1. Vì Sao Tôi Quyết Định Về Quê
Khi tôi dọn về ấp Cam Tân này thì cái Tổ hợp Tâm Phúc đã được thành lập cách đó nửa tháng. Nói là dọn nhà cho nó oai chứ chúng tôi có gì đâu mà dùng từ ngữ dao to búa lớn là dọn nhà. Hai vợ chồng, hai đứa con, đứa lớn sáu tuổi, đứa nhỏ vừa mới xong thôi nôi. Nơi đến của chúng tôi là gia đình ông bà ngoại của mấy đứa nhỏ.
Cả gia đình bé nhỏ của tôi trước đây ở tại Saigon chung với ba mẹ ruột của tôi và hai người em, người em trai kế tôi cũng đã có gia đình và cùng ở chung nhà, cô em út thì còn solo. Căn phố mặt tiền nằm trên một con đường sầm uất của quận Năm nếu để làm kinh doanh mua bán thì rất tốt nhưng quá chật chội với gần một chục nhân khẩu. Tôi cũng có công việc làm tại một công ty và phụ trách công việc bán hàng, tiền lương nuôi vợ con thoải mái, dù không có tích lũy dư thừa nhưng yên tâm qua ngày đoạn tháng. Rồi có lẽ vì ông trời không thương cho nên đã xui cho ông chủ tôi nhảy vô nghiệp đỏ đen, dong ruổi theo bác thằng bần, nợ nần tùm lum, ông chủ bỏ trốn, cảnh sát tịch thu hàng hóa đồ đạc, niêm phong công ty, tôi và những người làm công khác ra đường ngồi chơi xơi nước.
Sau đó, tôi lang thang đi hết chỗ này đến chỗ khác, nhưng vì thời vận đen đủi không kiếm đâu ra được việc làm. Lúc bấy giờ tôi mới biết thế nào là thất nghiệp. Người như bị nhão ra có lẽ giống như những người nghiện lên cơn đói thuốc. Có hôm, sáng thức dậy nuốt một tô mì gói, vợ con tôi thì ăn xôi bắp người ta bán trước nhà, tôi mặc quần áo đàng hoàng, đi tới đi lui. Vợ hỏi: “Huynh đi đâu mà coi bộ bảnh bao?” Lỡ trớn tôi trả lời đại: “Ối, đi lòng vòng coi có mấy thằng khùng điên nào đó mướn không”. Rồi tôi thả bộ ra đường, không giống như người ta biết bấm quẻ coi đi hướng nào cát, hướng nào hung, riêng tôi cứ nhắm nhà mấy thằng bạn cũ tương đối khá giả đến uống cà phê đấu láo, có mấy bộ kiếm hiệp Kim Dung nói đi nói lại hoài, hoặc có khi gặp bạn biết đàn gui-ta thì bảo nó rải mấy bản cổ điển nghe cho đã rồi… ngủ lúc nào không biết. Mấy người bạn thường chê cười tôi không biết chơi đàn. Cũng đúng thôi, ngay cả bài 14 trong cuốn bài tập của Carulli mà tôi tập đàn từ nhỏ đến bây giờ cũng không xong. Đến trưa, chúng tôi xoay ra làm vài xị cây lý, rồi lại rỉ rả tiếng đàn, câu hát, cho “ta lắng nghe ta…” trong làn khói thuốc. Ngay thời điểm đó, ở nhà, vợ tôi cũng đoán được tôi sẽ trở về tay trắng nên yên tâm cho con cái ăn trưa và an ủi chúng nó: “Ăn đi con, ba con hôm nay mới tìm được công ăn chứ chưa có việc làm đâu”. Đúng như vậy, vì nếu tìm được việc làm tôi đã ba chân bốn cẳng chạy về báo tin mừng cho vợ con biết.
Một buổi tối, tôi cùng vợ con đi tản bộ một vòng qua đường Nguyễn Duy Dương, đến chợ An Đông giống như những kẻ nhàn du sau bữa ăn chiều nhiều đạm và đầy chất béo. Tôi đang có một kế hoạch rất to lớn là phải tìm cho được một phương hướng kinh doanh để nuôi tất cả bốn cái máy nhai này.
Tối đó, tôi đã tìm ra chân lý. Khi các con tôi đã đi ngủ, tôi mới bật mí cho bà xã: “Vừa rồi, khi đi dạo mát, ngang qua xe bán cháo huyết, đột nhiên anh “ngộ” liền…”
Sáng hôm sau, tôi biểu diễn tay nghề thợ mộc, thu gom gỗ ván dư thừa tại các xó xỉnh trong nhà và đến chiều tối tôi đóng được ba cái bàn nho nhỏ và sáu chiếc ghế đẩu xinh xắn giống như bàn ghế ở các quán cóc trên lề đường.
Quán cháo huyết của chúng tôi bán vào buổi sáng để cho người ta ăn điểm tâm nên khách đến cũng lai rai. Thêm một lợi thế của quán chúng tôi là ở gần một bệnh viện phía bên kia đường nên những người nuôi bệnh cũng đến mua để mang về cho bệnh nhân. Tôi cũng an tâm vì mình bán cháo cho bệnh nhân nên không sợ họ bị trúng độc hay gì gì khác. Để phục vụ cho khách đúng theo kiểu cách của người Hoa trong Chợ Lớn, chúng tôi cũng có đính kèm thêm cải hũ và dầu chá quảy. Nhờ món dầu chá quẩy tôi có dịp kể cho khách đến ăn nghe sự tích của cái món bánh rất khoái khẩu này. Trước hết là cái tên gọi. Rất nhiều người Việt nam thường gọi sai là “giò cháo uẩy”. Gọi đúng theo tiếng Quảng Đông phải là “dầu chá quẩy” có nghĩa là con quỷ bị chiên trong dầu. Theo truyền thuyết ngày xưa ở bên Tàu, đời Tống có tướng tài là Nhạc Phi từng đánh bại quân Kim hơn trăm trận nhưng bị Tần Cối gièm pha hại chết. Vua Tống đời sau đó phục hồi danh dự cho Nhạc Phi, sai người đúc 2 tượng đồng, tượng trưng cho Tần Cối và vợ là Vương Thị, thường trực quì hầu trước mộ Nhạc Phi như muốn xoa dịu nỗi oan ức của Nhạc Phi ở chốn cửu tuyền. Còn người dân vì quá thương và tôn kính Nhạc Phi như một vị thần, rất căm thù vợ chồng Tần Cối, nên nghĩ ra một cách trừng phạt vợ chồng tên gian ác này bằng cách nắn hai cục bột đặt dính vào nhau rồi kéo dài ra tượng trưng cho hai hình nhân, rồi bỏ vào chảo chiên, ngụ ý quăng vợ chồng Tần Cối vào vạc dầu, không ngờ biến thành một thứ bánh chiên ngon lành lưu truyền cho tới bây giờ. Dầu chá quẩy nhúng vào cà phê sữa rồi ăn cũng ngon lắm. Ở ngoài Bắc, người ta gọi món bánh này là “quẩy” và ăn với nước mắm ngọt.
Quay lại cái gian hàng cháo huyết của tôi. Coi vậy mà cũng lây lất kéo dài được hơn một tháng. Ngày nào cũng bán hết sạch. Thu nhập cũng đủ tiền chợ cho bốn nhân khẩu nhưng có phần bổ dưỡng hơn trước, thỉnh thoảng có gà rô-ti, thịt sườn nướng… Đột nhiên, một ngày trước đó, cháo bán không hết. Mười giờ sáng mà còn dư khoảng năm, sáu tô. Vợ tôi phải dẹp hàng, để kịp chạy ra chợ mua một số vật liệu về chuẩn bị cho ngày hôm sau. Thế là hôm đó vợ chồng con cái có món cháo huyết thay thế cơm trưa. Tâm sự với anh bạn sửa xe gắn máy bên cạnh, anh cho biết đã mấy ngày nay, bệnh viện có tổ chức phát cháo miễn phí cho bệnh nhân. Thì ra vậy. Việc từ thiện của bệnh viện đã làm công cuộc kinh doanh cháo huyết của tôi bị tê liệt. Tôi không căm ghét bệnh viện, nhưng chỉ tiếc là “thời cơ” mình chưa tới.
Ăn cháo huyết trừ cơm được mấy hôm, cả gia đình nhỏ bé của tôi chịu hết nổi, tôi lên kế hoạch thay đổi phương án kinh doanh. Tối hôm đó, tôi nằm trằn trọc suy nghĩ coi sẽ làm cái gì để nuôi cái rờ-moọc đang ngáy khò khò bên cạnh. Tôi nghĩ tới, nghĩ lui, chưa tìm được cách nào để kiếm cơm, chỉ cần đủ để qua ngày, không dám nghĩ đến việc làm giàu chi cho mệt. Hồi xưa đọc Gheorghiu, ổng nói “Tất cả mọi hoàn cảnh khó khăn đều có lối thoát”. Tôi tin như vậy, rồi tôi mơ màng đi vào giấc ngủ. Nhưng cùng lúc đó tôi thấy mình đang đi trên một con đường đất, hai bên là đồng ruộng bao la, gió thổi mát rượi. Tôi không biết đang đi đâu và để làm gì, cứ tung tăng như hồi còn trẻ chưa vợ, chưa con. Đột nhiên tôi thấy đang đi vào một khu rừng núi, phía xa có tiếng thác đổ rì rầm. Tôi thong thả vẹt lau sậy, những nhánh cây rừng gie ra trước mặt, từ từ bước tới gần chỗ thác nước. Lúc đó tôi nghĩ phía sau thác nước là một hang động có vàng bạc châu báu như trong chuyện cổ tích. Thế là tôi bắt chước Quách Tỉnh trong truyện Anh hùng xạ điêu, bay qua thác nước. Cột nước mạnh mẽ đổ vào người và giữ tôi đứng lại ngay chỗ nước đang tràn xuống. Tự nhiên tôi thấy không phải nước đổ lên người tôi nữa mà là… cháo huyết, giống như đang có ai đó đứng trên cao bưng nồi cháo huyết đổ vào người tôi. Tôi hét lên và giựt mình thức dậy theo thủ tục thông thường của một người vừa gặp ác mộng. Vợ tôi cũng vừa thức giấc vỗ nhẹ vào vai tôi và gọi khe khẽ như sợ tôi hốt hoảng. Tôi dần dần hồi tỉnh, mồ hôi ra ướt cả chiếc áo thun. Tôi quay sang nói nhỏ với vợ tôi: “Hôm nay bán xong mình dẹp hàng nghỉ luôn. Anh sẽ tìm phương kế khác làm ăn. Em đừng lo!”.

Mấy hôm sau đó, trong khi tôi đang động não tìm một phương án kinh doanh mới, ông ba vợ tôi đột nhiên từ nhà quê đạp xe xuống thăm cháu. Ông mang theo lỉnh kỉnh vài củ khoai lang, vài củ khoai mì, vài trái xoài làm quà. Vợ tôi thu nhặt mấy món hàng nông sản này đưa xuống bếp và chuẩn bị luộc khoai cho mấy đứa nhỏ thưởng thức. Có lẽ lạ miệng, trưa hôm đó hai đứa con tôi cứ đòi ăn khoai chứ không chịu ăn cơm. Trong bữa ăn, khi biết chúng tôi vừa dẹp tiệm, ông già ngỏ ý muốn tất cả chúng tôi về quê sinh sống. Người đầu tiên vui mừng là vợ tôi vì sẽ được chung sống với cha mẹ và các chị em. Riêng tôi không biết vui hay là buồn. Nói là quê nhưng cũng không xa thành phố mấy, bằng cớ là ông già vợ đã sáu chục tuổi mà còn đạp xe đi về Saigon một cách thoải mái. Về quê thì không sợ đói. Ruộng rẫy có sẵn, gà, vịt, heo, dê, cứ ra sức chăn nuôi thì làm gì không có cái ăn. Nói chung, một cuộc sống vô cùng tự do. “Ta có làm thì ta có ăn”. Tuy nhiên tôi cũng có đôi điều nghi ngại. Từ nhỏ tới lớn sống tại thành phố, công việc nhà nông chưa hề biết qua. Cái liềm, cái cuốc chưa từng đụng tới. Nói ra thì còn bao nhiêu chuyện nhà nông mà bản thân chưa từng được ai dạy. Tuy nhiên với tinh thần của một hướng đạo sinh đã được rèn luyện từ nhỏ. Tôi thấy “không có việc chi khó, chỉ sợ lòng không bền…”, cuối cùng tôi đã nhận lời. Khi nghe tôi đồng ý về quê, vợ tôi vui mừng ra mặt. Điều đó làm tôi vô cùng hạnh phúc.
(còn tiếp)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 17.07.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com