Hà Nội- Làng và Phố








Quý bạn đang nghe Liên Khúc Hà Nội


Hà Nội những năm 1990- thế kỷ XX, Lady Borton, nữ nhà văn Mỹ sống thân thiện với từng người dân, từng góc phố, con đường, hàng cây, hương thơm và màu nắng, màu mưa Hà Nội… Bà thường mặc áo dài, đi xe đạp len lỏi trong các phố có tên hàng hóa: Hàng Cháo, Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng Gai, Hàng Bông… Trong cuốn sách Tiếp sau nỗi buồn ( NXB Thế Giới- 1997) bà đã dành trọn tập III để viết về Hà Nội với tiêu đề Hà Nội, ngôi làng lớn nhất Việt Nam.

Người đọc Việt Nam, không ai phản đối bà, dù nhiều người rất tự hào rằng Hà Nội là Thành phố, Thủ đô, đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ, đất Thánh, là Hà Nội nghìn năm văn hiến, Hà Nội băm sáu phố phường, Hà Nội linh thiêng hào hoa… Lady đã nhìn Hà Nội như thế nào để bảo nó là một ngôi làng lớn?

Bà nhìn hình ảnh ngôi làng từ chiếc cầu Long Biên, nhịp cầu cong như những đường viền ren do người Pháp sáng tạo, mềm mại bắc qua sông Hồng, khi bà bị nghẽn giao thông. Nhìn dòng nước sông Hồng cuộn đỏ phù sa, quặn mình tìm đường ra biển lớn, hai bên bờ sông dưới cầu Long Biên xanh rờn bắp cải và rau, những người đàn bà đội nón, áo vải nâu nhạt, chiếc quần rộng, lúi húi bên sông hái rau, gánh đất, xa xa cánh đồng lúa trải màu xanh đến chân trời… Rồi những ngày sống cùng Hà Nội, với bánh mỳ và trà, với cảnh người, xe ô tô, máy kéo, xe đạp, xe bò lố nhố, tàu hỏa ầm ầm lao qua, rúc còi inh ỏi, mạng điện rối loạn, nhà xây dựng mới vô tổ chức… Lady đã tìm ra một khoảng lặng thanh bình của ngôi làng những sớm tinh sương từ những người hàng xóm thân thương: những tiếng rao bán bánh mỳ, cháo, phở, xôi, chè, bánh đúc, bánh đa kê, bánh giò, bánh giầy, bánh cuốn, bánh mật, bánh nếp, bánh rán, bún chả, bún ốc, bún thang, bún bung, bún riêu cua… Âm điệu của tiếng rao mềm mỏng, kéo dài, thanh thấp, thanh cao, lên trầm xuống bổng, gợi cảm đến nao lòng; những lời chào, thăm hỏi, lời cảm ơn, nhắn gửi, tiếng gọi nhỏ nhẹ bên hàng cây, góc phố; quả cầu chuyền nhau trong công viên xanh, xen lẫn tiếng thầm thì kể chuyện gia đình thương đau vì bom Mỹ cùng tiếng nói sẻ chia; lời chào tạm biệt lúc chia tay nhẹ nhàng như lá rụng mùa thu…

Những người khách phương Tây đến Hà Nội dù chỉ dăm ba ngày cũng ngạc nhiên về nét thanh bình, tĩnh lặng, nên thơ của một ngôi làng xa xưa như cổ tích bên những con đường ven hồ, ngõ nhỏ, phố nhỏ, hàng cây lặng lẽ giao nhau, thâm u, trầm mặc …

Và những bạn trẻ Hà Nội sinh sau chiến tranh (1975) dù đang hối hả hay mộng mị giữa một “ thế giới mới” ồn ã ngược dòng Hà Nội, vẫn thảng thốt ngoái lại “sau lưng thềm nắng, lá rơi đầy” để kiếm tìm cái dịu dàng của Hà Nội.

Nó hiện ra trong Phố xinh- Làng xinh (NXB Hội Nhà văn- 2005) do hai chị em Nguyễn Thanh Bình viết. Chị viết về Làng xinh, gửi em trai sống ở Phố xinh mà nhớ làng da diết. Em viết Phố xinh gửi Làng xinh bởi phố và làng giao thoa trên đất Hà Thành gây ra những “ám ảnh phố” và “ám ảnh làng” trong tâm hồn người Hà Nội.

Phố xinh bốn mùa dâng nét dịu dàng Hà Nội. Những câu văn đi trong giai điệu mùa Xuân dịu nhẹ như làn mưa bụi bay của Bình dẫn ta về cùng đất trời Hà Nội vào Xuân với thế giới “cây xanh Hà Nội có nhiều vẻ rất lạ”. Hoa Sữa đường Nguyễn Du, Trần Hưng Đạo buông mành khoe quả. Phượng khẳng khiu đường Lý Thường Kiệt chờ Hạ về bật màu đỏ chia tay. Hàng sấu già đường Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng vẫn nguyên vẹn xanh với tháng ngày. Sanh và si tươi màu xanh nghìn tuổi, bền bỉ thả rễ chùm mượt mà xuống đường Tràng Thi, Lý Thái Tổ, Thiền Quang, làm cho Hồ Hoàn Kiếm đã xanh lại càng thêm xanh biếc. Bằng lăng trơ những chùm quả xám mà màu hoa tím vẫn đợi chờ. Bàng qua Đông rụng lá, thân cành xám xịt, đang âm thầm nhú mầm xanh, lộc biếc… Và các loài hoa Xuân từ khắp làng quê đổ về phố phường khoe sắc hay sưởi ấm hồn ai những đêm mưa phùn gió bấc. Đẹp hơn cả là “ những thiếu nữ Hà Nội tuổi trăng tròn với chiếc áo dài nữ sinh duyên dáng ùa ra khỏi cổng ríu ran nói cười và tạo thành một vùng trắng huyền ảo” mà Bình gọi là những “ám ảnh phố”, rung động biết bao thế hệ con trai Hà Nội.

Bình có biết vì sao thiếu nữ Hà Thành lại có vẻ đẹp “ám ảnh phố” không? Bởi vì từ khi còn nằm trong bụng mẹ, các cô đã được ướp hương thơm hoa lá, tinh cất hồn Thăng Long- Kẻ Chợ.

Hà Nội mùa Hè, nét dịu dàng đuổi theo Bình là sắc tím bằng lăng. Ai đã chọn cây bằng lăng đưa về phố để bao thế hệ người Hà Nội ngẩn ngơ yêu? Bằng lăng tím trên cành lá xanh, rơi xuống đất rồi, hoa tím bằng lăng còn quấn quýt tím bước chân ai, tím cùng ngọn cỏ, hòn đá rêu phong bên đường…

Mùa Thu Hà Nội- mùa quả chín bốn phương tụ về. Bình nhớ làng quê, nhớ tuổi thơ, nhớ mẹ, nhớ bà, nhớ cha… thấm ngọt bên chùm nhãn, hay trái vú sữa, quả dưa hấu mát lành. Nỗi nhớ dịu dàng như trái chín ngọt thơm của chàng trai yêu Hà Nội, thăng hoa thành nét dịu dàng Hà Nội.

Mùa Đông Hà Nội, Bình nâng nui giọt nắng. “ Nắng xiên xiên, chênh chếch vào những tán sấu trên đường Trần Hưng Đạo”. Những khoảnh khắc im lặng trưa mùa Đông, nhìn lên bầu trời nhặt nắng Bình vẽ màu trời Đông Hà Nội”Những đám mây trắng xốp như bông. Nắng trong vắt như pha lê. Màu nắng ấy tãi đều trên các ngọn cây. Nắng làm lung linh khúc sông trong vườn Bách Thảo”. Và Hồ Gươm tối mùa Đông, hơi nước hồ len lỏi làm mềm không khí hanh hao khô lạnh, dắt nam thanh nữ tú vào ảo vọng tình yêu, trào dâng giấc mơ hoa.

Người con trai Hà Nội thế kỷ XXI đi tìm nét dịu dàng Hà Nội qua những hàng cây nghiêng gió, những thung lũng bằng lăng, những màu hoa muôn sắc, chùm nhãn đầu mùa, quả bưởi, quả hồng thơm hương , những bắp ngô, củ khoai nướng, bánh đúc, bánh đa… hiền hòa, chân chất nơi Phố xinh, chính là “ám ảnh làng” chập chờn ẩn hiện trong từng thời khắc, từng ánh nhìn, từng cảm xúc tinh tế lướt qua…

“Ám ảnh làng” trào dâng thao thiết khi người Hà Nội nâng trái ngọt trên bàn tay nhỏ đi trong phố. Hồng Vân dẫn ta về thăm Bưởi vườn nhà ngoại vấn vít hương thơm. Bưởi thơm hoa, thơm lá, thơm vỏ vàng quả chín, vỏ xanh trái non… Thơm thanh cao, quyến rũ, ngát thơm tình mẹ, tình bà bên nồi nước thơm lá bưởi, hương nhu, bồ kết gội đầu, ướp hương vào tóc, theo ta đến tận cùng kiếp sống trầm luân.

“Ám ảnh làng” đọng lại trên môi khi ta nhấm nháp các thứ quà Hà Nội. Quà quê đấy. Chè lam ở quê Vân nổi tiếng nhiều đời. Chè lam từ Làng xinh ra Phố xinh còn vang âm tiếng chày giã bỏng nếp rang của những người đàn bà chân đất giữa đêm khuya. Kể làm sao hết bao nhiêu vị ngọt, chua, cay, mặn, đắng, chát, bùi, béo… của các thứ quà quê trên Phố xinh cho hồn người xao động “ám ảnh làng”.

“Ám ảnh làng” xao động trái tim tôi mỗi khi gặp cây Gạo cổ thụ, gốc xù xì, lồi lõm, rễ cứng như đá màu nâu đen bóng, chồi, lên chụt xuống, trụ vững cùng bão gío, mà dáng vẻ vẫn ung dung tự tại như “ông lão làng chài” ngự bên Hồ Gươm, xây nên “một cảnh trời”. Tháng ba, bạn ngồi dưới gốc cây Gạo ngắm sóng biếc Hồ Gươm lung linh màu đỏ hoa Gạo tan cùng sóng, mà mơ về Làng xinh, thấy làng hiện ra ở đất Thăng Long- Hà Nội gần gũi, thân thương hơn bất kỳ nơi nào trên đất Việt Nam có phố. Đường phố Huế, Sài Gòn, Nha Trang, hay Hải Phòng Nam Định có cây Gạo nào in bóng làng Việt cổ như cụ Gạo Hồ Gươm không nhỉ?

Những “ ám ảnh phố”- “ám ảnh làng” thoắt ẩn, thoắt hiện truyền suốt thời gian, không gian, truyền kiếp này sang kiếp khác, để chúng ta mãi mãi còn một tâm hồn Người Hà Nội.

Người ta hỏi nhau: “ Cái tố chất gì xây nên sức sống nghìn năm của Thăng Long- Hà Nội? ”. Chẳng có tố chất gì cao siêu, kênh kiệu lắm đâu. Chúng ta có thể nói rằng Thăng Long- Hà Nội làng và phố đan quyện không thể tách rời. Hà Nội cổ là một ngôi làng chài thờ thần Long Đỗ. Thế kỷ XI, năm 1010, vua Lý Công Uẩn định đô, làng dần dà trở nên đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ, thu hút người tài hoa khắp làng quê đất Việt lên Thăng Long lập phường làm ăn, buôn bán, xây nên phố. Cùng với sự xuất hiện của chữ Hán, các khoa thi mở ra, ông lão làng chài cùng các lão nông từ các làng xa xôi lên, đi học, đi thi đỗ đạt cao, làm quan, sinh ra đàn con cháu Nho học và quan lại, xây nên đất Kinh kỳ. Người Thăng Long- Hà Nội gốc, hay gốc của chúng ta là làng quê, bởi chúng ta là con cháu ông lão làng chài và các lão nông sống trong các làng đất Việt. Mà đất Việt là cả một cánh đồng lúa nước mênh mông. Từ tiền sử đến giờ, vẫn là cánh đồng lúa nước mênh mông ấy. Những con người được nuôi dưỡng từ đồng lúa, dòng sông, đầm nước, bãi bờ, được học hành, được giao thương, trên mảnh đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ, ngày càng tinh tế hơn trong cách suy tư, luận triết, cách trồng cấy, làm đẹp sản phẩm, cách ăn mặc, nấu ăn, giao đãi, tiếp xúc, trao lời… Đó là cuộc hành trình tiến hóa của ông lão làng chài xuyên suốt nghìn năm trên đất Thăng Long- Hà Nội. Không ngưng nghỉ.

Sự sống tinh tế trong hành trình tiến hóa ấy được chưng cất nhiều đời kết lại thành Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội, truyền mãi mãi. Tinh hoa văn hóa ấy chẳng có gì kỳ bí, chỉ là cuộc sống hằng ngày của dân Kinh kỳ- Kẻ Chợ được tinh cất. Cái tinh hoa ấy chìm ẩn rất sâu dưới nhịp đời dâu bể cuồn cuộn bão giông. Và vẫn còn đó, một thế giới vô hình của thần Hoàng làng chài Long Đỗ cùng linh hồn ông lão làng chài và các lão nông luôn tồn tại cùng Thăng Long- Hà Nội. Cõi tâm linh ấy khôn nguôi nhớ đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ mà tìm về bên đàn con, lũ cháu, gây nên những “ám ảnh phố”- “ám ảnh làng”, nâng bước chân ta mải miết đi tìm. Mỗi người một vẻ, một kiếm tìm, mỗi người một tình yêu, nỗi nhớ, niềm đau… sẽ làm sống lại một Thăng Long- Hà Nội nghìn năm tuổi trong thao thức “ám ảnh phố”- “ám ảnh làng”.



___________________________________________




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 22.06.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com