TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





TỪ NGUYÊN TĨNH

. Tên thật là Lê Văn Tĩnh .
. Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1947
. Tại Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
. Hiện sống tại Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa,
. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1994).
. Tổng Biên Tập Tạp Chí Xứ Thanh- Hội Văn Nghệ tỉnh Thanh Hoá .

. TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Hàm Rồng ngày ấy (ký sự viết chung, tập 1 in 1984, tập 2 in 1978);
. Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn, 1991);
. Gã nhà quê (tập truyện ngắn, 1992);
. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết, 1993);
. Không thành người lớn (tiểu thuyết, 1995).

. GIẢI THƯỞNG :

- Giải thưởng văn học: Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn)
- Giải thưởng Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang Hội Nhà văn;
- Giải thưởng văn học tỉnh Thanh Hóa - Mẹ (truyện ngắn),
- Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Sông Hương 1993;
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1993; Gã nhà quê (tập truyện)
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1994. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết)
















CON THUYỀN MỒ CÔI




PHẦN II


  từ chương 7- chương10

7

- Ông ơi! Thôi đừng uống nữa kẻo say đấy – Lộng gàn ông.

- Say làm sao được, cái năm ông đầy tuổi mà đã biết uống rượu rồi … Kể người thủa đó khoẻ ra là phải.

- Làm sao ông lại bênh người xưa?

- Ông đâu có bênh. Là cái chuyện uống rượu. Người ta uống rượu gạo. Còn bây giờ uống các thứ bia chua lòm.

- Bây giờ người ta giàu lắm ông ạ!

- Ông biết … Mà này, mày lấy cái đài ra mở xem nó nói cái gì?

- Ông muốn nghe ca nhạc hả?

- Ca cẩm gì … Nghe cái anh thời tiết … Sao mọi hôm ông thấy mày thích nghe hát hò lắm cơ mà?

- Sóng ù ù thế này nghe được gì.

-
À … Có thế thật … Cháu nghe cái vùng ta xem để mà liệu … ông cũng chỉ chuẩn vị rượu đủ dăm bữa thôi.Thằng Lộng khoát tay ra hiệu cho ông im lặng. Dán mãi vào tai chiếc đài to bằng hai hộp thuốc lá. Mắt nó tập trung, nhìn lạc đi, cặp môi dẫu ra: Á chà! Bất đồ một con sóng quái ác từ đâu xô tới, gặp một cơn gió lang thang còn sót lại từ đất liền đẩy ra, một lưỡi búa muốn bổ vào con thuyền bé nhỏ. Không hất được chìm, nhưng cu cậu đứng dựa nghiêng vào mạn thuyền, bị hất tung rơi xuống biển. Ông Cát đang dang tay kéo can rượu chưa kịp uống, vứt xuóng biển, ào một tiếng:

- Mày làm sao đấy hở thằng trời đánh.

Không nghe thấy tiếng thằng Lộng trả lời. Ông dơ nắm tay dứ vào con sóng:

- Có phải còn cái thằng cha mày, thì tao cho nhừ xương. Quân đánh giầy ba bửa – Không có nó ông mới mắng là quân đánh giầy mất dạy … Chứ có mặt Lộng mà nói thể có mà tranh luận nổ đom đóm mắt ra. Nó bao giờ cũng bênh bọn đánh giầy. Cái thằng đến là … Cởi chiếc quần cộc chỉ còn lại hình dạng, không biết nhận ra màu gì nữa. Ông Cát nhảy ùm xuống biển. Kể ra ông không tiếc cái đài nữa, nhưng không có nó điều gì cũng bấn. Cứ phải sang hỏi nhà có ti vi, có đài từng buổi một. Nhiều lúc ai cũng để qua chương trình mà không biết mưa hay nắng. Cứ nháo nhác cả lên. Hơn nữa ra ngoài biển này, biết hỏi ai? Mỗi nhà một gò nước. Nhìn không thấy mặt nhau. Bơi không tới. Cũng không trách được nó. Cái con sóng mánh qué kia. Nhưng nó cũng phải cầm chặt vào cái tay chứ!

Ông lặn xuống biển mà vẫn nghĩ bời bời. Ông lựa chiều chiềng mà vạch nước xuống biển. Không có mẹo ấy à, có mà nước nó đẩy lên liền. Lạ thế, bình thường muốn lặn xuống đáy biển sao mà khó vậy, nhưng đến khi gặp bão tố lại cứ dúi người ta xuống tận đẩu đâu. Chả trách cái thằng Lộng bảo, có người cuộn ngược nước từ đáy biển lên như ông cuộn miếng sam với ớt mà uống rượu, ông không nhận ra mình hay nghỉ ngơi từ bao giờ. Có lẽ cái lần bà ấy mất? Vì bạo bệnh của chiến tranh. Cái bà ân nhân đã cứu mạng ông ấy. Không biết thằng Nguồn con riêng của bà ấy làm ăn có khấm khá không. Ông có dư dã gì chữ nghĩa mà viết. Mà cũng tại nó tệ thế, lo làm ăn mà quên mình rồi. Cái lần bị địch bắt ở Cửa Việt ấy, không có mẹ con bà ấy thì làm sao ông sinh ra cái thằng Khơi cha thằng Lộng bướng bỉnh kia? Kể ra tôi cũng làm thoả lòng bà rồi, bà ơi. Tôi đưa bà về Cửa Việt, nơi quê bà, mồ yên mả đẹp cho bà. Cái thằng Nguồn cũng làm nên rồi …Tôi lại phải về cái đất này thôi… Tôi phải gắn bó nơi đây, còn bát hương tổ tiên ông bà … Còn thằng Lộng, cháu của bà nữa. Bà biết không, lúc nào nó cũng đứng về phía bà mà lên án cái tội uống rượu của tôi đấy. Bà bảo uống nhiều nó cháy bao tử, thì nó bảo uống nhiều nó hỏng cái gì nhỉ … Cái miệng đi. Nó bảo nó ghê người sâu rượu … Y như là choảng nhau. Cái thằng đến tệ y hệt tính bà.

Ông Cát bò xuống đáy biển. Mở cặp mắt ra nhìn xem. Nhưng thật ra ông có nhìn thấy gì ngoài bàn tay cào bới. Và có thể bất kỳ lúc nào cảm giác bị nuốt chửng bởi sự không hiểu hết của đại dương man dại. Một lần lặn xuống, rồi lao lên, lao lên cho kịp hít thở nhìn khoảng trời … cảm giác ấy cũng tan ra khi ta kịp hoàn hồn. Rồi lại tiếp tục như sự cám dỗ một cách kỳ dị. Anh cứ thể xa đại dương xem sao … Cái cảm giác châng lâng, nhớ nhung không sao tả xiết được…

Ông trồi lên mặt nước, đã thấy thằng Lộng nằm chình ình ra thở. Ông quát: Ai bảo không cẩn thận? Nó lại nằm im như thế kia mới tức chứ. Thà nó cứ cãi, sai cũng được …. Đằng này nó lì mặt ra thế kia … Cái mặt, chỉ chút nữa ông liên tưởng đến bà.

- Thì ai bảo ông xuống đáy biển làm gì, để mà gắt.

- Ai bảo mày hậu đậu cái tay?

- Không may nó rơi, chứ cháu đâu muốn …

- Thế còn máy lửa và diêm đâu rồi!

- Cũng rơi luôn mất rồi ông ơi!

- Có thật không hả? - Ông Cát cuống cuồng, trườn nhanh về phía cháu. Mất đài thì còn có thể được chứ mất lửa thì đành mau chóng mà quay vào bờ thôi.

- Cháu đùa ông tí thôi. Cháu để ở kẽ ván ấy!

- Cha mày, làm ông hết hồn. Thế cháu định thế nào. Bỏ cuộc hả?

- Bây giờ biết nó chiềng ở đâu mà tìm.

-
thế cũng được … Trời này thì còn nắng loá mắt. Kiếm thêm một ít nữa, ông cháu mình nhổ neo.

- Cháu cho ông xem cái này!

- Lại cái gì nữa đấy?

- Ông cứ lại mà xem – Lộng làm động tác của trẻ con, từ phía sau giỡ tay ra trước mặt ông để ông xem.

- Thế à! Cháu làm sao mà tóm được nó hở?

- Cháu lao xuống trước nó … Nó nhẹ nên quẩn ở trên. May quá cháu tóm lại được ….

- Tốt rồi. Mày đẻ ra ở biển không trách được. Mở xem đi nào. Xem bọn thời tiết nói gì.

- Ướt hết cả đài và pin rồi … Nói gì nữa.

- Nắng lên phơi đài và pin khô xem sao … Cháu ngủ đi một lúc … ông bơi thì cái đã … Ông Cát nhúc nhắc sợi dây kéo can rượu từ dạ dày của biển lên … Tiếng hát không lời từ đại dương dâng lên một cách kỳ dị …Lộng nằm, he hé cặp mắt ra nhìn ông liu thiu … Nó muốn ôm lấy cổ ông mà nô đùa như ngày nào … Nhưng chợt nhận ra mình đã là tay đi biển rồi. Tự dưng thổi sáo miệng một cách tự tin như thể một thằng choai choai chính hiệu của đường phố.

 

8

 

Tuyết dẫn Lộng đi dọc hè phố. Phố của miền Trung nắng gắt, và gió Lào. Phố không rộng và dài. Nhà cửa san sát hích vào nhau, ở mỗi gian nhà toè ra cấi lưỡi. Người ta kê sập, quầy và kẻ cái biển, không che dấu được sự thiếu cẩn trọng. Anh này tương anh kia thìa lìa ra chèn ép mình, nên cố mà nhô ra. Thịt cầy bày món, Cháo lòng tiết cánh cổ truyền, Thịt dê đặc sản, Cơm bình dân, Bún ngan Đông Dương, Bún bò Nam Bộ, Bún Bò Huế…

Lộng khẽ hỏi Tuyết:

- Nhiều quán thế, làm sao mà ăn hết được?

- Mình cũng không biết được! – Tuyết trả lời thành thực. Lên thành phố rồi, không mày tao chi tớ nữa. Chúng ta gọi nhau là: cậu mình cho ra vẻ đã nhập vào thế giới văn minh.

- Lại còn cái gì kia? – Lộng chỉ vào một biển đề "Ka ra ô Kê - Mát sa".

- Tớ cũng không biết, chắc là món ăn mới … Thôi được, ở lâu, rồi sẽ biết mà! – Tuyết trấn tĩnh lại cho bạn. Có phải ngoài biển xem, nó lặn hụp ai mà theo được, nó chống tay vào nách bắt chước người lớn nom oách ra phết. Nhưng lên phố, ngố ơi là ngố.

- Không quên số nhà đấy chứ?

- Yên chí, cố ấy là người làng nhà mình mà!

- Ai

- Tí nữa thì biết – Tuyết nhìn phớt lên mặt Lộng, cái thằng đến hay hỏi – Lên đây giữ cái mồm cái miệng, kẻo …

- Mình biết rồi … Ra cái điều. Là Lộng chỉ nghĩ thế thôi chứ không dám nói. Bây giờ làm nó giận thì nguy. Nó mà không giúp nữa thì biết làm sao. Quay về thì ê mặt với ông nội, hơn nữa tiền ông vay nộp học phí đã mua mất một số thứ lặt vặt mất rồi. Một cái túi đựng quần áo, đôi dép (thật chả ra sao, ở nhà cần quái gì dép, nhưng lên thành phố chả lẽ đi chân đất, tiếc thật) cũng phải mua cái quần đùi. Cũng tiếc lắm nhìn thấy cả trời, thế mà con mẹ bán quần còn ra vẻ, vải ngoại, thấy cháu hiền lành cô vừa bán vừa cho … Khỏi phải nói , ở biển thì cần gì … Nghĩ đến đó Lộng bật cười.

- Mày cười gì đấy, hở thằng đẻ rơi ngoài biển?

-
À mình cười, vào trong tủ bầy hàng kia mà soi xem, lại không trắng hơn hòn than!

Chúng vẫn lời qua tiếng lạ thế đấy, nhưng tình cảm bạn bè lại thân thiết hơn anh em ruột thịt. Nghe nói cô Tầm là mẹ của Tuyết là người xinh nhất phố huyện. Phải lòng bố Bỉnh của Tuyết vì tính khảng khái. Một bận lên mua hàng hoá cho đoàn thanh niên, không hiểu vì sao cô Tầm đưa lầm đến hai triệu bạc. Chú Bỉnh đã trả lại cho cô Tầm. Hai triệu bạc lúc ấy giá trị lắm, có thể mua được tới ba con trâu cày, hoặc như dân làng chài mua đứt được con thuyền đánh cá. Một lần khác, gặp hai đứa mua hàng phá bỉnh, định cướp hàng của cô Tầm, đã nhảy vào và ngăn lại. Bị chúng đánh cho sây sầm mặt mày mà không hề sợ. Cô Tầm đem lòng yêu chú Bỉnh. Lấy anh thì em lấy, nhưng mà ở làng Cát thì em ngại lắm. Hôi hám. Ra vào ngửi đâu cũng sực mùi cá mú. Lúc nào cũng sặc mùi cá mắm. Thôi em cứ phải bán hàng, còn anh lại đi biển. Cô đi, đi một mạch không về. Con người kể cũng lạ lúc yêu thì yêu cho bằng được. Lúc đã bỏ thì bằng mọi cách đứt ra không hề lưu luyến. Chú Bỉnh bảo với con. – Chả hiểu con giống tính mẹ hay bố. Nhưng bố mẹ sinh ra con đều là những người dũng cảm. Gặp việc ngang trái không bỏ qua. Người ta chỉ nhìn thấy cái xấu của mẹ, bố thì thấy mẹ tốt, mẹ đẹp. Nhà đó, con ở nhà coi nhà cho bố, bố đi tìm mẹ về cho con. Còn hàng xóm, ông Khơi và thằng Lộng, con nhất quyết đừng bỏ học. Tuyết vẫn nhận được tiền của bố gửi về hơn một năm nay. Mấy tháng nay không hề nhận được đồng nào. Còn mẹ Tầm thì gửi qua bưu điện cho Tuyết triệu bạc bảo - để con đóng học phí. Mẹ mà gây dựng được cơ sở sẽ đón con vào. Thương bố thật đấy, nhưng sống khổ và buồn mẹ không chịu được. Kể ra Tuyết cũng là đứa thu vén. Chăn nuôi lợn gà, đi mót cá, đi cào cáy, đi bán hương, vàng cho khách lên chùa … Nhưng không hiểu sao lòng thấy buồn tủi vì mình bị bỏ rơi. Hoàn cảnh nhà Lộng đã làm Tuyết thấy gần gũi và thân thiết. Cô Hằng bạn của mẹ cứ đến mùa hè xuống tắm biển là ghé qua nhà Tuyết. Năm rồi cả hai vợ chồng và đứa con trai kém Tuyết một tuổi nhưng lớn ngộc cũng ghé qua. Cô Hằng nhìn Tuyết không khỏi ngạc nhiên: - Tuyết sao cháu trông lạ thế?

- Lạ gì hả cô?

- Một năm, mà đâu có … Mới non nửa năm nom cháu đã ra dáng lắm! Này anh, nhìn xem mái tóc của con Tuyết này.

-
nhỉ, chả khác người Bắc Âu bắc ang la mấy.Mái tóc cháy nắng của Tuyết vàng ruộm. Thật may mà không hề bị quăn mà mượt như nhung. Đã thế có bộ da đỏ au. Với khoé miệng tươi như vẽ.

-Này Tuyết! – Cô Hằng nhìn Tuyết chăm chăm.

- Dạ … !

- Hay cháu lên phụ dọn dẹp lo cơm nước với cô?

- Cháu còn phải coi nhà, với lại phải đi học … Bố mẹ cháu dặn …

- Học cái chết toi … Bố mẹ cháu ý?

- Bây giờ học cho ra học, còn xét thấy học không tới lo làm ăn chứ cháu! – Lão chồng mặt mày phừng phừng bia rượu ra điều thông cảm – Ngay như thằng nhóc nhà chú thuê thầy mướn thợ mà học có ra sao?

- Thôi đi! Ông còn bận ở các đám bài bạc, cá độ! Nói đoạn Hằng nhìn Tuyết dịu dàng của người mẹ, nói rất khẽ như tâm sự: - Thật ra, bố Bỉnh không biết chứ mẹ Tầm của cháu còn nợ cô tiền đấy. Năm đầu gửi tiền là nhờ cô đấy, chứ nó ở đâu mà biết được. Một lần khác cô qua nhà Tuyết, như vô tình đưa cho em thấy mấy cái phiếu tiền gửi đề tên Tuyết và người gửi là Tầm. Năm nay, cô bấn quá nên không thể thay mẹ Tầm gửi cho cháu được. Thật tội nghiệp … Tuyết không biết đó là tiền xe, mẹ bán cho cô Hằng. Hằng thiếu tiền hứa sẽ gửi cho Tuyết thay mẹ.

- Liệu cái nhà mà bọn mình ở nhờ, có ra chi? – Lộng hỏi bạn.

- Là bạn của bố mẹ mình… Nhưng còn xem xem cái đã! – Tuyết không muốn kể về cô Hằng, sợ Lộng nản chí. Mê man bọn nhóc ở các làng lên thành phố. Đánh giầy, cửu vạn lại còn ăn xin nữa. Bọn nó sống được. Tụi mình cũng sống được lo chi.

Đi chừng trăm mét, nơi có tấm biển có đèn xanh đỏ nhấp nháy với cái tên đầy hống hách "Cơm phở – Thời Đại" Tuyết cầm tay Lộng bảo bạn: - Đến rồi, Lộng cứ để mặc tớ lo liệu.

 

9

 

Ông được hai mẹ con người đàn bà cưu mang, dấu vào một xóm chài. Thật ra ở đó không có một túp lều nào cho ra hồn. Người mẹ nói cùng con trai trạc tuổi cu Lộng bây giờ – Con xem còn gì trong nồi, lấy ra mời bác đi. Cát ngượng ngùng nhìn người thiếu phụ. Chị còn rất trẻ nhưng đã có con. Nét mặt dịu dàng nói với anh, thấy tụi địch rêu rao từ mấy hôm nay, sẽ triển lãm bọn Việt Cộng vừa bắt được ở ngoài Bắc. Mấy bữa rồi, có mấy thằng mặt mày hốc hác đánh đập chắc không chịu nổi nên đã nói xấu đằng mình. Dân phía mình căm lắm … Qua câu chuyện Cát biết được, chồng của chị là du kích nắm vùng bị lộ đã lên xanh được 3 năm rồi. Chị được tổ chức cài cắm lại, buôn bán thập thàng và đi biển, lấy nơi đi chốn lâị cho đằng mình. Tiếp tế thuốc thang cho quân giải phóng ở trên xanh. Cát nói cùng chị về hoàn cảnh mình. Chị nói giấy tờ trong chiến đấu ai mà cầm theo được. Những hành động của anh vừa rồi, còn hơn cả mọi giấy tờ nhận xét, bây giờ tụi giặc đang lùng sục, nghỉ ngơi vài hôm, chờ cho yên ắng chị sẽ báo cáo tổ chức cử người đến đón… Lần ấy có ai ngờ ông Cát rời khỏi làng và trở thành anh giải phóng quân.
làng Cát quê ông người ta tưởng ông đã hy sinh trong trận chiến đấu vơí tàu biệt kích. Ông Cát ra đi cũng không hề viết thư từ về quê.Nhưng điều mà ông ân hận nhất là không kịp hỏi tên tuổi người mẹ và cậu con trai đã cứu giúp mình thoát nạn. Ông ra đi thành người chiến sĩ giải phóng quân thật bất ngờ gần mười năm không tin tức thư từ.Làng Cát ai cũng tin rằng ông đã hy sinh. Đùng một cái sau giải phóng,ông xuất hiện cùng vợ và hai con trai thật chững chạc. Cậu anh tên là Nguồn, cậu em tên là Khơi .Làng Cát ngạc nhiên và vui mừng không sao tả xiết.

Nhớ lại, đó là lần ông Cát cải trang làm người đi mua hàng xuống chợ Đông Hà trinh sát tìm hiểu địch. Thật bất ngờ ông đã bị một chàng trai cầm tay kéo lại hỏi:

- Chú Hai có nhớ cháu không?

-Cháu là…? Chỉ thiếu một chút nữa, Cát reo lên khi nhận ra cậu bé. Hôm nào còn là đứa trẻ nay đã thành là một thiếu niên khoẻ mạnh đẹp trai.

- Cháu?

- Cháu Nguồn … lần chú bị giặc bắt ở Cửa Việt đã ở nhờ nhà cháu!

- Trời ơi! cháu nhanh lớn quá! Cát thẹn quá vì tên tuổi mẹ con Nguồn ông đâu kịp hỏi. Thật không ngờ, ông lại gặp mẹ con người thiếu phụ ân nhân cứu mạng , giới thiệu ông đến với quân giải phóng, mà lời lẽ của chị còn hơn nhận xét và bảo lãnh:Tôi tin đó là người đang mình. Nguồn dắt ông vào một sập hàng nhỏ ở góc chợ:

- Mẹ … có nhận ra ai đây không?

- Chào ông ! Đôi mắt chị reo lên nhưng kịp nén lại.

Nguồn biết ý dẫn ông Cát về nhà, Nguồn kể cho ông nghe người cha của mình bị giặc bắt trong một trận đánh tàu giặc ở Cửa Việt. Tổchức không muốn mẹ con chị mạo hiểm hoạt động trên biển nên đã điều lên bờ. Hai mẹ con ngồi chợ buôn bán, nhưng cũng làm nhiệm vụ hậu cần cho đơn vị giải phóng ở trên xanh. Nguồn khoe, nay mai có điều kiện con sẽ vào quân giải phóng. Ông Cát thấy lòng mình khắc khoải … Một cái gì đó rất lớn lao nhưng lúc đó ông không nhận ra … Chính sau này giải phóng Quảng Trị, ông gặp mẹ con bà thằng Nguồn . Nguồn đã cao lớn bằng chú Cát ,nó ôm lấy chú Cát giọng nức nở: - Chú ơi! Ba cháu đã hy sinh ngoài mặt trận rồi. Chú ơi!.. Tình cảm của Cát thật khó diễn tả, nỗi nhớ làng Cát nơi có đội du kích của ông trong những ngày khói lửa. Ông đã lấp cát cho nấm mồ của mẹ mình trong một trận tàu chiến địch đánh vào khi cha mẹ còn trong giấc ngủ. Ông cùng đội cảm tử một sống một chết với tàu giặc. Mẹ con Nguồn, ân nhân đã cứu mạng Cát lúc cận kề cái chết.

Những ngày từ trên xanh về hoạt động ở vùng hậu phương địch. Cát và bà Miền đã đóng giả cặp vợ chồng đi câu cá để tìm hiểu tình hình bố trí của địch giúp đặc công đánh những đòn trí mạng, quyết định vào thắng lợi giải phóng Quảng Trị.

Trong những ngày bám trụ nơi mảnh đất thiêng liêng này. Chính Miền đã dẫn Cát đi đến từng gia đình để động viên, gửi cán bộ bị thương vào hầm bí mật. Bàn tay Miền bón cho Cát từng thìa cháo, viên thuốc quý giúp anh vượt qua sự đe doạ của cái chết.Giữ được mạng sống cho anh một lần nữa.Lần thứ hai mẹ con Miền đã cứu sống Cát. ông muốn nói điều gì thật cảm kích mà khônng sao khiến được cái miệng vụng dại của anh con trai vùng biển.

Nguồn đứa con trai của Miền đã động viên mẹ bán đi vật kỷ niệm của cha mẹ lúc đi lấy chồng, mua đạm truyền cho Cát trong lúc nguy khốn.Cát nghe Nguồn nói với mẹ mà không sao cầm đượcc nước mắt.

- Mẹ à! Chú Cát chiến đấu xa Nhà, biết nhờ cậy ai. Chú với nhà mình kể thân thiết như ruột già …

Đêm Quảng Trị giải phóng xiết bao sung sướng và tự hào. Người thân gặp nhau mừng vui tuôn trào nước mắt. Cát đi bên mẹ con Miền. Anh cầm tay Miền và Nguồn:

- Nguồn à! Chú có thể làm cha cháu được không?

- Ôi chú Cát … Cháu cứ lo …

- Cháu có hiểu được tấm lòng chú không?

- Dạ … Từ lâu cháu đã rất kính trọng chú như ba cháu rồi ! …

Miền không nói gì, lắng nghe Cát trò chuyện với con trai

Bằng giọng chân thành, Miền nói dành dọt để Cát và Nguồn cùng nghe:

- Anh Cát ạ, anh chưa một lần lấy vợ , lấy em anh có thiệt không?

- Miền, đừng nói thế … Miền xứng đáng được yêu, tôi là người lính phải mang ơn người ngã xuống … Tôi … Cát thật cảm động, anh có văn hoá cao đâu mà nói dài, noí lời hay. Anh yêu mẹ con Miền chân thành như tình yêu lần đầu thiêng liêng và nể trọng.

Khơi con trai của Cát và Miền ra đời. Tổ chức lo cho vợ chồng Miền đi thăm quê nội. Miền lần đầu tiên ra làng Cát quê chồng. Nguồn cùng em trai hai tuổi chạy lon ton trên bãi biển, thân thiện như bãi biển Cửa Việt quê mình. Làng Cát vui sướng đón người du kích dũng cảm,anh chàng Cát tưởng mất tích cùng người vợ trở về, đồng chí cán bộ người làng cát nói oang oang như sóng biển:

- Làng Cát ta rất tự hào, ra khơi không sợ đắm thuyền. Dẫu có phải làm con thuyền mồ côi lại sinh sôi nảy nở trở về … như đồng chí Cát và đồng chí Miền đây … không ai quên được quê cũ ... làng cát của mình.

- Lần ấy Nguồn ở lại miền Bắc đi học ở Trường Thiếu sinh quân, đào tạo sĩ quan quân đội. Ông Cát và bà Miền cùng cu Khơi trở về Quảng Trị. Khơi ở lại cùng mẹ hoạt động trong vùng sau lưng địch, ông Cát đi dọc Trường Sơn vào tận cùng của đất nước. Nhiều lần có tin báo ông Cát hy sinh. Bà Miền lại một mình nuôi con vò võ chờ chồng …

Ông Cát vã mồ hôi mở bừng mắt.Quát thằng Lộng :

- Thế mày còn ngủ đến bao giờ hở Lộng?

- Ông ơi ! Ông lạ lắm,, ngủ mà lúc thì cười,lúc lại khóc, làm cháu sợ quá!

-
À! Ông mơ gặp bà nội cháu! Nét mặt ông Cát trở nên tư lự.

 

10

 

Ông Cát ngồi ngật ngưởng bên cần câu nhìn cháu, không nén được giọng kể lể: - Cái dạo ông bằng tuổi cháu đã theo các cụ đi biển rồi, cụ nội về đêm chỉ cho ông các vì sao, lấy đó làm điểm chuẩn để nhận ra đường trên biển mà đi về. Biển cả vốn không có đường sá như trên đất liền. Nhưng có luồng, có lạch, có sao trên trời, có cá dưới biển, vùng biển ấm và vùng biển lạnh, người đi khơi và đi lộng không ai không biết những điều đó.Tay thì chèo, ngửa mặt nhìn trời.Đầu thì nghĩ ngợi. Có bao nhiêu người nằm dưới lòng biển không kể xiết. Nhưng không nhiều hơn người còn sống mà trở về. Thế mới biết biển hung dữ thật nhưng không bao giờ muốn huỷ diệt con người. Cho dù loài người mượn vẻ oai vệ của biển, mượn biển làm đường đi cướp nước khác. Cạy mình có lắm tàu bay, tàu bò đến ném bom người khác hòng ăn cướp đồ. Biển cho người ta cơ man nào là cá, tôm, sản vật; cho muối để bữa cơm thêm đậm đà. Những con sóng đem cát ở tận đẩu tận đâu đẩy dạt vào đất liền cho người ta đến sinh cơ lập nghiệp.

-Thế làng Cát này có từ bao giờ hả ông? – Thằng Lộng nằm không ngủ được mò đến chỗ ông nội hỏi chuyện. Nó không hỏi thì ông vẫn kể. Nhưng gợi ý ông kể bao giờ cũng thích thú hơn. Nó nhìn cặp môi mềm mềm giãn da do nhắm rượu, biết ông cũng cần nó để la hét kể chuyện đánh cá, kể chuyện các ngôi sao của người đi biển. Nó không có mấy câu chuyện kể thì ấp a ấp úng. Chưa kể thì ông đã biết. Nhưng ông thì khác. Ông như người kéo sợi dây câu từ đáy biển lên, càng kéo càng hứng thú như không bao giờ đứt, không bao giờ hết chuyện.

- Làng Cát hả? Cũng là dân nước mình cả.. Đâu từ núi cao … cao lắm. Tận đỉnh chót vót, có mây và gần trời cơ.

Một nhà nọ, có mấy anh em. Lớn vổng lớn vồng rồi mà không tay nào kiếm được vợ. Ông bố mới bảo lũ con lông nhông rằng: - Này các con trai. Ta không còn sức nào mà nuôi nổi các con được nữa rồi. Bây giờ không đủ nồi và gạo mà nấu nồi cơm to, hàng ngày chia đủ cho các con. Ta đem cồng chiêng ra đây gõ. Vui cùng các con no say. Sáng mai mặt trời mọc, các con bắt đầu chạy. Đứa nào chạy nhanh thì ở lại đất ấy mà sinh cơ lập nghiệp. Còn đứa nào chạy chậm thì phải đi xa hơn đến tận cùng của đất. Nếu không có đất, phải bơi ra biển mà ở. Đừng trách nhau là ai hơn ai thiệt nghe chưa…

Nghe ông bố nói, các chàng trai có ngực vồng như trái núi thích lắm. Biết rằng mình khoẻ mạnh, có sức khoẻ để chiếm được phần đất màu mỡ. Thương nhất là cậu con út, đứng mới cao hơn đầu gối của anh cả thôi, sao có thể chạy đua được. Nhưng ý của cha đã định rồi. Còn biết làm sao được.

Ngày thứ nhất, mấy người anh chạy chiếm ngay lấy mấy ngọn núi cao, có rừng rậm, có voi, hổ và châu báu. Thương cậu bé bì bạch chạy như sên, nên cho vài ống cơm. Mà nó nhỏ thế làm sao có thể mang được nhiều thứ … Ngày thứ hai, có người nhận đất đồng bằng là chỗ ở của mình. Anh thì nhận ngay vùng trung du, có bến sông, có gò đồi, có nương rẫy. Anh thì nhận ngay cánh đồng, cò bay thẳng cánh Nhiều người lắm, cứ chạy mà nhận đất của tổ tiên cho. Chỉ có cậu em út ít là bì bạch chạy ... chạy đến đâu cũng thấy có người. Lại tiếp tục chạy, gặp một ông già đi đường mới hỏi: - Cụ ơi! Đây đến miền đất của mặt trời còn xa không ạ? Không xa đâu … Con cứ chạy, nhìn mặt trời mọc về phía buổi sáng ấy. Nếu con mệt mỏi ngủ quên đi quấ trưa mới chạy, là quay về chỗ cũ đấy.

Cậu tuy bé nhỏ, nhưng kiên định. Đói hái lá mà ăn. Khát nước vốc nước ở đầm hồ mà uống. Có mệt dựa vào gốc cây quay mặt về phía mặt trời mà đánh dấu hướng đi. Có người muốn làm cho cậu nản chí nói: - Hết mất cả phần của cậu rồi, quay lại đi nào … Cậu cắm đầu cắm cổ mà đi … Thật lạ, từ một cậu bé, cậu ra đi ròng rã ngày này qua ngày khác. Đến đâu cũng có người nhận đất lập làng. Cậu chạy tới mép nước lội xuống, thấy bóng mình mọc đâỳ râu tóc, không tin mình đã trở thành người lớn. Cậu buồn lắm, nhìn bãi cát mà ngán ngẩm. Biết sống làm sao đây, ít cơm trong ống các anh cho đã ăn hết từ lâu. Một ít hạt giống gieo xuống cát nóng bị kiến đói ăn hết cả. Buỗn nẫu ruột, cậu ra biển để tắm. Thật không ngờ, cậu vớ được cá, tôm đang bò như thể có ai đem tặng. Thủa ấy, sao mà nhiều cá tôm thế không biết … Đang nướng cá ăn, cậu lại thấy một người cũng râu tóc sồm xoàm đến. Nhận ra anh kế của mình, cậu mời anh ăn cá nướng, tôm vùi, đoạn lễ phép nói với anh: - Anh ạ! Em biết anh vì ốm đau nên đến chậm … Đất này là của tổ tiên mình … Cha muốn thử chí anh em mình đấy thôi … Tuy đất có hẹp nhưng hàng năm thần biển vẫn đẩy vào cho rộng ra mãi … Lo gì thiếu đất cho anh em mình chung sống.

- Em có lòng tốt hơn người...Nhưng anh không thể sai lời hứa cùng cha … Anh nghỉ lại đây mấy hôm cho lại sức. Phải nhờ em một việc, chọn cho ít cây kết lại thành bè … Chắc anh không bơi được thấu biển, có bè rồi anh sẽ liệu. Thế là người anh kế của cậu út đã ra ngoài khơi xa, chinh phục biển cả. Người em út ở lại làng Cát này và bắt chước người anh của mình kết lấy cây kết lại thành mảng, thành bè đi đánh cá … Là ông tổ của làng này đấy con ạ. Con không thấy sao, người làng mình hàng năm ra khơi đi lộng, vẫn còn kết các mảng bè là nhớ lại chuyện ngày xưa của tổ tiên mình. Đem hoa quả rượu thịt tế lễ người thân đã mãi mãi làm lính của thuỷ tề đấy con ạ!… Cái mảng cứ dập dềnh theo con nước, cho dù sóng có hung dữ, lật nhào, lại nổi lên trên. Người phù hộ cho con đấy.

Làng Cát, có từ đó, Cụ kỵ xa xôi kể chuyện như vậy. Đến đời ông của ông kể lại cho ông nghe. Ông kể cho cha mày nghe … Con nhớ lấy điều này. Biển hung dữ, nhưng không bao giờ làm hại đến con người … Nếu không loài người chết đói hết cả rồi.

Lộng nằm gối đầu lên tấm vải buồm nhàu nát mắt mở nhìn những vì sao nhấp nháy, hỏi ông một câu giọng ngái ngủ:

- Bà nội của con đi biển có giỏi không ông?

- Giỏi chứ... một mình với đứa con nhỏ chưa tròn tuổi , bám biển, nắm tình hình tàu giặc ra vào Cửa Việt làm sao nổi…. Cầu trời phù hộ cho bà ấy được mồ yên mả đẹp. Xuống dưới đấy cùng với thằng Khơi. Cái thằng, nó như con cá kình rẽ nước .. Chắc ngài ở dưới đó thiếu người hầu hạ nên gọi nó về …. Nghe tiếng khóc thút thít của Lộng, ông Cát giọng tự dưng sôi hẳn lên.

- Lúc ông nhảy từ tàu giặc xuống biển, lặn một mạch vào trong đám tàu thuyền của bà con mình ấy. Ca nô của giặc chạy theo vèo vèo, tiếng súng nổ chiu chíu đe doạ. Tiếng loa ồn ã doạ nạt:

- Đồng bào không được để cho thằng Việt Cộng trốn thoát. Ai bắt được nộp quan lớn trả thường mười ngàn đồng – Mười ngàn đồng lúc đó lớn lắm. Có thể xây được căn nhà bốn năm tầng. Tậu được vài con thuyền.

Ông lặn một mạch. Tay cũng cướp được quả lựu đạn của giặc. Lúc bị trói ông đã quan sát rồi. Có một dây lưng của thằng lính để ngay ở mạn tầu. Nếu chúng mà tóm được mình sẽ rút chốt. Thà chết, không để chúng làm tình làm tội. Ông khẽ ngoi lên. Những năm theo cha đi biển, những đêm đi đánh cá, những trận gài bộc phá vào tàu giặc đã cho ông lòng can đảm, ý chí kiên nhẫn không nổi nóng. Ông ngước lên, để khỏi làm người trên thuyền sợ, ông dùng tay gõ cộc cộc vào đáy thuyền. Cậu bé nhận ra ông đầu tiên:

- Ông là ai?

- Tôi là người bị giặc đang truy đuổi!

- Mẹ! – Cậu bé dò hỏi mẹ, chờ đợi.

Người mẹ nhìn quanh quất xung quanh. Nói giọng cảnh giác: - Trên tàu có khí tải, họ có thể quan sát từng cọng rác trôi trên mặt biển.

Ông nói với mẹ con người đàn bà. Thật ra, ông cũng không biết tại sao mình lại chọn con thuyền nhỏ. Lỡ ra gặp thuyền thám báo của giặc gài vào dân nắm tình hình thì sao. Ông không có quyền lựa chọn nhiều. Sức đã mỏi mệt. Trèo lên những con thuyền đánh cá to mà gặp nhà giàu sợ liên lụy mà nộp cho giặc, chi bằng chọn những con thuyền nhỏ này. Thuyền nhỏ không thể có lắm người, nếu sảy ra chuyện gì cũng dễ thoát xuống biển.

Ông đã gặp may, như là số phận đã đợi sẵn. Cậu bé nó nhận ra ông là người đàng mình. Ông không trông chờ gì nhiều hơn. Sau này đã thành chiến sĩ giải phóng rồi, ông có dịp quay lại vùng biển Cửa Việt, cùng cậu đóng giả một gia đình đi trinh sát tình hình giặc. Nguồn quý ông như ruột thịt. Còn vói ông, mẹ con Nguồn là ân nhân, cải tử hoàn sinh cho đời ông. Lạ thật, ở nơi này hàng ngày phải đối mặt với cái chết, vậy mà không hết người tốt, không nghĩ gì đến tính mạng mình, dám hy sinh vì người khác…

Thằng Lộng chập chờn trong giấc ngủ vẫn nhìn thấy ông, bà nội và cả bác nó nữa, chở con thuyền rất to, giọng bác Nguồn nằng nặng:

- Lộng à! Thế sao bảo mi đi thành phố đánh giầy?

Buồn ngủ, tiếng biển rì rầm, tiếng ru ngân đời, ru những linh hồn của người làng chài nhỏ bé - ông tổ đã chạy đến đây lập làng.




CÒN TIẾP...

__________________________________________________________



TỪ NGUYÊN TĨNH

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC