Sông Hồng Ảnh của Tạ Chiến

Sông Hồng Ơi!








Quý bạn đang nghe Tiếng Sông Hồng
của Phạm Đình Chương với tiếng hát Thái Thanh




Hơn một thế kỷ qua, cây cầu Long Biên gắn với người Hà Nội trong tình yêu và nỗi đau. Đứng trên cầu, người Hà Nội thả hồn theo mây gió mà khóc, cười, tuyệt vọng hay ước mơ, đồng vọng, đợi chờ… Chiều chiều, lặng gió chiều chiều, một mình ai, một mình tôi trên cầu, nhìn dòng sông Mẹ quặn xuôi, thầm gọi « Sông Hồng ơi! »

Sông Hồng ơi! Về đâu? Về đâu? Huyền thoại
Không thời gian, không không gian
Làn nước hợp, chứa chan Lòng Mẹ
Nước tan, tràn bão lũ lụi tàn
Sông Hồng ơi! Giọt lệ ngàn thu
Rơi theo dòng nước nổi sóng cồn
Sông yêu ai mà dồn nặng phù sa
Nước yêu ai mà chở nắng về đồng
Gió yêu ai mà trời xanh vời vợi
Soi bóng dòng sông lấp lánh ức vạn hồn
Tôi yêu ai mà chồn chân đứng đợi
Đợi một đời yêu vời vợi chơi vơi
Trở về đây hát với dòng sông
Trở về đây lặng ôm Mẹ Hồng Hà
Sông thương sông nhớ nặng hồn ta
Hồng Hà ơi! Anh ở đâu tinh cầu sóng động
Em ở đâu thác cuốn đầu ghềnh
Tự hát câu tình ca lênh đênh
Lá thuyền nan bập bềnh chân mây
Sông Hồng ơi! Thương nhớ dâng đầy.

Đấy là tôi. Thương nhớ một đời. Một đời thương nhớ mình. Thương nhớ Con Người. Thương nhớ những Cuộc chia ly màu đỏ một đi không trở lại. Chiều chiều, những chiều chiều, hỏi tôi thương nhớ ai mà bồn chồn xa xót, thầm gọi Sông Hồng ơi! Nhờ gió cuốn đi thao thức lòng mình.

Còn bạn tôi, nhà thơ Trương Thị Kim Dung thì thấu thị nước sông Hồng- hiện về cuộc sống của những kiếp người Việt mấy ngàn năm trong tập thơ Miền Sông Mẹ.

Miền Sông Mẹ với hơn bốn mươi bài thơ và hai bản trường ca, nhịp điệu hoành tráng, cuộn trôi, xoắn đượm, biến thiên, ám ảnh người đọc. Nhà thơ nhìn bước đi của lịch sự dân tộc bằng sự sống của mỗi người đã chìm tầng này lớp nọ, lặn sâu lòng nước sông Hồng nổi trôi từ thuở hồng hoang:

Mỗi người Việt là một biên niên sử
Chép sự sống còn vào dòng chảy uyên nguyên

Soi bóng, khỏa thân, thấu thị vào lòng nước, nhà thơ thấy bao kiếp người nhòa nhạt, hay là kiếp trước của mình:

Có bao cái bóng của tôi nước đón nhận vào lòng
Nguyên lành/ tan vỡ/ ngắn dài đủ cỡ
Cái bóng nào đích thực của tôi.

Ảnh của Đỗ Thanh Loan

Những bóng ma ai oán, ngợp ngụa kể chuyện thân phận mình chìm nổi, phiêu diêu trong lòng nước, hay dòng đời: “Sống thế nào chết khó thế ấy/ Tôi cố quẫy đạp đến khi không còn quẫy đạp được nữa mới thôi”.

Những sinh vật sống cùng nước cũng là hóa thân của những kiếp người: “Có số phận cuộc đời ngay cả rong rêu/ Hãy biết yêu những gì mình có/ Mang hình hài mỏng manh bé nhỏ cùng phù sa nước đỏ lang thang/ Giữ niềm xanh cho đến lúc lụi tàn”.

Từng giọt phù sa hòa nước là khối tình thiên nhiên, tình Mẹ tích hợp: “Từ đá trầm lưu dưới đáy/ Tự phá mình ra/ hóa ngàn hạt phù sa/ Tình với rừng già và biển cả/ Như người mẹ với con so con dạ/ Đều yêu thương do đau đớn sinh ra.”.

Đâu đây bên sóng nước, hồn Tiên Dung tạ tình Chử Đồng Tử: “ Cảm tạ bao la se duyên kỳ lạ/ Ta gặp ta khi ngăn cách không còn ”.

Miền Sông Mẹ có âm vang của yêu thương thì cũng có nhịp đổ xối xả của cái ác. Loài ma vương quái quyệt như Thuồng Luồng, chết chìm chưa tỉnh ngộ: “ Khi đọa vào địa ngục/ mới hay nghiệp chướng sâu dày do mình tự gây.”.

An Dương Vương chờn vờn trên sóng nước đỏ phù sa như máu mà xưng tội: “Cầu chuộc lỗi bi thương bằng cái chết/ Chết ngàn lần chưa chuộc hết một lần sai”.

Im lặng nghe âm vang đáy nước, người mò ngọc trai thoát thai từ bóng tối, như được Thủy Thần hé mở tấm màn che “Rẽ tầng tầng sâu thẳm” nhìn sự thật lịch sử diễn ra trên Miền Sông Mẹ .

Dòng sông Hồng chảy trôi từ rừng về biển chở theo tiếng vọng của sự sống con người Việt. Tiếng vọng ngàn xưa ấy, ngưng lại nơi Thăng Long- Hà Nội, gầm lên, trước khi hòa vào biển lớn.

Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn vang dội “vọng tiếng nói đất trời” cho “trăm họ hạnh phúc quá lớn lao” “Một dòng sông ngưng kết sắc hoa đào”. Tiếng Nguyễn Trãi truyền không năm tháng: “Chở thuyền lật thuyền mới biết sức dân như nước”. Tiếng Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Xã tắc bao phen bon ngựa đá/Non sông ngàn thủa vững âu vàng”… Tiếng súng quân đội Pháp nã vào Cửa Bắc, tiếng máy bay Mỹ gào rung Hà Nội những đêm đông…

Miền Sông Mẹ ôm tất cả mọi tiếng thét gầm xuyên năm tháng trong lòng, mà bao dung “cầu kinh giải thoát”. Hồn Việt khắc khoải gọi âm vang: “Sông Hồng ơi! Mẹ muôn đời nước Việt”.

Miền Sông Mẹ nuôi dưỡng sự sống của giống nòi Việt Nam bằng khối tình của nước, cùng với lao động, sáng tạo, hy sinh của bao thế hệ, còn ghi tiếng vọng đến mai sau: “Những con đê khởi công từ thời Lý huy hoàng/ Cuộc giao chiến âm vang vũ trụ/ con người chống giặc dữ thiên tai…/ Hạt thóc in dấu người con gái con trai Lạc Việt/ Lần đầu tiên cấy lúa nước dọc sông Hồng…/ Hồng Hà/ đằm thắm/ sáng ngời/ Miên mặt chở những hành trình kiến tạo/ cho ngàn năm sinh nở những Rồng Tiên”.

Tiếng vọng của dòng sông còn in dấu thuần phong, mỹ tục và nghệ thuật diệu kỳ: “Vũ khúc Trống Đồng lễ hội vui chơi/ Vun vút cánh thuyền đuôi én đua bơi/ Mùa Thu cầu trời cho mưa hòa gió thuận/ Cho gạo Dự Tám thơm đầy những nong sàng”…

Tiếng vọng Miền Sông Mẹ hay là tiếng vọng của sự sống bất diệt không bao giờ tắt. Nó mạnh như sức nước- lòng dân và thăng hoa theo vòng tròn Chân- Thiện- Mỹ.

Đoạn kết trường ca Miền Sông Mẹ là âm hưởng nhẹ nhàng bay bổng của niềm tin vào cái Đẹp. Đỉnh cao hồn dân tộc được gửi vào hình tượng Thánh Gióng “cùng ngựa sắt bay vào trời biếc”. Đánh giặc cứu nhà. Không màng danh lợi. Không ngồi ngôi cao: “Người anh hùng khác thường là thế/ Hiểu sâu sa lẽ dâu bể ở đời/ Con Rồng bay cao con Rồng hối hận/ Không gì hơn hòa nhập vào vạn vật sinh linh.” Không cần dựng tượng đài, Thánh Gióng sống trong lòng dân lộng lẫy ngàn đời. Hình tượng Thánh Gióng hóa thành bài ca dân gian, người hát rong thời nào cũng hát: “Hoài thai dấu lạ dòng sông/…Vươn vai lớn bổng hơn người/…Sự sống thăng hoa thành bất tử”. Giá trị tâm hồn, cốt cách Việt là thế, không ồn ã, nhiều lời, lắm lẽ. Nó nâng hồn Việt thăng hoa. Và nhà thơ cũng thăng hoa: “Tôi như kẻ tham Thiền nhập định/ Nguyện ngắm dòng sông bất cứ lúc nào/ Có thể một điều gì sẽ đến/ Tôi tin những phép màu vẫn xuất hiện quanh ta”.

Tư duy thơ theo Thiền học là nét nổi bật của Trương Thị Kim Dung. Nếu trong tập thơ Áo Lá Sen, Trương Thị Kim Dung im lặng “xoay lại tìm mình”, thì Miền Sông Mẹ, chị im lặng “xoay lại tìm cội nguồn của mình, tìm lịch sử dân tộc, tìm hồn cốt, tâm linh Việt”.

Trong lặng im, chị đã thấu thị đáy nước, nguồn sông, hiểu giống nòi và hiểu chính mình: “Trong lặng im dường có nỗi buồn/ Trong lặng im dường như không có…/ Áp mặt mình vào dòng sông tươi mát/ Không thể nào sống khác chính ta”. Thiền là vậy. Biết mình là ai. Không đánh mất mình. Biết dân tộc mình là ai. Không đánh mất bản sắc dân tộc.

Miền Sông Mẹ gợi cách nhìn lịch sử qua mỗi con người. Trong khung cảnh địa lý, khí hậu, thiên nhiên nơi con người đã sinh sống, sản xuất, buôn bán, ứng xử, suy nghĩ… sáng tạo nên văn hóa của riêng cộng đồng mình. Lớp người này ra đi, lớp khác tiếp bước, nảy nở sức sống mới, trên cái nền gốc đó. Đấy là lịch sử. Đáng tiếc bấy lâu nay, chúng ta không dạy lịch sử trong cách nhìn lại sự sống đã qua của từng con người, mà luôn nhấn mạnh những sự kiện trận đánh, những cuộc chiến tranh. Môn học lịch sử thiên lệch về sự kiện, vắng bóng con người, không được học sinh, sinh viên tiếp nhận.

Những sự kiện lịch sử, những trận đánh oai hùng là do con người làm nên. Tìm con người để thấy lịch sử dân tộc “Mỗi người Việt là một biên niên sử” là phương pháp dạy lịch sử khoa học, hấp dẫn.

Lịch sử là Ông Bà Tổ tiên/ Đã sống đã yêu và đã chết/ Để lại chiến công và lầm lỗi/ Với biết bao tri thức làm Người/ Chính Con Người làm nên lịch sử/ Những chuyện tình: Ngọc Hân- Nguyễn Huệ/ Nguyễn Thị Lộ & Nguyễn Trãi Sao Khuê/ Lễ cưới Huyền Trân lấy vua Chàm/ Lý Chiêu Hoàng nhường chồng cho chị/ Dương Vân Nga trao áo Lê Hoàn/ Trần Hưng Đạo cướp lại cô dâu/ Người ông yêu, sắp vào tiệc cưới/ Trần Nhân Tông bỏ ngai đi tu/ Cung tần không được theo, tự tử/ Đặng Thuỳ Trâm nhật ký mơ yêu…/ Lịch sử là Con Người như vậy/ Những Người sống và yêu mãnh liệt/ Làm nên những trận đánh thần kỳ/ Xây Thăng Long ngàn năm văn hiến.

Dạy học trò đi tìm Con Người/ Và Lịch sử hiện ra Ánh Sáng/ Hấp dẫn mọi người, mọi cấp học/ Kỳ thi không khó vì lý sự/ Với con số vô cảm vô hồn.

Lịch sử không bao gìơ khô khan.

Lịch Sử Hoa Máu trào Nhạc Thơ.

Sau chiến tranh. Từ Tây Thái Bình Dương, những chàng trai Mỹ đã đến với sông Hồng. Chàng đứng trên cầu Long Biên, nhìn đám lau sậy nở hoa bốn mùa. Một cái nhìn khác lạ. Nhìn sâu và cuộc sống bụi bờ chói chang mưa nắng của hôm nay.

Mấy ai đã nhìn xuống chân mình, nhìn cái nền cầu đang gầm gào chuyển động, hay bước xuống chân cầu, chui qua gầm cầu, sang bãi nổi mùa nước cạn, nhìn sâu vào nhịp sống đang diễn ra vô cùng sôi động ở đó. Những ai đã đôi lần dạo chơi dưới bãi nổi sông Hồng, cũng không đủ đắm say mà nhìn ngó, phát hiện ra nơi đây có một cuộc sống hài hòa, không ngưng nghỉ của con người cùng thiên nhiên, vạn vật.

Từ nước Mỹ tới Hà Nội, nhiếp ảnh gia, nhà sử học Douglas Jardine, nhìn cây cầu Long Biên với tình yêu cuộc sống trải dài xuyên năm tháng. Anh có một công trình nghiên cứu Lịch sử cầu Long Biên.

Không thỏa mãn với “cầu Long Biên” trong tư duy khoa học, Douglas Jardine đã thực sự sống cùng cầu Long Biên uốn lượn như Rồng bay qua sông Hồng, trong từng bước chân, nhịp thở của mình, hòa với nhịp sống xung quanh cây cầu mà anh rất mê đắm này.

Anh bị cuốn theo nhịp sống “độc nhất vô nhị” ấy. Nó nuôi dưỡng tình yêu Hà Nội, yêu đất nước con người Việt Nam trong anh. Douglas Jardine đã dùng nghệ thuật nhiếp ảnh là phim đen trắng, máy cơ và tráng rửa phim, như một chất liệu nghệ thuật gắn với thực tiễn, để thể hiện tình yêu của mình với cây cầu Long Biên và người Hà Nội.

Triển lãm ảnh của Douglas Jardine tại Ngôi nhà nghệ thuật (Maison de Art) mang tên “Bốn mùa Long Biên” đã hiện ra cái nhìn của người nghệ sĩ, nhà nghiên cứu lịch sử ngoại quốc về Cầu Long Biên- Tình yêu cuộc sống. Anh nghiên cứu lịch sử cây cầu qua những con người lầm lụi hôm nay, đang bươn chải với sự sống mong manh từng ngày, để hiểu Lịch sử cầu Long Biên.

Hơn hai năm, với chiếc máy ảnh cơ giản dị trong tay, miệt mài sớm tối, bước chân không mỏi, len lỏi trên cầu, gầm cầu, bãi nổi, bờ sông, Douglas Jardine đã ghi lại được những khoảnh khắc về cầu Long Biên bốn mùa Hà Nội. Hơn một nghìn bức ảnh đen trắng của anh được chụp dưới nhiều góc độ: trên xuống, dưới lên, ngang, xuyên, góc, thẳng, chéo, khi chụp toàn cảnh, khi đặc tả chi tiết, trong từng khoảnh khắc: bóng chiều, đêm lạnh, trăng lên, bình minh nắng tỏa… mang đến cho người xem cảm giác như đang cùng bước đi từng bước xung quanh cầu Long Biên, với Douglas Jardine.

Cầu Long Biên trong ảnh hiện ra như hình dáng hiện tại của nó. Nhịp cầu uốn lượn, (có nhịp bị mất vì Mỹ ném bom hủy diệt) vắt qua dòng sông trắng, miên man chảy về biển. Dòng sông bên lở bên bồi, trong là phố, nhà cao tầng lố nhố, ngoài là bãi, phù sa, ngô, khoai, lau, sậy, cỏ hoa dại ngập tràn… Douglas Jardine không chỉ chụp ảnh bề ngoài cầu Long Biên. Anh tìm tòi, khám phá những bí ẩn của nó.

Anh nói:

- Cây cầu đã thu hút tôi ở khía cạnh thẩm mỹ, theo nhiều cách, đó là một tác phẩm nghệ thuật được tạo nên bởi rất nhiều bàn tay, khối óc, tạo nên bởi thời gian và lịch sử mà nó khoác trên mình. Tôi cũng bị không gian sống trên cầu lôi cuốn. Đó là điểm gặp gỡ của sự thay đổi về hoàn cảnh xã hội, từ thời kỳ thuộc địa đến độc lập tự do, và hiện tại là nơi nương tựa, ẩn náu của những mảnh đời bất hạnh, những người vô gia cư và nghèo khổ “bị cuộc sống kinh tế bỏ lại phía sau”. Cuối cùng tôi quan tâm đến cầu Long Biên bởi tính ẩn dụ mà tất cả các cây cầu đều hàm chứa trong nó, một gạch nối giữa một thứ gì đó và một thứ khác. Giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Giữa sự nghèo khổ và thịnh vượng, giữa niềm vui chiến thắng và nỗi đau- bi kịch.

Bởi vậy“Bốn mùa Long Biên” của Douglas Jardine hiện ra những mảnh đời. Họ là ai?

Họ là những phụ nữ bỏ nông thôn lên bám vào mặt nước, bến bãi, bụi lau, gầm cầu mà sống. Bóng hình họ hiện qua những nón trắng nhấp nhô, chiếc xe đạp bỏ không, dưới gầm cầu, bãi nổi, ghi- đông xe đạp treo một chiếc nón. Không người. Sự sống của họ lẫn vào cỏ rác, bãi sậy, bờ hoang, màu hoa dại… May mà, bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, bầu trời chuyển sấm sét, gió mưa, mà mặt sông, bãi nổi, gầm cầu vẫn chở che cho họ. Chính họ đã làm cho sự sống sinh sôi ở những góc sâu khuất, tưởng không ai sống nổi, quanh cầu Long Biên. Họ đã sống mãnh liệt suốt“Bốn mùa Long Biên”

Những bức ảnh mô tả sự sống bất diệt đó, hết sức tự nhiên, chi tiết, sống động: những chú bò bị xỏ dây vào mũi, buộc vào trụ cầu, vẫn thảnh thơi nằm bên bó cỏ, vỏ bắp ngô; bụi hoa dại chiếc kim tiêm nằm sóng xoài gợi đến thân xác tả tơi của những con nghiện; bên đống cành cây khô mùa Đông vẫn có cây khoai nước nảy mầm; mùa Xuân, vườn nhà ai cây dại um tùm; con đò nhỏ dạt vào bờ chen chúc với cỏ lau… Không người. Hình ảnh chiếc nón trắng xuất hiện nhiều góc độ trong “Bốn mùa Long Biên” thành biểu tượng về thân phận người phụ nữ, chiếm lĩnh nơi này.

Sự sống ấy còn hiện ra trên mặt sông qua nhiều ảnh đặc tả: mặt nước phẳng lặng, những con thuyền đã thành nhà nổi, có cánh cửa, mái che; bóng trẻ em chèo thuyền nan; những ảnh dây phơi quần áo, cốc chén, bát đĩa, lọ mắm muối, dưa cà, xe đạp, chậu cảnh… trên nhà thuyền nan nổi nênh. Không người.

Đối lập với cảnh sống dưới gầm cầu, trên cầu cuộc sống ào ào lấn lướt. Những bức ảnh đời thường bi hài chen lấn: trai gái say đắm trên xe máy; đôi bạn trẻ hả hê chụp ảnh cưới bên nhịp cầu song sắt; váy áo vai trần cô dâu quét lê mặt cầu, cạnh nón lá hàng rong nhấp nhô, xe máy vù qua…

Hai bên đầu cầu nhịp sống càng gấp gáp, tương phản: ảnh những chiếc xe tải chất đầy hàng, nón lá xúm quanh; chợ Long Biên mờ tối; những bà cụ ngồi lom khom bán ổi, khế bên đầu cầu Gia Lâm…

Sự sống xung quanh cây cầu Long Biên trong ảnh Douglas Jardine tỏa sức sống bi tráng. Sức sống âm thầm vùng vẫy, vượt lên những cuộc chiến tranh đã diễn ra trên cây cầu này. Nó mang đến cho con người trên trái đất “Tình yêu cuộc sống”. Nó giúp nhân loại hiểu rõ sức sống Việt Nam. Con người bám chặt mảnh đất, dòng sông dưới chân mình, bám phù sa, cây cỏ, sinh vật, mà sống. Không ảo tưởng hão huyền.

Với “Bốn mùa Long Biên” Douglas Jardines đã góp phần mở rộng biên độ của nghệ thuật nhiếp ảnh hiện đại. Anh nói: “Tôi cố gắng thể hiện sự trải nghiệm nhiều hơn trong các tác phẩm của tôi bằng việc nhìn thấy nhiều hơn cảm xúc con người qua những tấm ảnh”.

“Bốn mùa Long Biên” gây cảm xúc mạnh về con người bình thường- cuộc sống ngày thường thăng hoa và hủy diệt. Người Hà Nội chớ coi thường hay bỏ qua cái bình thường, cái nhỏ nhẹ ngày qua. Chúng ta nhìn sự sống ở tận trời cao. Đó chỉ là mơ. Sự sống thật quanh ta, cỏ cây hoa trái tươi màu, cái đẹp, cái xấu, cái ác, vạn vật đang hiện hữu cùng ta trên mảnh đất này từng khoảnh khắc ra sao? Mấy ai đã nhận biết? Vô cảm. Và vô cảm.

“Bốn mùa Long Biên” dạt dào cảm xúc tình yêu cuộc sống của Douglas Jardine, khi anh nhìn thấy cái đẹp, cái thiện qua những mảnh đời lăn lóc cùng cỏ dại, lau sậy, cát bồi. Và tình yêu thật sự đã đến với Douglas Jardine. Một cô gái Hà Nội đã yêu anh. Nàng bảo: “Tôi tìm thấy ở anh một cách sống cân bằng, hài hòa giữa trí tuệ và tâm hồn, biết hưởng thụ cuộc sống và dâng hiến tình yêu trong từng khoảnh khắc sống của mình”. Ngày cưới sắp tới, họ sẽ cùng nhau chụp ảnh trên cầu, bãi cỏ, bụi lau dưới gầm cầu Long Biên, nhưng họ không vô cảm trước cuộc sống bộn bề, khốn khó đang chộn rộn ở đó.

Họ không vô cảm. Họ biết yêu và biết tận hưởng, biết hiến dâng mình cho cuộc sống từng thời khắc.

Và chiều chiều… những chiều chiều, chúng tôi cùng nhau hát Sông Hồng ơi!

Sông Hồng ơi!
Sông với người muôn đời đồng vọng
Làn nước trôi, lớp lớp người đi
Những cây sậy biết tư duy
Thổi bùng sự sống
Luân hồi chuyển kiếp giữa mênh mông
Sông Hồng ơi! Về đâu? Về đâu. Huyền thoại
Sáng bừng lên hỡi giọt nắng ban mai!

________________________________________________________

* Những câu thơ trích dẫn trong bài, rút từ tập
Miền Sông Mẹ - Trương Thị Kim Dung- (NXB Thanh Niên- 2007)




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 21.07.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com