Ông Hoàng Hữu Đản,
Một Cựu Phan Sinh Lỗi Lạc


NGUYỄN TRỌNG ĐA


Quý bạn đang nghe Ave Maria


Sau khi nhiều báo chí đăng tin ông Hoàng Hữu Đản qua đời ngày 26-3 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi nhớ lại hình như có Linh mục nào nói cách đây mấy năm rằng ông Đản, tác giả vở kịch nổi tiếng "Bí mật vườn Lệ Chi", là cựu chủng sinh của Dòng Phanxicô. Lúc ấy, tôi nghe là nghe vậy thôi, chứ không chịu khó tìm biết. Giờ đây, cái chết của ông thôi thúc tôi tìm hiểu xem đúng vậy không.

Tôi liền gửi điện thư cho vài đại huynh của CPS, hỏi xem có biết ông Đản không. Ai cũng trả lời là không. Tôi chỉ còn hy vọng một bậc vị vọng trả lời nữa thôi, nếu không tôi đành chịu thua. May mắn quá, cha Phi Khanh Khởi trả lời rất nhanh cho tôi: "Phi Khanh có nghe nói nhiều về Ông, do các cha: Mân, Phổ, Phượng... kể lại. Ông học cùng lớp với ba Cha ấy và cha An nữa. Ông rất giỏi ngoại ngữ (Cổ ngữ Hy Lạp, Latinh, nhất là tiếng Pháp). Ông thuộc lớp đầu tiên của CV Thanh Hoá đi thi tú tài Pháp toàn phần. Sau đó ông xuất tu, đi làm Cách Mạng... Sr Mai Thành có liên lạc với Ông trong những năm qua. Anh em trong Tỉnh Dòng, vì thuộc thế hệ sau xa, nên không trực tiếp biết Ông". (Điện thư của cha Khởi 31-3-2012)

Nhờ tin tích cực của cha Khởi về ông, tôi chịu khó tìm các bài nói về ông trên mạng. Và tôi xin tổng hợp các bài ấy, để chúng ta có một cái nhìn về ông, một con người lỗi lạc, có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam và thế giới; một con người không che giấu gốc gác Phan sinh của mình, vì chính nhờ gốc gác ấy, ông mới trở nên tài giỏi; một con người chắc là không sống đạo trong nhiều năm, nhưng luôn thao thức về gốc đạo của mình, và không quên cầu xin Chúa và nhớ đến Chúa, đặc biệt là khi gần chết. Tôi xin phân tích các điểm này.

1. Con người lỗi lạc...

"Ông Đản là một CPS lỗi lạc", theo nhận định của cha Nguyễn Hồng Giáo trong điện thư gửi tôi ngày 31-3. Là chủng sinh của Collège Séraphique (Chủng viện Ái Thần) của Dòng Phanxicô ở Thanh Hóa, anh Đản học ban Văn chương và đậu tú tài 2 Pháp. Trong Ban Văn chương, như mọi người biết, văn học cổ của Roma và Hi Lạp được chú trọng. Đó là điều dễ hiểu để thấy rằng anh Đản mê say văn học cổ này đến chừng nào, cộng thêm năng khiếu của anh. Ngoài ra nhờ vốn ngoại ngữ Latinh và Hi Lạp, và tiếng Pháp thật vững (nói giọng Paris nữa), anh đã thành công trong việc dịch văn học cổ Roma và Hi lạp sang tiếng Việt. Xin trích dẫn một số bài viết chứng minh tài năng, được gọi là lỗi lạc của anh.

"Ông là một dịch giả hàng đầu ở Việt Nam đã dịch rất thành công rất nhiều tác phẩm văn học theo cả hai chiều ngôn ngữ Pháp - Việt và Việt - Pháp. Tuy nhiên tài năng lớn và sự lao động không mệt mỏi vẫn chưa đủ để làm nên một nhà văn hoá có tầm vóc như ông. Tôi đặc biệt kính trọng và ngưỡng mộ ông ở cái cao vọng muốn mang hết khả năng và tâm huyết của mình đóng góp vào công cuộc xây dựng một nền văn hóa toàn bích của dân tộc. Ông đã kế tục tinh thần và sự nghiệp cao đẹp của các nhà văn hoá am tường Tây học thuộc thế kỉ trước ông như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Kí, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh... Ông có mặt trong hàng ngũ những nhà văn hóa xuất sắc thời hiện đại như Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện, Đỗ Đức Hiểu, nhóm Lê Quý Đôn, Xuân Diệu, Nguyên Ngọc2, Thái Bá Tân, Hoàng Thuý Toàn, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Huỳnh Điệp... Bằng sự nỗ lực phi thường, trong mấy chục năm trời, bên cạnh công việc của một nhà giáo, ông đã biên dịch tới 50 cuốn sách với mục đích chuyển tải về cho đồng bào của ông, cho các nhà trường, các nhà giáo, các sinh viên và học sinh... những thành tựu tư tưởng và văn chương tiêu biểu của nền văn hoá Phương Tây vĩ đại. Đồng thời ông có cả một kế hoạch dịch tiểu thuyết và thơ Việt Nam ra tiếng Pháp để giới thiệu với thế giới". (Kiều Văn, Hoàng Hữu Đản, nhà văn hóa tầm vóc quốc tế).

Khả năng dịch thơ của anh thật là xuất sắc. Xin lấy bài Tiếng Thu được anh chuyển dịch sang tiếp Pháp làm ví dụ cho lối dịch thanh thoát và đầy đủ ý nghĩa, cùng tính cách thi vị dồi dào của bài thơ nữa:

Tiếng Thu
Lưu Trọng Lư


Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

Dịch:

Les Voix de l'Automne
Lưu Trọng Lư (1912-1991)


N'entends-tu pas l'automne
Sous la lune pâllissante retenant ses sanglots?
N'entends-tu pas, frémissante d'amour,
L'image du guerrier sur les frontières lointaines
Dans le coeur de la femme triste et désolée?
N'entends-tu pas dans les forêts d'automne
Les feuilles d'automne en bruissant tomber
Le cerf jaune, craintif et timoré
Fouler sous ses pieds les feuilles jaunes?

"Với sự nghiệp dịch thuật đồ sộ và tuyệt vời, ông Hoàng Hữu Đản đã trở thành công dân của thế giới. Ông đã được một tổ chức văn học quốc tế mời đích danh tham gia những cuộc hội thảo tại Pháp và Bỉ. Giới trí thức, các nhà văn nhà thơ ở châu Âu đều biết tiếng ông và ngưỡng mộ sự nghiệp văn học to lớn của ông. Công trình vĩ đại dịch trọn vẹn thành thơ Việt Nam hai tác phẩm cổ đại Hi Lạp Iliade và Odyssée với vài chục nghìn câu thơ đã khiến họ kinh ngạc. Bởi chưa có một dịch giả nào trên thế giới thực hiện nổi một công việc khó khăn như vậy. Những tác phẩm của ông có mặt tại nhiều thư viện ở Pháp và Bỉ. Riêng cuốn "Clair de lune" đã bay tới 49 quốc gia biết sử dụng tiếng Pháp... Nhà nước Pháp đánh giá cao những cống hiến của ông trong việc phát triển tiếng Pháp và đẩy mạnh sự giao lưu văn hoá giữa hai nước Pháp - Việt Nam, đã hai lần trao tặng huân chương Cành cọ Hàn lâm (Palmes Académiques) hạng ba và hạng nhì cho ông vào năm 2000 và 2008". (Như trên)

"Nhưng ông Hoàng Hữu Đản không chỉ lập được kì tích trong lĩnh vực dịch thuật, ông còn là một tác gia văn học đích thực... Đã lâu rồi tôi mới lại được thấy hình ảnh một đại thụ trong làng văn học. "Bí mật vườn Lệ Chi" của ông được viết từ năm 1962 là một vở kịch bi tráng và đỉnh cao - thậm chí có thể so sánh với kịch của Shakespeare, Racine, Corneille - đã nhắm thẳng vào những vấn đề trọng yếu nhất của môn lịch sử... Vở kịch đã ngay lập tức đi vào lòng quảng đại nhân dân từ lần công diễn thứ nhất tại sân khấu Idécaf (Sài Gòn) trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2002 với 50 buổi diễn không sót vé. Gần như cả thành phố đã đổ xô đi xem vở kịch lịch sử đầy ý nghĩa và đầy xúc động ấy... nhưng đến năm 2007, vở kịch lại được phép tái xuất giang hồ với 160 buổi diễn không sót vé! Hiện tượng sôi động với vở kịch của Hoàng Hữu Đản lại diễn ra hệt như bốn năm về trước". (như trên)

Như thế, chỉ riêng vở kịch "Bí mật vườn Lệ Chi" đã đưa anh lên đài danh vọng rồi.

2... Là nhờ gốc gác Phan sinh

Tất cả tài năng văn chương, kịch nghệ và dịch thuật của anh Đản đều phát sinh từ một lò mà anh Đản đã trau dồi kinh sử thời học cấp 2 và 3. Lò ấy, theo danh chính ngôn thuận, là Chủng viện Ái Thần ở Thanh Hóa. Và anh Đản luôn tự hào khi nhắc đến ngôi trường mình đã học, rèn luyện nhân cách và đạo đức của người Công giáo. Khi anh tự hào về ngôi trường xưa là anh đã nhớ ơn trường, nhớ ơn các cha thầy đã từng dạy anh ở ngôi trường Ái Thần ấy. Chính vì thế, hầu hết các bài viết trên mạng Internet về anh Đản đều trân trọng nhắc đến ngôi trường của Dòng Phanxicô ở Thanh Hóa, như là lời cám ơn trường xưa thay cho anh, mặc dầu tên trường không được gọi một cách chính xác. Một bài còn cho biết tên thánh của anh nữa: Giuse Maria Đản. Xin mời đọc:

"Thuở nhỏ, ông Hoàng Hữu Đản học trường Dòng, ông theo Kitô giáo, dòng Francesco, tên thánh của ông là Jose Maria (Hoàng Quốc Hải, Tháng năm tắt lụi, nợ nần không vương)

"Ông Olivier Page, một trí thức Pháp vì ngưỡng mộ ông, nói : "Trong con người ông có một khía cạnh tu sĩ franciscain, một người yêu nước sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh để đạt tới điểm cao của văn chương và dịch thuật, sẵn sàng chấp nhận cuộc ẩn mình trong bóng tối và trong quên lãng... Ông Đản chưa bao giờ là đảng viên cộng sản mà chỉ là người trí thức yêu nước. Ông đã trải qua nhiều biến cố lịch sử, qua hai cuộc chiến tranh, giống như một nhà tu hành khổ hạnh biết yêu đất nước non sông mình, quan tâm tới ngòi bút hơn đạn bom... Ông là một tu sĩ Franciscain yêu nước, xuất thân từ đồng ruộng và truyền thống ngàn đời của Việt Nam, một kẻ khiêm tốn đã làm nên những sự nghiệp lớn trong đời mình bằng cách chiến đấu cho tổ quốc và văn chương".(Kiều Văn, Hoàng Hữu Đản, nhà văn hóa tầm vóc quốc tế)

"Ông là người vốn có tư chất thông minh, từ 12 đến 18 tuổi lại may mắn được thụ học từ những bậc thầy uyên bác người Pháp trong một trường Gia Tô Giáo về nền văn hoá Phương Tây, về tiếng Pháp và tiếng Latin". (Kiều Văn, Nhà văn lão thành Hoàng Hữu Đản vĩnh biệt chúng ta)

"Mãi sau này tôi mới hiểu: ông Hoàng Hữu Đản mang bản chất một đệ tử của Jésus, từng được đào tạo chu đáo trong một ngôi trường Dòng của đạo Chúa, và ông sống trên đời với tấm lòng sẵn sàng hi sinh vì đồng loại". (Kiều Văn, Hoàng Hữu Đản, nhà văn hóa tầm vóc quốc tế)

"Được học ở một ngôi trường dòng nề nếp tại Thanh Hóa và sau đó thi đậu tú tài mà anh thanh niên Hoàng Hữu Đản trở thành "ông phán" tại tòa sứ Pháp".(như trên)

"Năm 1930 ông theo học trường trung học Collège de Francisca, Thanh Hóa. Ông học Tiếng Pháp và Tiếng Anh ở đây. Sau đó ông còn học hai ngôn ngữ cổ là Tiếng Hi Lạp và Latin. Tốt nghiệp tú tài, ông làm thư ký toà sứ". (Wikipedia)

"Học Collège de Francisca, Thanh Hoá. Làm chủ tiếng Pháp, Anh và cổ ngữ Hy Lạp, Latin, ông Đản cho rằng dịch là sống và sáng tạo lại tác phẩm". (Nguyễn Vĩnh Nguyên, Hoàng Hữu Đản, Những trang viết nửa đêm về sáng)

"Khi 12 tuổi, ông vào học trường trung học do các cha thuộc dòng Franciscains tổ chức ở Thanh Hoá. Tại đây, ông được làm quen với ngôn ngữ Latinh, Hi Lạp, Pháp. Ông say mê những nền văn hoá mới mẻ này". (Hoàng Bích Nga, Lực sĩ marathon văn học)

"Vào những năm 1930, ông học ở trường trung học Collège de Francisca, Thanh Hóa. Tiếp xúc với tiếng Pháp từ lớp Đồng ấu, lên trung học, bên cạnh tiếng Pháp - Anh, ông còn được học hai thứ cổ ngữ là: Hy Lạp và Latin. Ông học ngoại ngữ với niềm say mê đặc biệt và chính chúng là cầu nối giúp ông đến với văn chương cổ điển thế giới. Ngay từ những năm 16-17 tuổi, Hoàng Hữu Đản đã nuôi ý định sau này sẽ dịch sang tiếng Việt những tác phẩm kinh điển của thế giới mà mình có cơ hội cảm thụ từ nguyên tác như: Iliade và Odysée của Homère, các tác phẩm của Aristophane... Tốt nghiệp tú tài, vì hoàn cảnh gia đình, ông đi làm thư ký tòa sứ". (Anh Vân, Hoàng Hữu Đản nặng lòng với văn học Pháp).

Đặc biệt, anh chỉ học tiếng Pháp ở trường Ái Thần mà thôi, và đỗ tú tài Pháp ở đây, thế mà anh nói tiếng Pháp với giọng Parisien chuẩn và hay, đến nỗi người Pháp cũng cảm phục. Điều này tôi nghĩ là đúng thôi, bởi vì hầu hết các cha Phanxicô người Pháp là thuộc Tỉnh Dòng Paris, nên nói chuẩn giọng Parisien, và truyền giọng ấy cho học trò của mình nữa. Xin đọc một lời khen về giọng Parisien của anh Đản:

"Những GS Pháp khi tiếp xúc với Hoàng Hữu Đản rất ấn tượng trước giọng Pháp "rặt" Paris của ông. Không ít người quả quyết: "Ông Đản phải sống ở Paris ít nhất là 40 năm". Nhưng thực ra đó là lần đầu tiên ông có dịp đến thăm nước Pháp". (Như trên)

3. Tiểu sử

Hoàng Hữu Đản (1922-2012)-Nhà văn, dịch giả Việt Nam (trong Wikipedia) Hoàng Hữu Đản sinh ngày 3-4-1922 tại Quảng Ninh, Quảng Trạch, Quảng Bình[1]. Năm 1935, ông theo học trường trung học Collège de Francisca, Thanh Hóa[2]. Ông học Tiếng Pháp và Tiếng Anh ở đây. Sau đó ông còn học hai ngôn ngữ cổ là Tiếng Hi Lạp và Latinh. Tốt nghiệp tú tài, ông làm thư ký toà sứ. Trong những năm chiến tranh, ông làm chủ bút tờ báo Công Lý của Mặt trận liên Việt, làm cán bộ giảng dạy tiếng Pháp, tiếng Việt, văn học tại các trường ở Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh... Năm 1954, ông chuyển về hẳn trường cấp 3 Ngô Sĩ Liên, Bắc Giang dạy Văn, Sử Địa ở đây cho đến khi trường sơ tán. Từ đó cho đến cuối đời ông tập trung cho sự nghiệp nghiên cứu, sáng tác và dịch tác phẩm văn học từ Tiếng Pháp sang Tiếng Việt và ngược lại. Ông qua đời vào lúc 1g20 ngày 26-3-2012 ở TP.HCM.

Tác phẩm

Kịch:[3]
• Bí mật vườn Lệ Chi
• Người con gái Nguyễn Du
• Gặp gỡ tất yếu
• Mất mát và đền bù
• Đứa con hư

Dịch văn học Pháp sang Tiếng Việt:

• Trường ca của Homère (Iliade và Odyssée)
• Những bi kịch của Eschyle, Sophocle, Euripide
• Hài kịch của Aristophane
• Những tác phẩm sử học của Herodote, Thucydide, Xenophon
Thành công nhất là vở kịch thơ Le Cid (1960).

Dịch văn học Việt sang Pháp:
• Tập thơ song ngữ Ánh trăng (tuyển thơ Việt Nam của nhiều tác giả)
• Quà muộn (tập truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hương)
• Thi Vân Yên Tử (tập thơ của Hoàng Quang Thuận)
• Lỡ bước sang ngang (thơ Nguyễn Bính)
• Thơ điên Hàn Mặc Tử

Về văn học cho thiếu nhi: Truyện kể của Maurice Carème: Truyện kể cho Caprine, Vương quốc các loài hoa, Cái dải mũ của Pompadour, Hòn bi thủy tinh. Dịch văn học Việt sang Tiếng Anh:
• Nổi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)
Bên cạnh đó ông còn viết các chuyên luận về sân khấu, bút ký và sáng tác thơ

Giải thưởng
Ông được trao Huân chương Cành cọ Hàn lâm hạng nhì của Pháp vào 24 tháng 03 năm 2008[4], hạng ba vào năm 2000[5].

Nhận định

Ông Olivier Page, một trí thức Pháp, nhận xét[5]: "Ông là một tu sĩ Franciscain yêu nước, xuất thân từ đồng ruộng và truyền thống ngàn đời của Việt Nam, một kẻ khiêm tốn đã làm nên những sự nghiệp lớn trong đời mình bằng cách chiến đấu cho tổ quốc và văn chương; ông là một nghệ sĩ đã đọc Homère sau khi say đắm Athéna, vị nữ thần có đôi mắt biếc xanh của lá cây ôliu..."

Liên kết ngoài

• Tùng và Phong Lan Blog-Blog của Hoàng Hữu Đản
Tham khảo
1. "Vĩnh biệt nhà văn - dịch giả Hoàng Hữu Đản". Nhà Văn TP.HCM. Truy cập 27 tháng 3 năm 2012.
2. "Hoàng Hữu Đản nặng lòng với văn học Pháp". VNE. Truy cập 27 tháng 3 năm 2012.
3. "Hoàng Hữu Đản: Phải công bằng với lịch sử". NLDO. Truy cập 27 tháng 3 năm 2012.
4. "Dịch giả Hoàng Hữu Đản nhận Huân chương Cành cọ Hàn lâm hạng nhì của Pháp". SGGPO. Truy cập 27 tháng 3 năm 2012.
5. "Hoàng Hữu Đản– Nhà văn hoá tầm vóc quốc tế". NewVietArt. Truy cập 27 tháng 3 năm 2012.

4. ...và thay lời muốn nói

Đầu năm 2000, ông Đản làm một bài thơ bằng tiếng Pháp, như thay lời muốn nói với Chúa mong ước của ông. Chúng ta hiểu ông cố ý làm bài này bằng tiếng Pháp, chứ không tiếng Việt, vì ông muốn diễn tả nỗi lòng đạo đức sâu xa vào cuối đời mình, mà bài thơ bằng tiếng Việt không thể nói hết được, vì nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan. http://hoanghuudan.vnweblogs.com/post/4642/52175

Prière de l'an 2000

Dieu Tout-Puissant! Si tu existes
Exauce notre Prière de Nouvel An:
Trois faveurs, toutes simples et modestes
Mais suffisantes pour tout le genre humain.
- Donne-nous la Paix!
On s'est trop entretué à travers les âges
On s'est trop battu pour de pures vanités
Chacun n'a qu'une vie; ils les ont liées en otages
Pour les mettre au feu, pour les jeter à la mer.
Dieu Tout-Puissant! Nous as-tu créés pour l'amitié?
Nous as-tu créés pour ces carnages?
- Préserve-nous des catastrophes, garantis-nous l'avenir
En opérant un Renouveau Total de la Nature!
On l'a trop exploitée jusqu'au coeur de la terre
Arraché ses entrailles et troué le ciel
Saccagé la vraie vie pour des rêves irréels
Dévasté les forêts, interrompu les sources
Sacrifié l'intérêt de la Communauté et du Peuple
Pour des buts particuliers impurs et criminels.
Bon Dieu! La vie devient triste, les méchants abondent
Le crime s'infiltre dans l'ame même de nos enfants!
Pourquoi laisses-tu, avec les plus beaux progrès du monde
Les plus belles fleurs de l'âme dépérir avec le temps?
- Faites-les revivre! Dieu Tout-Puissant, Dieu Éternel!
La Justice, l'Amitié, l'Amour, la Loyauté sociale!
Préserve-nous de la dégénérescence générale
Qui sera une condamnation mort sans appel!
Dieu Tout-Puissant! Puisque tu as créé l'Homme à ton image
Refais pour lui un Paradis Renaissant
Refais pour lui une Planète sans crime ni carnage
Sans guerre, sans pollution de l'environnement!
Où l'on peut vivre en paix, dans l'Amitié et l'Amour
Travailler et créer sans danger d'aucune sorte
Tous pour chacun et chacun pour les autres
POUR L'AN 2000 et POUR TOUJOURS

1er Janvier l'an 2000..

Cầu Nguyện Cho Năm 2000

Lạy Chúa toàn năng! Nếu có Ngài
Xin nhận lời chúng con cầu nguyện trong năm mới này:
Chỉ ba ơn thôi, rất đơn giản và khiêm hạ
Nhưng đủ cho toàn thể nhân loại.
- Hãy ban cho chúng con Hòa bình!
Người ta bắn chết nhau qua nhiều thời đại
Người ta choảng nhau chỉ vì các hư không mà thôi
Mỗi người chỉ có một cuộc đời; họ bị bắt làm con tin
Để bị quăng vào lửa, hoặc bị ném xuống biển.
Lạy Chúa Toàn Năng! Chúa tạo dựng chúng con vì tình bạn ư?
Hay tạo dựng chúng con vì các cuộc tàn sát ấy?
- Xin gìn giữ chúng con khỏi tai họa, xin bảo đảm tương lai cho chúng con
Bằng một sự Đổi mới Hoàn toàn cho Thiên nhiên.
Người ta khai thác thiên nhiên đến tận lòng Trái đất
Rút ruột Trái đất và đâm thủng bầu trời
Cướp phá sự sống thật vì các mộng mơ hão huyền
Tàn phá núi rừng, ngăn chặn nguồn suối
Hy sinh quyền lợi của Cộng đồng và Người dân
Vì các mục đích riêng tư nhơ nhớp và tội ác.
Lạy Chúa Nhân lành! Cuộc đời thật là buồn chán, quá đông người dữ
Tội ác thấm vào cả trong linh hồn con em chúng con!
Tại sao, với bao tiến bộ đẹp nhất của thế giới
Chúa để cho các bông hoa đẹp nhất của tâm hồn khô héo theo thời gian?
- Xin làm cho chúng sống lại! Lạy Chúa Toàn Năng, lạy Chúa Muôn Đời!
Công bằng, Hữu nghị, Tình yêu, Trung thực Xã hội!
Xin gìn giữ chúng con khỏi sự thoái hóa nói chung
Vốn là sự kết án dứt khoát cho sự chết!
Lạy Chúa toàn năng! Bởi vì Chúa đã tạo ra con người giống hình ảnh Chúa
Xin tạo cho con người một Thiên đàng Tái sinh
Xin tạo cho con người một Hành tinh không tội ác và không tàn sát
Không chiến tranh, không ô nhiễm môi trường!
Nơi con người có thể sống trong hòa bình, hữu nghị và tình yêu
Lao động và sáng tạo mà không hề sợ gì cả
Mọi người vì mình và mình vì mọi người
CHO NĂM 2000 và MÃI MUÔN ĐỜI

Ngày 1 tháng 1 năm 2000

Nguyễn Trọng Đa dịch

Qua bài này, chúng ta thấy ông còn tin Chúa Nhân Từ lắm lắm. Một con người không phải là gốc Công giáo, không sống trong nhà đạo tu trì, thì không thể dùng các từ ngữ như: Lạy Chúa Toàn Năng, Lạy Chúa Nhân Lành, Lạy Chúa Muôn Đời... Ông nói với Chúa trong tư cách một người con ngoan đạo, tuy lười nhác sống đạo. Ông giữ đạo theo cách của ông, vì "Ông Đản chưa bao giờ là đảng viên cộng sản mà chỉ là người trí thức yêu nước. Ông đã trải qua nhiều biến cố lịch sử, qua hai cuộc chiến tranh, giống như một nhà tu hành khổ hạnh biết yêu đất nước non sông mình, quan tâm tới ngòi bút hơn đạn bom". (Kiều Văn, Hoàng Hữu Đản, nhà văn hóa tầm vóc quốc tế)

Ông xác định ông là thuộc về Chúa, về Giáo Hội, sẵn sàng về với Chúa, như có lần ông trả lời một người phỏng vấn ông: "Anh Kiều Văn ạ, ngay bây giờ nếu Thượng Đế gọi tôi thì tôi lập tức đáp "présent!" (Có mặt!). Và nếu các pháp quan định lôi tôi ra pháp đình để xét hỏi thì Thượng Đế sẽ khoát tay mà bảo họ rằng: "Thôi, ta biết rõ về ông này rồi: ông ta chẳng hề có một tội lỗi nào dưới trần gian cả. Các ngươi hãy lập tức mở cổng rước ông ấy vào thẳng Thiên Đàng cho ta!". (Kiều Văn, Hoàng Hữu Đản, nhà văn hóa tầm vóc quốc tế)

Một bài nhắc lại việc ông nhắn nhủ vợ con (vợ 84 tuổi, và 6 con trong đó có một trai), khi ông hấp hối. Ông tuyên xưng mình là người có đạo, chỉ đi về với Chúa trên cao mà thôi: "Trước giờ lâm chung, ông nhìn các con âu yếm và khẽ mấp máy đôi môi với lời nói nhẹ như sương khói : Bây giờ ba phải về với Chúa!... Nhà văn Hoàng Hữu Đản ra đi trong sự tiếc thương của người thân, bạn bè và độc giả. Kính chúc hương hồn ông an lạc trong xứ sở thanh bình của Chúa. (Hoàng Quốc Hải, Tháng năm tắt lụi, nợ nần không vương)

Dựa vào câu này, cha Khởi nói: "Lời cuối cùng Ông nói với con cháu trước khi từ giã cõi đời chứng tỏ Ông vẫn tin vào Chúa. Đó là niềm hy vọng lớn cho Ông, và niềm an ủi cho chúng ta -- có thể cho con cháu của Ông nữa... Hiệp thông cầu nguyện cho Linh Hồn Cựu PS Hoàng Hữu Đản" (Điện thư của cha Khởi 31-3-2012)

Tôi và anh em chắc cũng nghĩ như cha Khởi. Có lẽ ông là CPS cao tuổi nhất, là một đại đại huynh cuối cùng của CPS mới qua đời. Chúng ta cùng hiệp thông cầu xin Chúa sớm tha phần phạt cho linh hồn Giuse Maria Đản, và đưa ông lên hưởng Nhan Thánh Chúa trên Thiên đàng.

Anh em CPS thế hệ đàn em chúng tôi không có hân hạnh được gặp ông và quen ông. Đấy là điều chúng tôi tiếc vô cùng, vì lý do khách quan. Xin ông thứ lỗi cho anh em hậu sinh, những người học trường Ái Thần như ông, nhưng là thế hệ đàn em nhỏ sau ông khá xa. Chúng tôi hãnh diện về ông, một CPS lỗi lạc, làm rạng danh cho đất nước, con người, và cả gia đình Phanxicô Việt Nam nữa.


Saturday, 07 April 2012 14:17
______________________________

NGUYỄN TRỌNG ĐA


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 22.06.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com