TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).







 






Hà Nội 40 Năm xa - tranh bìa của hoạ sĩ Đằng Giao








HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA

Tặng họa sĩ Phan Diên
T.P




... Có một Hà nội làng hoa Ngọc Hà em đứng đó
Chầm chậm trở về trong mỗi giấc mơ
Chầm chậm đến với những câu thơ
Chầm chậm đời mình cho ngày xuân tới
Và anh
Tình yêu Hà Nội lại theo về...

THÁI THĂNG LONG
(Chiều Phủ Tây Hồ, 1993)



CHƯƠNG 3
... tiếp theo




Tháng chín năm chín tư, một nhà văn Mỹ gốc Việt, cùng vợ con đến Sài Gòn có ý định làm ăn. Muốn gặp gỡ một số bạn cũ, bạn mới trong làng văn chương, anh nhờ nhà báo Quốc Thái làm trung gian, môi giới mời mọc.
Nhà báo rất láu cá trong nghề, giao du rộng, miệng lưỡi giẻo quẹo, chơi với bạn bè thuộc tính nết từng người, rồi từ đó có lối ứng xử thích hợp. Lời hô hoán mời anh em nhẹ tênh, cho bữa ăn nặng chịch thịnh soạn, trong quán cơm tây bình dân Nam Sơn nằm trong quận ba.
Người dân thành phố có câu: ăn quận năm, nằm quận ba, hát ca quận một, trấn lột quận tư, kỳ dư chia đều quận, huyện, vậy tay nhà báo này mời ăn, thì liệu có bố trí sẵn chỗ cho nằm?
Quốc Thái phản pháo nhanh như cảnh sát cơ động 113:
-Mời ăn tới đúng lúc, muốn nói phải đúng câu, rượu vào ngồi lâu tránh chuyện chính trị.
Một anh góp:
- Hay, nhưng nhà báo ơi, chúng tôi nói chuyện chính chị, hai từ đều viết chờ nhẹ ấy mà!.
Lục tục thấy có mặt Lữ Phương, Ngọc Lương, Trọng Văn, Doãn Sỹ, Thiệu Khang, Nhật Tuấn, Trịnh Cung… Và Hoàng Lại Giang cùng phu nhân đi cạnh phu nhân Thế Uyên. Tôi chưa vội vào, tới chỗ cửa lên lầu, đang hiện diện chủ tiệc và con trai đứng đón khách. Vốn ưa nghe chuyện tiếu lâm, tôi chào hỏi, thưa gửi:
-Thưa tôi là nhà giếc giăng Bất Thế Uyên.
Nghe xong, anh cau mặt, nhận ra ai rồi, nên tôi phải chỉnh sửa lại ngay, trao anh cuốn sách mới in, với lời đề tặng: Bản tặng nhà văn Nguyễn Kim Dũng. Nhấn mạnh giếc theo giọng nói miền Nam, viết văn thành giếc giăng hoặc giếc báo và lối đùa này không được nhà văn đạo mạo hoan nghênh.
Còn chỉ đề tặng với tên thật, vì vợ chồng anh đang xin Bộ Giáo dục & Đào tạo mở Trung tâm Du học môi giới sinh viên sang Mỹ, Canada du học.
Ngồi phía bên phải tôi, Hoàng Lại Giang, đối diện là vợ Thế Uyên và vợ Lại Giang. Bà Giang có dáng dấp người Việt gốc Hoa, khuôn mặt đôn hậu, rất ân cần tiếp thức ăn cho bạn văn nghệ của chồng quên ăn, mải chuyện văn chương bù khú. Bên trái tôi, Thiệu Khang, viết sách và dạy triết học, có lối xưng hô toa, moa, như người Hà Nội bây giờ. Bắt tay xong, hỏi tôi :
- Toa đi dạy, viết sách, viết báo? nghề gì là tay trái, tay phải?
- Ông ơi, tôi là đại văn hào, loại gì cũng viết, mà đúng ra bốc phét tí chơi thôi, hào với xu chẳng là cái đếch gì? Dễ hiểu hơn, coi tôi như một nhà sách lớn, không bán sách văn, triết học mà chỉ bán toàn tập giấy trắng và vở học trò.
Trọng Văn, trưởng nhóm triết tây Đại học Tổng hợp thành phố, quay sang hỏi:
- Dạo này ông viết lách gì mới không? À, mà ông còn cuốn Nietzsche(), cho mượn photo rồi hoàn trả.
Tôi lắc đầu, thì Thiệu Khang đặt câu hỏi:
- Toa cũng viết sách triết à? Moa dạy triết môn thẩm mỹ học số một đấy.
- Thế giáo sư dạy triết từ Hà Nội ?
- Trước bảy lăm, cũng dạy cả thẩm mỹ học?
Nghe tới đây, chắc biết là hơi cương ẩu, đính chính:
- Không, sau này mới dạy, toa ạ .
- Ngày xưa toa cũng dạy triết ?
- Không, cũng chẳng viết báo, chẳng có gì là tay phải, tay trái.
Và có lời khuyên nhỏ: đừng tin trăm phần trăm vào câu nói của trưởng bộ môn triết Tây ?.
- Tại sao?
- Chỉ nên tin Trọng Văn dạy triết cho sinh viên hay hơn là nói. À quên, đúng ra là Trọng Văn viết triết còn hay hơn cả nói và dạy triết! Và tôi cũng viết triết từ trước bảy lăm, nhưng triết lý xoàng thôi.
- Triết lý xoàng là triết lý kiểu gỉ? Toa không đùa đấy chứ?
- Không đùa, triết của tôi viết là triết theo lối chờ nhẹ.
- Thế Phong đùa quá trớn rồi đấy! triết gì chờ nặng, với chờ nhẹ? (một bạn ngồi đối diện phát biểu).
- Xin lỗi, bạn không biết s là sờ nhẹ, x sờ nặng sao? vậy ch là chờ nhẹ, tr là chờ nặng. v.v... tôi đáp .
Có tiếng cười nhỏ... chẳng biết ai cười ?



Thiệu Khang chưa chịu buông tha, giải thích từng dạy aliénation() mà chắc gì bọn giáo sư triết Sài Gòn cũ, ăn nổi moa?
Đến nước này thì chẳng đặng đừng, phải tiếp tục đùa:
- Xin hỏi, ông là thầy dạy triết ?.
- Đúng, Thiệu Khang đáp vẻ tự đắc:
- Tốt!
- Giả thiết các cô cậu kia là sinh viên học triết của ông chẳng hạn?coi như đây là giảng đường, có thầy, có trò cho vui .
- Sao rắc rối thế ?
- Thầy dạy triết, trò học triết, cả hai ngay khi nhập môn đều phải thuộc lòng câu này?
- Câu gì? người ngồi đối diện hỏi.
- Giống như nhân chi sơ tính bản thiện thì ở đây mangeons puis philosophons(). Chưa mangeons thì philosophons cái gì cũng chẳng quan trọng?
- Ông thích đùa đấy ông bạn, Thiệu Khang tiếp, khi nào ông ăn xong, còn điều gì chưa thông suốt, cứ hỏi tôi trả lời free hết.
- Một không, dành cho Thế Phong, một anh nói.
Bắt đầu ăn, bia lon ê hề, không dzô, dzô lớn tiếng, như bọn nhậu bình dân, ở đây chỉ chạm cốc nhẹ nhàng, êm lặng.
Có bạn đòi uống rượu, cũng được phu nhân Thế Uyên đáp ứng ngay. Câu chuyện văn chương không còn tranh luận sôi nổi như ban đầu.



Một anh bạn khác bắt chuyện Thiệu Khang:
- Sách viết về esthétisme của ông bán chạy đáo để, sinh viên rất thích.
- Ông đọc sách đó chưa? Thiệu Khang vỗ vai tôi, hỏi vậy.
- Chưa, nhưng không phải là không, bởi một khi đã gặp được tác thiệt rồi sẽ tìm đọc tác giả-giả của tác phẩm thiệt.
- Lại chơi chữ rồi, một người lên tiếng.
- Bây giờ tôi có câu chuyện kể này, tôi nói, mong được giáo sư Thiệu Khang lắng nghe. Rồi trả lời ..
- Đồng ý, tốt lắm!
- Lâu lắm rồi, dạo ấy tôi còn trẻ hay đi du lịch còm mỗi khi có tiền. Một lần mua vé xe ca lên Đà Lạt, rất ngẫu nhiên cạnh bên là một thiếu nữ. Cô khá đẹp, ăn nói lịch lãm, dáng thuỳ mị, vẻ đôn hậu. Chúng tôi bắt chuyện, hết nói bâng quơ về thời tiết khá thân, sau chuyển sang hỏi tên tuổi, nhà cửa ở Đà Lạt. Thường ra xe hay đậu lại ở cây số 135, ấy là từ Sài Gòn đi Đà Lạt, để khách ăn trưa hoặc khách xuống xe, đi lại cho thư giãn. Khi ăn cơm, tôi và cô ấy chung bàn, sau tôi xin phép được trả tiền. Rồi chúng tôi thân thiện hơn, nên chuyện trò cởi mở hơn. Đoạn đường từ Bảo Lộc đến Di Linh, man mác đồi trà, gió lùa dễ dỗ dành giấc ngủ cô bạn. Tay vịn thành xe dùng chung. Lúc tay cô tì lên, tôi tự động bỏ xuống. Lúc cô bỏ tay xuống thì tay tôi tì lên. Và khi cô ngủ gà ngủ gật, cánh tay nõn nà đè lên cánh tay tôi thật êm ái. Bỗng xe khựng lại, bác tài tránh ổ gà, tôi rút cánh tay ra, cô choàng tỉnh, nhẹ nhàng, thỏ thẻ Ne vous en faites pas. ()
Đến lúc này tôi luống cuống thật sự, không biết phải xử trí ra sao:
- Theo giáo sư, cứ giả thiết ông là tôi, lúc đó ông sẽ làm sao? Rút tay về hay cứ để lại? Phải suy nghĩ chín chắn trước khi trả lời.
Thiệu Khang ngần ngừ, sau đáp:
- Rút về cho lịch lãm toa ạ!
Tôi không kể tiếp rút tay về hoặc là cứ để lại, quay sang Lý Lan, cô đang lấy thìa khoắng cốc nước cam vắt không đá, tai lắng nghe chăm chú.
Cũng hớp một ngụm cà phê nguội ngắt, tôi hỏi cô:
- Cứ như Lý Lan, thì rút về hay cứ để, mà tay không chịu rút ra...
- Cái ông này, hỏi gì mà kỳ cục quá dzậy cha nội? Cái gì rút về, còn cái gì mà tay không chịu rút ra? Mấy cha nói chuyện thật khó hiểu!.



Câu chuyện tiếp tục:
- Cảm ơn giáo sư và bây giờ xin mời ngài cùng anh chị em chụp chung tấm ảnh lưu niệm, bác phó nháy đang giục toáng lên kia kìa!
- Thế nhà ông ở đâu nhỉ?
- Nhà moa ở... Nguyễn Thiện Thuật, phường một, quận ba. Moa mời tất cả các toa có mặt bữa nay, đến nhà moa uống rượu, ta tổ chức buổi hội thảo bỏ túi nhé. OK cả chứ? Moa sẽ thông báo ngày, giờ sau. Toa cũng phải đến đấy nhé!
Rất cảm ơn thịnh tình, không tham dự được. Xưa kia ở Hà Nội có câu: Nhà anh ở phố Đầu Cầu / Số nhà vanh nớp đứng đầu du côn.
***
Có một buổi sáng đi qua đường Nguyễn Thiện Thuật, sao trống kèn tiễn đưa ai mà não nuột đến vậy! Tôi giảm tay ga, cho xe chạy chậm, lấy nón ra, cúi đầu chào người quá cố; khi nhìn ảnh đặt trước quan tài, lại thấy như quen quen.
Trí nhớ của kẻ mấp mé tuổi xưa nay hiếm giảm, tôi chưa thể nhận ra ai? Bỗng, có tiếng người quen gọi, quay lại, bật nhớ ra ai đang ngự trên quan tài lung linh nhang khói.
Chân dung ảnh còn trẻ hơn nhiều so với lúc gặp, mặt mũi phương phi béo tốt, hiền từ quảng đại, không lấc cấc háo thắng, thích ăn thua đủ như lúc sinh thời.
Lòng quặn lại, khi nghĩ đến chính bản thân mình cũng chẳng tốt đẹp gì!. Tắt máy, xuống xe, giắt bộ, tôi lăng lẽ cúi đầu đi sau đám tang một quãng đường: Vĩnh biệt cuộc đời một chiết gia!



Lý Lan lại hỏi, ở đâu có Vườn Kính Thiên, hãy chở tôi sau xe đạp cùng đến đó cho biết.
Hà Nội xưa có vườn Kính Thiên nằm trên đường đôi Hoàng Diệu.
Tôi quẩn quanh, quanh quẩn vẫn không tìm ra dấu tích. Hỏi vài người ở thủ đô lâu đời, có người lắc đầu, có người ngơ ngác, rồi khẳng định làm gì có?
Sao không có được, Kính Thiên, vườn thượng uyển, nơi vua dạo chơi một thời rất xa, cho đến năm năm tư, tôi còn thơ thẩn nơi này với tập vở ôn bài.
Chẳng lẽ, không còn ai biết về di tích lịch sử này trong các sách cũ còn ghi chép tận tường?
Cuối cùng, cũng nhìn ra di tích ấy, nằm sâu trong khu hạn chế, đã được sát nhập vào một di tích lịch sử mới.



- Bây giờ xin mời nhà văn nữ, nghe lời tôi kể về nơi cần đến thăm; Văn Miếu chẳng hạn.
Cũng là di tích lịch sử thật lâu đời, xây dựng từ những năm 1070, mục đích cổ võ sĩ khí Nho giáo. Qua ít năm sau, xây Nhà Quốc Tử Giám ở phía sau Văn Miếu, dành riêng cho hoàng tộc vương tôn lúc đầu, cuối cùng cũng thu nạp mọi sĩ tử thứ dân giỏi giang khắp nước.
Nhìn tường bao quanh Văn Miếu, mặc dầu trải qua bao biến thiên thời đại mà loại gạch Bát tràng như vẫn thách đố với thời gian.
Mua vé du ngoạn trả một nghìn, so với ngoại kiều mười lần hơn, tôi bước qua cổng Văn Miếu, lần vào Đại trung môn, thăm đủ hai cổng phụ Thành đứcĐại tài.
Qua thăm Khuê văn các, đến hai cổng nhỏ Súc vănBỉ văn - cổng nói lên tính hàm súc của văn chương, còn văn là trong đẹp, sáng sủa. Đến Đại thành môn, giữa xây hồ nước hình vuông, đó là Thiên quang tỉnh (giếng trời nước trong sáng).
Cảnh đẹp lịch sử ngàn xưa lưu danh, sao lại không có dung nhan khách lưu hành viếng cảnh, nhìn xung quanh không một bác phó nháy lai vãng .
Có một thanh niên đi tới, máy ảnh trước ngực, đánh bạo đến yêu cầu chụp- hoá ra anh từ thành phố mang tên Bác mới đến đây.
Rất có lòng, hỏi nếu cần,anh sẽ tặng một chụp đứng bên cạnh Thiên quang tỉnh. Cũng chụp lại một pô tương tự, rồi chủ nhân cho biết tên, địa chỉ: ...đường Bùi Hữu Nghĩa, phường một, quận Bình Thạnh.
Từ Thiên quang tỉnh, nhìn sang hai bên là Vườn Bia, nơi dựng bia tên các bậc tiền nhân đậu ông Nghè, ông Cống tại vị ngày đêm trên lưng rùa đá xếp thẳng hàng.
Gần đó, một dãy nhà ba gian tả vu hữu vu, thờ bậc danh nho: Chu Văn An, Trương Hán Siêu và ở bên tả vu trên chiếc bàn gỗ bầy bán tranh ảnh, đồ lưu niệm xen lẫn tác phẩm văn học được dịch sang ngoại ngữ: Dien Bien Phu của tướng Võ Nguyên Giáp, Sorrow of Love Bảo Ninh và cả bản photo sách Connaissance du Vietnam của Pierre Huard & Maurice Durand v.v...



Cũng tại đây, khoảng ba tháng trước, ngọai trưởng Warren Christopher đến Hà Nội, sáng đọc diễn văn về bang giao quốc tế với Việt Nam, buổi chiều vào thăm Văn Miếu, rồi nhớ lại buổi sáng đọc diễn văn có một câu: Trời mở thời trung hưng đời khai vận đổi mới() được khắc trên bia đá nơi này.
Vậy là đổi mới bây giờ cũng trùng hợp với đổi mới của tiền nhân từ bao thế kỷ, xa rất xa, rồi ngẫm lại câu nói trong kinh thánh đọng lại trong tôi: dưới mặt trời chẳng có gì là mới.
Lý Lan nói:
- Chẳng tài gì hiểu nổi, sao tôi chịu khó nghe ông kể chuyện này sang chuyện khác, đôi khi thiếu mạch lạc, lại vẫn bị ông dẫn dắt. Chuyện thật kỳ cục, nhớ buổi đầu tiên gặp ông ở chỗ Ý Nhi, nói vài ba câu, tôi nghĩ không còn gặp lại lần sau. Thế mà ...



Tối thứ ba, sau khi tham dự buổi gặp gỡ với các dịch giả, tôi báo trước cho tùy viên, hãy giới thiệu tôi với tư cách đã dịch một số tác phẩm văn học, thi ca, ký sự lịch sử, tiểu thuyết Pháp sang Việt mà thôi…()
Chiều nay, giáo sư Lê Hồng Sâm dạy ở Đại học Tổng hợp, điều khiển chương trình.
Ngồi cạnh tôi là Huỳnh Như Phương, hết lời tán tụng người dẫn chương trình, bà thầy tận tụy giúp đỡ sinh viên, trước khi anh sang Mátxcơva trình luận án PTS..
Buổi nói chuyện này thuyết trình, thảo luận đều nói tiếng pháp, không thông dịch, nên đa số ngồi nghe chẳng khác nào vịt nghe sấm, lục tục bỏ ra về.
Đến khi Robert Lacombe lên bục , giới thiệu tôi trong hội nghị, tuỳ viên làm đúng theo yêu cầu và sau đó, hội nghị tan sớm hơn chương trình dự định.



Trở lại nhà Băng Sơn lần sau, anh đưa ra tập album gia đình rất cũ và cho biết, cứ chịu khó coi, sẽ gặp một bất ngờ.
Ảnh chụp gia đình anh sau năm năm tư, nào đám cưới giữa một ca sĩ với một nhà báo, ảnh chụp sinh hoạt thường nhật với bạn bè, tôi nhìn loáng thoáng có ảnh chụp Kiều Liên Sơn, Hương Huyền, Vân Long, Mọc Đình Nhân v.v…
Đột nhiên, anh nói to:
- Đây rồi, Thế Phong rất cốt sì tô.()
Tôi sững sờ nhìn ảnh bán thân cởi trần, ghi hàng chữ dưới: Thân tặng bạn Băng Sơn, Hà Nội 21/3/1954-ký Thế Phong. Lật phía sau, có hàng chữ: sau buổi tập quyền anh ở Septo về, ghé qua hiệu ảnh Tam Anh, 66 Hàng Gai.
Anh bằng lòng cho mượn đưa chụp lại, xong hoàn trả ngay, cũng đừng lấy cớ làm mất để thu hồi.
Ôi! Tôi cảm động biết chừng nào?



Hà Nội của bom rền đánh phá mười hai ngày đêm ròng rã, khi xuống hầm, lúc sơ tán, có khi phải tạm xa nhà cửa về tỉnh lẻ hộ thân, mà anh vẫn giữ được, trong khi tôi ở Sài Gòn chỉ nghe tiếng súng xa xa, thì ảnh lại không còn?
Đã qua phố Huế nhiều lần, vẫn còn nhìn thấy hai nền nhà trống trơ trụi, bia căm thù đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc vần nằm sờ sờ ra đó.
Cứ nhìn thấy hai nền nhà kia, nay như vẫn chưa dễ xoá được xót sa nhọc nhằn! Và có người kể lại, cái bia không còn chữ; hình như ở Hà Nội, mà chính mắt tôi nhìn thấy, chỉ có đâu vài ba tấm bia như thế.
Một tấm bia khác, ở đường Cổ Ngư (nay đổi tên đường Thanh Niên, bởi sau năm tư, thanh niên xung kích lấp đất hồ, nới rộng làm đường đôi).
Từ Trấn Võ còn gọi chùa Quán Thánh đi ngược lên, thì bia nằm phía trái, trên khắc tên tuổi phi công Mỹ lái B-52, bị hạ lần đầu tiên, vẫn còn trên hồ Trúc Bạch.
Chẳng thể quên, không thể không đến phố Khâm Thiên, nhìn tấm bia tưởng nhớ nạn nhân xấu số chết vì bom Mỹ.
Bây giờ không còn vết tích chiến tranh tàn phá, của B-52 trải thảm, hết dọc, lại ngang, rồi chéo góc, hình ô quả trám, cày xới nát như tương bần.
Hết rồi, cảnh hoang tàn, nhà cửa làm mới, cửa hàng chen chúc mọc lên; nhưng từ cuối phố hướng về Thái Hà Ấp xưa ; vẫn còn nhìn thấy ba căn nhà gạch xây từ thập niên năm mươi, còn ngạo nghễ dầm mưa, trải nắng theo thời gian vĩnh cửu sinh tồn.
Cái quá khứ cay đắng đó, cũng là nơi gieo mầm cho một tương lai tốt đẹp hơn, như ngoại trưởng Hoa Kỳ nhớ đến hàng hàng, lớp lớp mưa bom trên bầu trời Hà Nội năm nào?
Hà Nội của anh, của tôi, của mọi người yêu mến; đi xa vẫn mong ngóng về thăm, của người Hà Nội vẫn luôn gần kề Hà Nội, riêng với Băng Sơn, nhà văn yêu từng cánh hoa đỏ lộc vừng trôi giạt trên mặt hồ, ngọn cỏ đắm sương trên những lối đi, tử cảm hứng đó, viết được bao chùm thơ mượt mà, nhiều câu văn bỏng cháy, về tình yêu muôn thuở dành cho Hà Nội:
... Tình cờ hay run rủi, cuối năm vừa đây, nhà văn Thế Phong, một người bạn cũ Hà Nội cách đây 41 năm, từ TP. Hồ Chí Minh ra Hà Nội họp, đến thăm tôi, sau hơn nửa cuộc đời xa cách. Mấy hôm ấy trời Hà Nội bắt đầu những cơn gió màu thổi giạt hoa lộc vừng đỏ chói trên mặt sóng hồ Gươm về một góc gió Hàng Khay, trong cái lạnh đầu mùa anh xuýt xoa nâng chén trà nóng để nghe cái ấm áp của tình yêu Hà Nội truyền qua làn da bàn tay có bao nhiêu là vạch ngang dọc bôn ba, cái ấm áp khác hẳn cốc thủy tinh trà đá trước đó mấy buổi anh uống tại quán cóc phố Nguyễn Du cạnh trụ sở Hội Nhà văn, mà vị của nó cứ lành lạnh, nhàn nhạt giống như ở cuối chợ Bến Thành hoặc ở đầu ô Cầu Giấy ngoài này. Câu chuyện giữa một người Hà Nội lâu ngày với một người Hà Nội vẫn không xa Hà Nội, cứ râm ran. Có lúc ngậm ngùi. Có khi phá lên những trận cười rung rinh mặt tách...

Hà Nội xưa có 36 phố phường, có lẽ Thạch Lam mượn ý trong câu văn tiền nhân Phạm Đình Hổ ... kinh thành thăng Long chia ra 36 phường...() để đặt tên cho tập tâm bút của hậu bối chăng?



Và Băng Sơn kể lại, Hà Nội không dưới năm trăm phố, anh từng nhiều lần dẫm chân trên con đường nhỏ lại ngắn nhất, chỉ vài chục sải bước.
Có một lần, anh ruổi rong trên ngựa sắt Phượng hoàng() thăm Yên Phụ, vào lúc đình làng tu tạo, mấy phù điêu cổ luốc lem dồn vào một xó như bỏ đi, anh lân la xin được đem về.
Và những chú lân bên cạnh linh qui được đặt trên tầng cao kệ sách đóng sát tường, gần bàn viết; nhà văn lặng lẽ ngắm nhìn mỗi đêm đêm. Cũng chẳng rõ ngọn nguồn những phù điêu kia, có thật là còn từ xưa để lại, hay gần đây được tái chế, phục hồi?
Tôi cũng như nhìn thấy, đôi ba cái tương tự, bị quăng ra ngoài hành lang chùa Trấn Võ khi đang được sửa sang, tu bổ.
Tiếng sấm chớp ở chân trời rền vang sáng loé. Chẳng lẽ tối nay cơn mưa dông cuối mùa ập đến chóng vậy sao?



Vội vã xiết tay Băng Sơn trên quán cà phê lề đường Nguyễn Du, tôi đạp xe ra phía Trần Hưng Đạo, thì cơn mưa ào ào đổ sập trút khối khổng lồ nước xuống rồi.
Chuyển túi xách từ sau ra trước, nhớ lời người bạn dặn, ở đây chúng giật đồ lẹ như chớp. Tay vuốt nước mưa, tay cầm ghi đông, lấy sức đạp mạnh hơn, nhanh hơn; khi đến tới Sinh Từ rồi, không hay biết, đến khi có người chỉ dẫn, Nguyễn Khuyến là tên phố mới của Sinh Tữ cũ.
Loanh quanh mãi cũng về đến phố Ngọc Hà, cố moi trí nhớ, khu này có ba phố chạy song song: Ngọc Hà, Hoàng Hoa Thám, Thụy Khuê.
Mưa chưa ngớt, đường tối mịt mờ, thỉnh thoảng nhờ ánh sáng đèn nhạt nhoà từ bóng đèn tầng lầu rọi xuống.
Chẳng hiểu đầu óc mụ mẫm ra sao, lại rẽ vào ngõ tay mặt, tìm lối tắt băng qua Hoàng Hoa Thám. Một ý mới loé trong đầu, cứ trở lại đường lớn, gặp ai hỏi thăm vậy. Miệng nhẩm lời cầu nguyện Chúa dẫn lối soi đường cho con cái Ngài đang lạc vào chốn tối tăm trong vực thẳm... .
Đúng lúc đó, một phụ nữ đi xe Dream chiếu đèn sáng, mừng quá, hỏi thăm, bà vui lòng bảo: cứ theo tôi, nếu không, bố sẽ không biết lối ra Hoàng Hoa Thám đâu.
Tôi lẽo đẽo đạp xe theo vết bánh xe Dream cho đến mươi phút sau, mới ra tới đường.
Bây giờ, bà mới tăng ga cho xe chạy nhanh hơn.
Còn tôi, dâng lời cảm tạ Chúa và cô phụ nữ có dáng bà rất trẻ đầy lòng thương xót kẻ lạc đường!
Ngoài trời mưa chưa dứt, khi đi qua chỗ thường bán ốc luộc nóng, tôi tạt vào, vì đã ăn một lần trên đường về.
Những con ốc luộc nóng còn bốc hơi, thả trong nước mắm gừng, đưa lên miệng sao ngon đến vậy?
Hai bát ốc chỉ bốn nghìn, đủ cho tôi khoái khẩu, ăn xong, lại gò lưng đạp xe dưới mưa tìm lối về.
Bấy giờ đã là tám giờ bốn mươi lăm, nhiều đoạn đường tối om. rờn rợn, nổi da gà sau gáy, lao thẳng xuống dốc. Hình như đến Chợ Bưởi, rồi qua mương Tô Lịch.
Vừa huýt sáo vừa đạp xe, lòng dạ phấn chấn, nhưng trong bụng đánh lô tô, khiếp sợ thật sự !
Nhưng ơ kìa, sao đường về nhà như tới nơi, lại vẫn không tìm ra ngõ rẽ vào nhà Kiều? Đi lại dăm bẩy lần vẫn chẳng nhìn thấy cột điện quen thuộc, treo lơ lửng bảng chỉ vào Nhà sách MỚI.
Lại đạp xe đi một quãng, nhìn thấy Học viện Nguyễn Ái Quốc, đúng là bị lạc đường nữa rồi! Gặp một toán lính đang đi về trại, hỏi thăm, được biết đây đúng là thị trấn Nghĩa Tân.
Đã chín giờ mười lăm, như vậy đã trên ba mươi phút lâm trận tìm nhà.
Một tiệm photocopy còn mở cửa, có một thanh niên đang tác nghiệp. Hỏi, đường Hòang Quốc Việt là con đường nào, có biết tiệm bán sách, báo nhỏ có tên MỚI không, xin chỉ giùm. Thì chỉ nhận cái lắc đầu, thất vọng, nhưng vẫn hỏi tiếp, nơi nào có thể gọi điện thoại công cộng? Cũng vẫn cái lắc đầu quen thuộc, thật chán!
Giá mà có nơi gọi điện tới số (04) 362614, để nó ra đón là hay nhất!.
Cuối cùng mọi dự tính chỉ là vô ích, uổng công!
Đang khi thất vọng, đi lui, đi tới, bóng đèn đường cao áp đồng loạt bật sáng.
Ngước mắt nhìn lên, thấy cột điện xi măng hàng thứ hai, cao nghệu, biển quảng cáo Nhà sách MỚI hiện ra lồ lộ dưới mắt tôi.
Khỏi cần phải nói, là mừng đến cỡ nào!
- Hẳn mất rất nhiều thời gian gỡ cái yên xe, để chở Lý Lan dạo bờ Hồ, nên về khuya chứ gì, Kiều nói vậy.


ĐỌC TIẾP CHƯƠNG 4




THẾ PHONG


HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA
Bút Ký của THẾ PHONG
Nhà Xuất Bản Thanh Niên - Hà Nội 1999




© Cấm trích đăng lại nếu không được sự chấp thuận của tác giả .





TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC