôi rồng. Rồng vung mình, đập đuôi quăng bác bê qua, bê lại. Chiếc quần lưng vận của bác bị sút, bác càng lính quýnh, một tay nắm lấy lưng quần, một tay câu cứng cạnh đuôi con rồng mà chịu.
Thấy ông nội lâm vào tình thế bất lợi, thằng Đậu vừa mắc cười vừa thương hại, nó chụp vội lấy cây mác nhảy tới chém bổ vào cổ rồng. Lưỡi mác chạm vào lớp vẩy rồng một cái “soảng” liền dội ra. Đậu nghe hai bàn tay ê ẩm. Nó ráng vớt thêm một mác nữa. Nhát nầy chẳng những cổ rồng không bị hề hấn gì, mà ngược lại sợi nhợ bẫy đang siết cổ rồng bị đứt tuốt. Con rồng thoát nạn, lừng lựng bay lên. Bác Ba Phi bị rồng lôi theo, hai chân từ từ hổng mặt đất.
- Nắm chân ông nội ghị xuống, bớ Đậu !
Tiếng ông nội thét thất thanh làm thằng Đậu quýnh hồn. Nó thấy con rồng đang cất đầu lên khỏi ngọn cây, kéo ông nội theo hổng chân khỏi mặt đất. thằng Đậu nóng ruột quá, chạy theo nắm chân ông nội lôi lại, phần sức nó yếu, thân thể nhẹ xều, phần một tay mắc cầm cây mác của ông nội, Đậu chỉ nắm chân ông được một tay. Cuối cùng nó cũng bị rồng lôi hổng giò. Nó cố ngóe chân kẹp lấy ngọn cỏ chịu lại. Dần dần kẹp vào ngọn tre, rồi sau đó kẹp vào những ngọn mù u, cây dừa. Cuối cùng nó chỉ kẹp khơi khơi trên thinh không lấy lệ. Bác Ba và thằng Đậu đã hoàn toàn bị con rồng chửa lôi bay lên mỗi lúc một cao.
Bác Ba Phi nắm đuôi rồng. Thằng Đậu nắm chân ông nội, hai ông cháu cứ đeo tòn ten tựa thả diều giấy. Những bụi tre, những ngôi nhà qua tầm mắt nhìn của họ, bắt đầu tròn lại. Bờ ngang liếp dọc bắt đầu vuông vức tựa những ô bàn cờ. Cây vườn màu xanh đậm, đồng cỏ màu xanh lơ, nước sông màu đen thẫm, nước lung màu đen chì... Gió thổi hù hụ qua lỗ tai, mây vướng vùn vụt vào mặt. Ông cháu bác Ba Phi nhìn xuống thấy xóm làng mỗi lúc một lùi xa mà trong lòng bồi hồi đau xót. Thằng Đậu vô cùng sợ hãi, tay cắp cây mác cán dài, tay nắm chắc chân ông nội, rên rỉ:
- Làm sao bây giờ, hở ông ?
bác Ba Phi bên trên vẫn bám chặt đuôi rồng, tuy gan ruột cũng đang lộn hết lên cổ nhưng cố giữ giọng bình tỉnh để động viên cháu:
- Yên chí ! Ông cháu mình du hành vũ trụ một chuyến chơi !



4- GÁC MẬT ONG BẰNG NHỮNG CÂY KÈO DA.


Nhưng con rồng chửa đâu dễ tốt bụng để cho hai hành khách không thiện cảm nầy quá giang khỏi tốn một đồng bạc mua vé ! Mới đây họ là kẻ thù sống chết, suýt nửa rồng bị đổ trứng mất mạng vì cái đìa nước ngọt kia, bây giờ bầu trời là quê hương của rồng rôi, “chó cậy nhà, gà cậy vườn”, rồng thì cậy vào mây gió. Càng bay lên cao, con rồng chửa càng vùng vẫy, nhào lộn, đuôi huơ qua, quất lại cố làm cho ông cháu bác Ba Phi sút tay mà “nhảy dù” xuống đất. Bác Ba bị giàn vật tơi bời, may mà lúc nầy bác đã vận lại được cái lưng quần, không thì phải “khoe của” giữa trời thật xấu hổ hết chỗ nói. Có những cái rồng quạt đuôi qua cua gắt quá làm hai cánh tay của bác Ba giãn ra kêu răn rắc. Sức thì già lại thêm thằng cháu nội ăn theo phía dưới, bác Ba thấy xoay trở nặng nề vô cùng. Rồng càng vùng vẫy, bác Ba càng đuối sức, thở dốc cả mũi lẫn mệng. Nhắm tình thế không kham, bác Ba than thở:
- Chắc ông cháu mình phải nhảy dù xuống quá, Đậu ơi !
Nghe ông nội nói, thằng Đậu thất kinh:
- Nhảy dù phải có bọc vải, không thì có mà rớt xuống như bịch muối sao hở ông ?
Trong lúc ông cháu bác Ba Phi chưa biết quyết định cách nào,thì tình huống mới xảy ra đột biến. Con rồng chửa đã thay đổi chiến thuật. Nó quay đầu lại, nhe nanh táp một nhát vào tay bác Ba. Bác chợt giật mình rụt tay lại để chụp lấy cây mác cán dài mà đối phó theo quán tính lâu nay. Nào ngờ... hai ông cháu bị sút tay rơi xuống nghe vèo vèo vào giữa thinh không. Độ rơi nhanh quá làm ông cháu bác Ba tối tăm mày mặt, nhắm mắt lại chịu trận. Họ nghe lớp khí quyển ma sát vào thân thể nóng ran cả da thịt. Sao đó một hồi lâu ông cháu nghe có một vật gì như chiếc võng từ bên dưới đón lấy thân thể họ. Mặt võng nhún xuống thẳng trớn lại bung lên, hất bổng hai người, rồi lại rơi xuống, hất lên mấy bận mới chịu nằm yên. Ông cháu bác Ba dần dần tỉnh hồn. Họ nhìn kỹ lại: Té ra mình đang nằm trên một tàn cây tràm lớn có dây mây và dây rau câu đan trên ngọn dầy đặc tựa một chiếc võng.
- Ơi trời ơi ! May phước ông bà...
Bác Ba Phi thở phào. Thằng Đậu cũng như vậy. Rồi ông cháu mới dùng mác rọc một lỗ lưới dây mây chui xuống cành cây, và trên cành cây tràm họ tụt xuống đất.
- Bây giờ mới là gay go - bác Ba nói - Nhảy dù xuống giữa rừng thế này, biết đường sá đâu mà lội về ?
Nói là vậy chớ bác Ba không lo. Từ trên trời hai ông cháu còn xuống đất được, huống chi từ trong rừng về nhà, khó khăn gì ? Bác Ba dắt tay thằng Đậu đứng giữa một trảng trống loay hoay tìm mặt trời. Bác làm vậy do thói quen của những người đi rừng khi bị lạc đường, chứ mặt trời đang nắng chang chang đứng ngay xoáy ngọ kia, có lẩn khuất đâu mà tìm ? Nhưng, mặt trời đang đứng bóng, mới là gay go ! Chớ chi mặt trời ngã xế hoặc chưa lên cao thì còn dễ tìm phương hướng. Nhưng không sao, còn cách khác ! Bác Ba Phi liếm ướt đầu ngón tay trỏ rồi đưa lên ngang chân mày, quay vòng chầm chậm. Thằng Đậu thấy ông nội làm chuyện ngộ nghĩnh, nó cười om:
- Ông nộ làm kiểu gì sao giống chú cảnh sát giao thông chào cấp trên quá vậy ?
Bác Ba Phi ê hèm một cái, dẫn giải:
- Tìm phương hướng đó cháu ạ.
Và rồi bác Ba cứ đứng như thế mà xoay người. Chốc sau bác nghe đầu ngón tay mát rượi, vội dừng lại:
- Đây rồi, phía móng tay ông là trên gió. Gió nam. Phía dưới gió là hướng nhà của mình: hướng mặt trời mọc.
Nói xong, bác Ba dắt thằng Đậu trở lại dưới tán cây tràm ngồi nghỉ. Bị con rồng quật cho nãy giờ, rêm mình, thằng Đậu chuồi nằm một bên ông nội. Bác Ba Phi mở gói thuốc bánh giồng ra vấn hút rồi cũng nằm xuống bên cháu. Hút hết điếu thuốc, bác Ba nhìn qua, thấy thằng Đậu đã ngủ khì. Thằng nhỏ nằm tréo ngoảy, một chân dựng, một chân gác tréo trông tựa cây kèo ong. Tội nghiệp thằng nhỏ, khổ vô cùng ! Bởi nó nóng ruột cứu ông nội mà phải chịu khổ lây. Bác Ba thấy thương cháu nội quá ! Bác định để cho nó ngủ một chút lấy sức rồi kêu dậy lội về cũng không muộn. Nghĩ vậy, bác Ba nằm tréo ngoảy chân mà chờ, tay gác ngang trán, nghĩ miên man sự đời... Gió hiu hiu, tàn cây tràm mát rượi. Bác Ba nhắm mắt ngủ theo thằng Đậu hồi nào không hay.
Trải qua một cuộc du lịch truân chuyên trên không, lồng ngực thỉnh thoảng giật thót phập phồng, trong giấc mơ bác Ba thấy mình cứ tiếp tục bay đi mãi... Bác lên tới cửa Nam thiên môn, vào Linh Tiêu điện thấy lão Ngọc Hoàng ngồi ngất ngưởng trên ngai vàng, có nhiều tiên nữ đứng hầu. Lão trời râu dài tới ngực mà còn “dê”, cứ uống rượu và cầm tay vuốt ve các cô gái trẻ. Thật xấu hổ lây cho lớp tuổi già ! Bác Ba Phi trỏ tay vào mặt lão trời, quát mắng... Lão trời giận sai thiên binh, thiên tướng áp đến bao vây. Một mình tả xung hữu đột, bác Ba cầm cây mác cán dài đại chiến với Tứ đại thiên vương, đánh luôn cả Nhị thập bát tú... họ bắt sống được bác. Họ trói giật cánh khuỷu tay bác hết phương vùng vẫy. Rồi họ đốt lửa hai chân bác nóng ran... Họ lay bác, réo gọi bác qua giọng thất thanh... Bác Ba Phi giật mình tỉnh giấc...
- Ông nội ! Nằm êm kẻo ong đánh chết.
Sự thật nãy giờ thằng Đậu lay gọi bác chớ có thiên binh thiên tướng nào. Thằng Đậu chỉ cho ông thấy một việc thế gian ít có. Dưới dạ cái chân tréo ngoảy của hai ông cháu có hai tổ ong mật đến ốp kèo đóng tòn ten. Bác Ba Phi khủng khiếp quá, nằm chết lặng một lúc. Đời thuở nay giống ong mật thì đóng vào kèo bằng cây chớ có đóng kèo bằng ống quyển người ta bao giờ ? Cả rừng U Minh mênh mông như vậy không đủ những cành cây cho chúng đóng ổ hay sao ? Thật cắc cớ ! Nhưng bác Ba Phi nghĩ có lẽ lũ ong đã lầm - Ở đời cũng thiếu chi chuyện hiểu lầm mà sinh ra rắc rối - Chúng thấy cặp chân hai ông cháu bác tưởng là những cây kèo gác của mấy người phong ngạn, cứ a thần phù bay đến ốp kèo. Bảo thằng Đậu nằm im, bác Ba Phi nhè nhẹ mở gói thuốc bánh giồng quấn một điếu lớn bằng ngón tay cái, quẹt lửa, bập thổi lên. Bác vừa phun khói vừa rung đùi, vừa ca vọng cổ chơi. Ong già rớt ra từng cục. Bác từ từ ngồi dậy. Bác Ba cạo lấy ổ ong ở chân mình, có đến hai lít mật. Bên kia thằng Đậu nằm nín thở, hé mắt nhìn ông nội thổi ong. Đến khi thấy ông nội rê tiếp điếu thuốc thổi khói qua phía chân mình, thằng Đậu mới nhắm mắt lại chịu trận.
- Mở mắt mà xem ông nội làm để học cách thổi ong !
Bác Ba Phi bảo vậy, nhưng thằng Đậu vẫn trơ trơ.
Bác lại bảo tiếp:
- Rung đùi lên cho ong già bay ra !
Thằng Đậu nghe lời, nằm nhắm mắt mà rung đùi, rung một hồi thấy thú vị quá, Đậu liền cất tiếng ca theo nhịp chân:
“Kìa nắng sớm mai, chiếu soi ngàn muôn tia sáng...”. Bác Ba Phi hơi phật ý. Bảo nó học thổi ong lại cứ nằm nhắm mắt, rung đùi ca hát, phải cảnh cáo một lần cho nó nhớ. Nghĩ vậy, bác Ba bắt một con ong đực cho chích vào bắp vế non thằng cháu nội một cái. Thằng Đậu nhảy nhỏm, đứng phắt dậy kêu “ối dà” và đưa tay vò lia lịa, làm ổ ong bể nát, mật chảy ròng ròng từ nhượng xuống đến gót. Thằng Đậu biết ông nội chơi xỏ mình, nhưng nó không nói ra, mím môi liếc chừng ông và quay chỗ khác, nhếch mép cười ý nhị. “Một chuyện đáng ghi nhớ”. Thằng Đậu nói thầm.
Thổi ong xong, bác Ba Phi ném điếu thuốc còn cháy ngút khói vào bụi rậm, rồi hai ông cháu ngồi lại ăn mớ ong vừa thổi cho đỡ đói. Sáng đến giờ hai người có cơm nước gì đâu !



5- THÂN CÂY CHẾT ĐỨNG GIỮA RỪNG.


Ăn ong no nê, hai ông cháu bác Ba nhắm hướng xóm nhà, lội về. Mới đi chưa được một cây số, bỗng nghe phía sau có tiếng rào rào như một trận bão. Ngoảnh đầu lại, bác Ba thấy có một ngọn lửa cháy rừng chỗ hai ông cháu ngồi ăn ong. Lửa đã bốc ngọn cao tới đọt cây.
- Chết cha rồi ! Hồi nãy ông nội vô ý vứt tàn thuốc nhằm chỗ bổi khô làm cho rừng bốc cháy.
Người đi rừng vào mùa khô gặp lửa cháy thì đó là một tai nạn khủng khiếp ! Thằng Đậu đã từng biết chuyện này, nó quýnh quáng lên ôm ngang eo ếch ông nội cứng ngắc mà rên hừ hừ. Còn bác Ba, đã là một tay thợ rừng lão luyện, bác đâu có yếu bóng vía như đứa cháu nội mới tròn mười ba tuổi của mình. Bác biết rằng người đi rừng khi gặp lửa cháy, muốn tránh khỏi chết thiêu, chỉ có ba cách tránh mà thôi. Một là đào trấp choại thành một cái lỗ thật sâu rồi chui nằm tận đáy, chỗ nước còn ngấm âm ỉ. Hai là lựa chỗ trảng có thấp châm lửa đốt cháy qua một vùng cho sạch rồi chạy vào vùng ấy mà ngồi, ngọn lửa lớn ào ào tới đó nó sẽ không táp gần mình. Ba là chạy tìm một cây thật cao trong đám trèo lên mút ngọn, khi lửa cháy tới, ngọn lửa sẽ táp qua dưới thấp, người ở trên khỏi bị bỏng. Bây giờ thì cách thứ nhất không được. Có một cây mác làm sao đào lỗ cho kịp cả hai ông cháu ? Cách thứ hai cũng không kham. Nơi đây là một khu rừng rậm chẳng có lỏm trảng trống để đốt dọn bãi. Chỉ còn cách thứ ba: “Dĩ đào vi thượng”.
- Cứ chạy tới đâu hay đó, tìm một cây cao trèn lên !
Bác Ba Phi ra lịnh như vậy. Tức thì thằng Đậu bám bén gót bác. Hai ông cháu đổ rừng chạy tựa cặp nai vừa sổng bẫy.
- Ông nội ơi ! Chờ với... Hi... Hi...
- Ráng chạy theo nội Đậu ơi ! Hư, hư...
Bác Ba Phi vừa chạy vừa móc túi lấy cây kiếng soi ra đeo vào mắt cho đỡ bị khói.
Lửa cháy rừng phía sau cứ nà tới. Từng bựng lửa lớn bằng cái nhà tung cao rồi rơi xuống, bắt cháy thêm nhiều nơi khác. Tiếng nổ rào rào điếc tai. Khói tỏa dày đặc ngút trời ! Chạy ! Cố chạy thật nhanh kẻo hai ông cháu thành một cặp heo quay ! Bác Ba Phi chỉ nghĩ trong đầu có bấy nhiêu, và cứ hối thằng cháu nội chạy theo. Hai tay vẹt lùm rậm, bác Ba cứ chạy tới. Mỗi lần đâm đầu vào một thân cây, bác Ba dừng lại, ngó lên xem độ cao của nó, có thể trèo lên tránh lửa được không, không thì hai ông cháu lại hối hả nhau cắm đầu chạy. Cứ vậy mà bác Ba Phi chạy cho tới hàm râu cúp ngọn vô cần cổ. Thằng Đậu chạy theo ông nội, mệt thở bằng miệng và cả bằng lỗ tai, nhưng nó vẫn lo xa:
- Tội nghiệp cho ông nội, rủi có bị lửa cháy chết thế nào cái xác cũng trụi lủi hàm râu, bà nội biết đâu mà nhìn !
- Cái thằng ! Mệt thấy mồ tổ mà còn nói bá láp.
Bác Ba Phi nạt đùa, vì câu nói xui xẻo của thằng cháu. Đưa tay rờ cằm, bác thấy cũng sợ, vừa chạy vừa bứt lá nắp nước túm hàm râu lại. Một tay cắp mác, một tay bụm cằm. Ông cháu bác Ba cứ nhắm mắt, vắt giò lên cổ chạy về hướng mặt trời mọc. Càn qua những lùm choại ngập đầu, tuôn vào các đám cỏ mây chằng chịt, bác Ba Phi cầm mác thét đường cho thằng Đậu theo. Thằng Đậu thì cứ nhắm mắt, nghe tiếng chân ông nội chạy ào ào phía trước mà bườn theo.
- Ái ơi ! Hú hồn hú vía về ăn cơm cá !
Thằng Đậu nghe tiếng kêu thảng thốt của ông nội, chưa kịp dừng lại thì nó đâm bổ vào lưng ông nội một cái đụi. Mở mắt, nó thấy ông đang dang tay ôm một thân cây lớn hết cỡ đứng trước mặt. Thật là một thân cây khô chết đứng giữa rừng cao đến nhìn lên trật ót cũng chưa thấy ngọn.
- Trèo lên để tránh lửa mau, Đậu !
Bác Ba cầm cây mác leo lên trước, thằng Đậu theo sau. Cây chết lâu ngày, thân cây đóng rong trơn nhớt khó trèo làm sao ! Cây không hề có một nhánh, thân lớn bằng cái khạp da bò. Ông cháu thằng Đậu dang thẳng cánh tay câu lại còn hở ôm. Trèo lên, tuột xuống trầy trật mãi, cuối cùng ông cháu bác Ba Phi cũng lên tới ngọn cây. Cha sanh mẹ đẻ tới giờ bác Ba chưa từng thấy một cái cây nào lạ lùng thế này. Từ gốc tới ngọn cây cứ nân tựa đèn cầy và trơn như thoa mỡ bò vậy.
Lửa đã cháy tới, ông cháu bác Ba Phi trèo lên cao thêm để tránh bớt nóng. Bác Ba trèo lên chỗ cuối cùng của ngọn cây, gặp một cháng hai, bác rờ thử, định leo ngồi vào nạng cây. Nhưng sao chỗ ấy mọc đầy những kẽm gai lởm chởm. Thôi thì bác đành phải đeo phía dưới cháng hai thân cây mà chịu.
Rừng cháy. Có hàng đàn chim bồ nông, chàng bè táo tác bay đi tránh lửa. Chúng bay ngang qua thân cây chết đứng, chỗ hai ông cháu bác Ba đang đeo tòn ten, bèn sà xuống đậu nghỉ cánh. Nhưng lạ thay, con chim nào đậu vào chỗ cháng hai ngọn cây, tức thì biến mất ngay. Bác Ba Phi đinh ninh rằng thân cây có lỗ bộng cho nên lũ chim chui vào đó để trốn lửa tiện hơn. Nhưng bác lại nghĩ: “Các loài chim như các két, hồng hoàng, gõ kiến thì ở bộng cây, đằng nầy bồ nông, chàng bè là giống ở dưới nước, chúng có chịu chui vào bộng cây bao giờ ?”. Bác Ba sinh nghi, nhích lên mò thử vào chỗ cháng hai. Bác rờ khắp nơi không thấy thân cây có lỗ bộng nào. Chỗ cháng hai có nước đọng thành một cái trũng: thứ nước nhờn nhờn tựa dầu nhớt. Bác Ba vừa định chồm lên thêm coi thứ nước gì, bỗng thấy tự nhiên hai cành cây mở rộng ra rồi khép lại. Và rồi từ trong ngọn cây thò ra một thỏi thịt có ba chia màu tím nhạt huơ qua huơ lại, những luồng hơi thúi um từ trong thân cây xì ra thành tiếng phì phèo. Bác Ba giật nẩy người ! Bác đã hiểu rằng mình đang lâm vào cảnh tối nguy hiểm ! Trước tình thế này phải cố gắng bình tĩnh mới mong thoát chết được. Bác Ba tự động viên mình, và quay xuống gọi thằng Đậu:
- Hãy ôm chặt vào chân ông mà nghe thông báo điều này !
Thằng Đậu tuy chưa biết ất giáp gì nhưng cũng làm theo lời ông nội. Bác Ba Phi thầm thì qua hơi thở:
- Ông cháu mình đang ôm cổ một con rắn hổ mây khổng lồ.
Thằng Đậu vừa nghe, vụt siết mạnh vòng tay vào chân ông nội, kêu lớn:
- Mình phải tuột nhanh xuống để trốn chạy !
- Không ! Chạy đường trời cũng không thoát. Nó phát hiện được sẽ mổ ăn gọn ơ như cu lượm đậu.
- Không lẽ mình làm cặp bò chét đeo cổ rắn suốt đời sao ?
- Cũng không. Để ông tính !
Thằng Đậu cứ nhắm mắt phó thác cho ông nội. Bác Ba Phi đã nghĩ ra một cách làm cho con rắn tự giác ném hai ông cháu bác ra thật xa, không biết đâu mà ăn thịt. Nghĩ là làm. Bác Ba cầm cây mác dài cán dùng mũi chích nhè nhẹ vào vảy lớn nhất trên cổ con rắn. Con rắn nghe đau, lắc lắc đầu. Bác Ba liền nhắc khẽ thằng Đậu:
- Ôm chắc chân ông nghe !
Rồi bác Ba chích thêm một nhát thật mạnh vào cổ con rắn. Con rắn bất thần bị đau điếng nhảy dựng lên, rẩy mạnh cái đầu tựa trâu xua muỗi làm hai ông cháu bác Ba rời khỏi bệ phóng. Thế là hai ông cháu bác Ba cứ nhắm mắt lao vào không khí.



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC