Thần Long Đỗ







Đời Đường. Cao Biền sang nước ta, chiếm phủ xưng vương, đắp Thành Đại La. Cao Biền là người giỏi phong thuỷ ở Trung Quốc. Cao Biền đã dùng thuật phong thuỷ để trấn yểm non sông thuỷ tú của Việt Nam. Sử sách Trung Quốc còn ghi.

Việc trấn yểm, chính Cao Biền đã viết thành sách. Cao Biền dâng công cho vua Đường Trung Tông bằng tội ác trấn yểm long mạch Việt Nam. Các vùng đất nước ta ngày nay còn tang thương dấu tích Cao Biền trấn yểm. Nhưng Cao Biền run sợ trước Thần Long Đỗ- Thần Hoàng Làng Hà Nội cổ.

Năm 1010. Hà Nội cổ trở thành kinh đô Thăng Long. Vua Lý Công Uẩn phong Thần Long Đỗ là Thần Hoàng Kinh Thành Thăng Long.

Thế kỷ XXI. Con cháu Tiên Rồng thức dậy, rung nhạc Trống Đồng Hỏi Cao Biền.

Hỏi Cao Biền

Ông ở nơi nao, làm An Nam đô sứ
Tìm thuỷ tú sơn kỳ, diệt Long Mạch lớn
Cắt địa linh nước Nam, như Tần Thuỷ Hoàng
Mắt cú vọ khắp miền, tầm Long điểm huyệt
Choáng váng trước lưu tụ khí núi sông
Viết sách tấu vua Đường, thâm độc trấn thông
Phá Đất phát vương tôn, thần đồng, tiến sĩ…
Tội ác thành tấu ca, đổi chức, dâng công

Quí Địa hoa nở bên Bạch Hổ, sao hiện
Khí sung mãn, người, vật hoà, văn võ mạnh
Ông liền dùng cốt yểm, chặn Long Mạch tận
Mả Cao Biền còn lù lù đồng Đất Việt
Sách ghi hàng nghìn huyệt, chướng nghẹn non xanh
Thanh Oai, Cao Xá, Hà Nam, Sơn Tây, Vĩnh Yên
Hải Dương, sông Tô Lịch, Gia Lâm, Bắc Ninh
Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình…
Vào tận Phú Yên, Phú Mỹ, Phù Cát, Bình Định

Chiến công ông là tội ác dày đặc Đất Trời
Đời ông, quả báo nhãn tiền, bị quân giết
Chính bởi thuật phong thuỷ mà ông bày trận
Cấp dưới cuốn ông ma thuật, khi về Bắc
Ông là nạn nhân chết đứng dưới pháp thuật!
Ông chẳng cao tay, đã ngửa cổ khóc than:
“Linh khí phương Nam, tràn ngập không thể lường
Ôi! Vượng khí nước này đời nào hết được!”


Linh thiêng mấy nghìn năm, ông thấy đầy linh khí
Đời nối đời, hào kiệt linh hiển sinh sôi
Giữ Đất Nam hùng cường, vạn lý trường chinh
Nay Thần Trống Đồng Tâm Linh Việt sáng bừng
Vượng khí Rồng Tiên cùng cháu con giải huyệt
Linh khí nước Nam “Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Dũng”
Sóng cồn vang dậy: nhà, đồng, biển, núi, sông…
Việt Nam trường tồn xanh Vượng Khí Tổ Tông
Hịch Vua Bà Lĩnh Nam bừng sáng ruộng đồng
Những câu hỏi xoáy vào dòng chảy không gian
Đời nọ nối đời kia, tràn hùng khí: - Hỏi Cao Biền.

Người Việt muôn đời Hỏi Cao Biền?

Cao Biền là ai?

- Cao Biền là ai? Hỡi Cao Biền? Sao ngươi dám động đến núi sông thiêng liêng của Đấng Sáng Tạo Tối Cao? Ngươi đã bị trừng trị và chết chẳng được yên. Hỡi Cao Biền?

Các nhà nghiên cứu Nguồn gốc dân tộc Việt và Nền văn minh Việt cổ kể:

- Cao Biền (821- 887). Năm 866 Cao Biền sang cai quản Giao Châu đến 875. Vua Đường Trung Tông giao Cao Biền giỏi phong thuỷ, trấn yểm các Long Mạch Lớn của nước Nam (như ngày xưa Tần Thuỷ Hoàng đã sai người đục núi Ngũ Lĩnh phương Nam, biên giới nước Nam, yểm cốt, cắt đứt địa mạch của nước Nam).

Năm 1980 sau khi nghiên cứu cổ sử, và huyền thoại Việt tộc, GS- Bác sĩ Trần Đại Sỹ (Trường Y khoa Arma- Paris, Giám đốc Trung Quốc sự vụ Viện Pháp- Á) đã đi thăm núi Ngũ Lĩnh và Hồ Động Đình ông kết luận: “Quả có núi Ngũ Lĩnh phân chia phía Nam thuộc nước Nam- phía Bắc thuộc Trung Quốc…”

Đường phân chia phía Nam núi Ngũ Lĩnh là biên giới của Việt tộc cổ. Từ phía Nam núi Ngũ Lĩnh trở về đất Giao Châu là đất nước của người Việt cổ.

Theo sách phong thuỷ Trung Quốc cổ đại, ngay từ đời Tần Thuỷ Hoàng, vua cho rằng phương Nam núi Ngũ Lĩnh, biên giới giữa Việt tộc và Trung Hoa có cát khí đế vương, nên đã sai người đục núi Ngũ Lĩnh yểm cốt, cắt đứt địa mạch của đất nước Nam.

Cao Biền tên Trung Quốc gọi là Thiên Lý, người vùng Bột Hải (Mãn Châu) di cư đến U Châu, vốn là cháu nội Cao Sùng Văn, danh tướng thời Đường Hiến Tông Lý Thuấn. Cao Biền từ nhỏ chăm học, ngoài kinh, truyện, sử, còn học thiên văn, địa lý. Lớn lên, Biền văn võ toàn tài, làm chức Thị Lang, được vua Đường phong “Chinh Nam tướng quân” sang cai trị Giao Châu, làm An Nam Tiết Độ Sứ.

Biết Cao Biền giỏi khoa địa lý, phong thuỷ, nên trước đi sang nước ta nhận chức, vua Đường Trung Tông đòi Biền vào triều, uỷ thác sứ mệnh cho Cao Biền phải tìm các nơi thuỷ tú sơn kỳ trên đất nước ta, nơi nào có long mạch lớn, có huyệt kết tốt thì phải yểm phá và lập bản tấu thư về cho vua Đường biết.

Sang nước ta dẹp giặc Nam Chiếu xong, Cao Biền dùng hầu hết thời gian đi khắp nơi để tầm long, điểm huyệt.

Chính Cao Biền cũng không ngờ một đất nước nhỏ như nước ta lại có nhiều Long Mạch lưu tụ và khí thế sông núi ưu tú đến như vậy.

Cao Biền không viết bản tấu thư ngắn như vua Đường dặn, mà viết hẳn một cuốn sách mang tên “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự” gửi về Trung Quốc tấu trình vua Đường Trung Tông.

Nắm được các vùng địa lý, các long mạch trên đất nước ta, Cao Biền tìm cách trấn yểm thâm độc. Phá huỷ những long mạch lớn, những nơi Cao Biền cho rằng khí đất nước tụ hội phong lưu, cây cối tốt tươi, vạn vật sinh sôi nảy nở, sinh ra những con người khoẻ mạnh, tài năng, anh hùng, bất khuất.

Khí thiêng toả rạng. Người Việt Nam ngày nay có trong tay sách “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự” .

Một quí nhân người Việt đã trích dịch nguyên chữ Hán trong sách này:

“Giao Châu đô Hộ Sứ, thần Cao Biền cẩn tấu vi bản châu địa mạch thế hình thế sự, thần hạnh phát du sinh thao tỵ hà nhũng, thượng tự thâm sơn, hạ chi đại hải, ngưỡng quan phủ sát, phát tận chân cơ, ký tự thiên hữu, cảm bất khánh kiệt sở kiến văn, thượng tự tự đế vương, vương công, công hầu, vương phi, thứ thần đồng, tú tài, vị chi thị phủ, phục khuất phủ lãm giảo quan chi khí, kiến văn cụ lục”.

Đệ nhất Thanh Oai Phong :

            Ấp trung Thanh Uy, hình thế tối kỳ
            Thuỷ lưu tứ vượng, án khởi tam qui
            Mạch tòng hữu kết, khí định tả y
            Thần đồng tiền lập, quỉ xứ hậu tỳ
           Khôi khoa tảo chiếm, phúc lộc vĩnh tuy
           Tu phong mạch tận, thừa tự vô nhi


Đệ nhị Cao Xá Phong :

            Thanh Oai Cao Xá, chân vi quí long
            Thuỷ khuê tuỳ mạch, bình dương lai tung
            Hoa khai hữu hổ, tinh hiện tả long
            Sơn thuỷ trù mật, khí thế sung giong
            Hà tu hợp hải, ngưu giác loan cung
            Chủ khách hoàn mỹ, tả hữu vô tong
            Hoa tâm khả hạ, thế xuất anh hùng
            Văn khôi khoa giáp, võ tổng binh nhung
            Phú quí thọ khảo, kiêm hữu kỳ công.
            …”

Dịch:

Giao Châu Đô Hộ Sứ, thần Cao Biền kính cẩn tâu:
Bản châu địa thế như vầy, thần nguyện đem hết kiếp sống thừa, từ tận núi cao ra đến biển cả khảo nghiệm để biết các cuộc đất phát lớn từ vương tôn công hầu đến thần đồng, tú tài, khoa đệ, giàu sang phú quí mọi thứ… làm bản tấu ca dâng lên tường tận.

Thứ nhất Đất Thanh Oai :

            Trong ấp Thanh Oai hình thế rất lạ
           Thuỷ vượng bốn phương, án phát tam qui
           Mạch kết bên hữu, khí dựng phía tả
            Thần đồng đứng trước, quỉ sứ nối sau
           Bảng vàng sớm chiếm, phúc lộc dồi dào
            Nên phòng mạch tận, không con nối dòng.

Thứ hai Đất Cao Xá :

            Thanh Oai Cao Xá thật có quí địa
            Nước khe theo mạch, về nơi đất bằng
            Hoa nở bên Bạch Hổ, sao hiện bên Thanh Long
            Sơn thuỷ dồi dào, khí thế sung mãn
            Cần gì hợp biểu, ngưu giác loan cung
            Chủ khách đều tốt, tả hữu một lòng
            Lòng hoa rộng mở, thế phát anh hùng
            Văn chiếm đầu bảng, võ chiếm nguyên nhung
            Sống lâu phú quí lập nhiều kỳ công.

Trong quyển Tấu thư địa lý kiểu tự Cao Biền ghi tất cả là sáu trăm ba mươi hai huyệt chính và một nghìn năm trăm mười bảy huyệt bàng (tức huyệt nhỏ tròn) trên hầu hết các tỉnh của nước ta, đến Phú Yên, Bình Định…

Trong sách Thiên hạ quân quốc lợi lệnh thư của Trung Quốc dẫn lời Cao Biền: “Câu Lâu (tức là vùng Thạch Thất hiện nay) chi sơn, huyệt tại trong cống, thần dĩ tác lụi, dĩ yểm chi” nghĩa là “Câu lâu có núi, ở giữa núi có huyệt, thần đã làm miếu yểm ở đây”.

Sách ghi không sai. Tội ác trấn yểm tại vùng Thạch Thất của Cao Biền ngày nay đã lộ diện, khi sức mạnh tâm linh Việt Nam bừng sáng, khuấy lên tiếng kêu tuyệt vọng của Cao Biền: “Linh khí phương Nam, tràn ngập không thể lường. Ôi! Vượng khí nước này không thể nào hết được”.

Thăng Long- Hà Nội đầu thế kỷ XXI.

Ngày 10- 8- 2011. Các đoàn nghiên cứu khảo cổ, ngoại cảm và tâm linh của Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Thanh Hoá cầu siêu tại Miếu Sơn Thần- Chùa Thầy- Sơn Tây cầu Phúc để dân tộc Việt Nam tìm lại Sức Mạnh Tâm Linh của Tổ tiên, kết nối Con Người Việt Nam hiện đại toàn cầu, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc phồn vinh, trường tồn.

Trước đó, bốn đoàn tâm linh trên, bằng ngoại cảm đã đồng phát hiện bốn huyệt lớn bị trấn yểm tại khu vực Chùa Thầy bằng hàng vạn cốt. Các nhà khảo cổ đã vào tận nơi những hang bị Cao Biền trấn yểm trên núi và quanh vùng Chùa Thầy, nghiên cứu, xét nghiệm, xác định đó là vô vàn. hài cốt từ trước thời đại Hai Bà Trưng đến các thời sau này.

Hiện nay, nhiều người dân Việt Nam trong và ngoài nước Tâm huyết đã dâng đời mình, phát hiện, giữ gìn, tôn tạo, tìm đọc những thông điệp của Tổ Tiên qua cổ tích, huyền thoại, bia, cổ vật, đình, chùa, đền, miếu, quách, lăng, mộ, chiếu, sắc… tiếp nhận Sức Sống Tâm Linh của dân tộc Việt, từ hàng chục ngàn năm trước CN, huyền thông, ngời sáng đến bây giờ, để hoá giải trấn yểm, bảo tồn Non Nước Việt Nam bất tử.

Ngày nay, người Việt ai cũng biết Cao Biền trấn yểm các huyệt lớn, các long mạch chính yếu của nước ta bằng cách đục xuyên núi, khoét hang hố chất sắt yểm, nhiều nhất là cách yểm hàng vạn xương cốt con người, phá luồng khí lưu thông, chặn lối thoát Âm- Dương…

Cao Biền trấn yểm non nước Việt Nam thành biểu trưng “Mả Cao Biền”. Ngày nay các mả Cao Biền còn lù lù trên khắp nước ta. Từ đường cái quan, trên ô- tô qua cánh đồng Thuận Thành- Bắc Ninh, ai cũng dễ dàng nhìn thấy những đống mả đất to lù lù hoang hoá, hiện ra từng khoảng cánh đồng xanh lúa. Mả Cao Biền đấy! Mả thì mặc mả. Lúa vẫn ba mùa nảy hạt vàng nuôi đàn con Việt đời đời. Bất diệt.

Tương truyền ở Phú Yên cũng có mả Cao Biền. Đấy là một đụn cát nơi chân núi, dưới biển. Đụn cát không lớn lắm, nhưng không bao giờ san bằng được. Dân trong vùng hát phong dao với nụ cười tình tự trên đống mả Cao Biền. Mả thì mặc mả duyên tình cứ duyên. Đó là sức sống Việt Nam, vượng khí Việt Nam, không một trấn yểm tàn ác nào làm cho lụi tàn. Hoa mai cứ nở. Đôi uyên ương cứ tự tình ca hát:

Ngó lên hòn núi Cả thấy mả Cao Biền
Thấy đôi chim nhạn đang chuyền cành mai


(Ca dao)

Trong quyển Địa dư Bình Định của ông Bùi Văn Lăng viết năm 1930 có mô tả tấm thẻ đá Cao Biền yểm: “Dọc theo đường Quốc lộ số 1 chạy ra đến Phù Cát có đá Cao Biền. Đó là một cái thẻ thời xưa Cao Biền trấn yểm. Thẻ ấy bằng đá và chôn rất sâu. Thuở xưa dân làng đã có nhiều lần thuê voi về nhổ, nhưng nhổ không lên”.

Trong tâm thức dân gian Việt Nam nhiều truyền thuyết về Cao Biền vẫn tồn tại đến nay. Họ tưởng tượng Cao Biền thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét khắp nơi, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế phong thuỷ đẹp và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu, hay khoét hầm trong núi, cướp vàng, đồng đen, kim loại quí, đá ngọc, rồi trấn yểm.

Dân Việt còn truyền tụng câu chuyện về bà vợ Cao Biền. Cao Biền có một người vợ là Lã Thị Nga, theo Biền từ Bắc phương sang Giao Châu. Nhưng bà không thể ở cùng Cao Biền phù thuỷ, ma mãnh trong Thành Đại La. Bà tự xin ra ở bên ngoài thành, chung sống với dân Việt hiền hoà, cùng họ nuôi tằm, dệt vải tại vùng Hà Đông ngày nay. Sau khi Cao Biền về Bắc phương, bà ở lại khu dân cư ven sông đất Việt. Nghe tin Cao Biền mất ở Trung Quốc, bà gieo mình xuống sông tự vẫn.

Dân Việt lập đền thờ bà ở bờ sông. Lòng dân bao dung. Xót thương thân phận người đàn bà Tàu vô duyên lấy phải anh chồng phù thuỷ đáng kinh sợ, mà vẫn phải ngậm bồ hòn sống khổ, chết sở cùng hắn.

Sử Trung Quốc ghi, Cao Biền khi về Bắc đã bị cấp dưới là Lã Dụng Chi cuốn vào những trò ma thuật phong thuỷ, trở thành nạn nhân của những trò pháp thuật đó và bị chết. Cái chết của Cao Biền do chính pháp thuật phong thuỷ trị tội. Đó là sự trừng phạt của Thượng đế.

Tuy Cao Biền thâm hiểm, đáng khinh ghét như thế, dân Việt vẫn công bằng ghi nhận Cao Biền trừ được giặc Nam Chiếu ở phía Bắc tràn xuống Giao Châu và xây Thành Đại La bên bờ sông Tô Lịch. Trong thành có tới hai mươi vạn nóc nhà. Sự sống của nhân dân sầm uất. Làng Kim Lan- Gia Lâm- Hà Nội có miếu thờ Cao Biền.

Thăng Long- Hà Nội- Việt Nam thế kỷ XXI.

Sức sống Tâm linh Tiên Rồng Việt tộc bừng hiện khắp nơi, đến với những tâm hồn trong sạch. Bất cứ tâm hồn Việt Nam nào còn giữ được thân tâm trong sáng, thương yêu Cha Mẹ Rồng Tiên, tôn thờ Đạo Mẫu và Văn hoá Truyền thống Việt tộc đều nhận được Sức Mạnh Tâm Linh Việt.

Sức Mạnh Tâm Linh Việt hiển thị bằng nhiều hình thái tư duy và biến hoá muôn hình, vạn trạng hành động hiến dâng, bảo vệ non nước Việt Nam trường tồn. Không một thế lực ma quỉ nào có thể chạm tới được Sức Mạnh Tâm Linh Việt đang từng giây trỗi dậy, kết nối, hiệp lực, nối vònh tay lớn triệu triệu trái tim Việt Nam trên khắp hoàn cầu thành một khối Tinh hoa vững chãi, chống kẻ thù Việt tộc.

Truyền đời hãy nhớ! Chuyện Cao Biền run sợ trước Thần Long Đỗ!

Hỡi mọi kẻ thù, đừng bao giờ quên Sức Mạnh Tâm Linh Việt trường tồn, nguyên khí quốc gia Việt Nam trông giữ non sông gấm vóc Tiên Rồng.

Nơi đền thờ Thần Long Đỗ, vị Thần Hoàng Kinh Thành Thăng Long đang ngự trên số 76- phố Hàng Buồm- Hà Nội, Thần Long Đỗ đang ngày đêm toả khí thiêng, ôm giữ Thăng Long- Hà Nội nghìn năm.

Đêm đêm hương trầm thơm ngan ngát dẫn người Hà Nội tìm về Việt tộc huy hoàng tiền sử.

Người Hà Nội tìm về Kinh Thành Thăng Long Nghìn Tuổi.

Ai đã xây thành Đại La? Thành Đại La có từ bao giờ?

Sách Việt Điện U Linh ghi Truyện Thần Chính Khí Long Đỗ. Chuyện kể về Cao Biền đắp Thành Đại La.

Thành Đại La nay là Thăng Long- Hà Nội. Trong con mắt cú vọ của Cao Biền thì ngôi làng chài ngự giữa đôi bờ sông Tô (làng Hà Nội gốc) sơn thuỷ phong tình, có núi Nùng, sông Nhị, xa xa giải lam mờ Ba Vì, Tam Đảo, Tản Viên sơn làm đai. Đây là đất “Rồng cuộn, hổ ngồi”. Cao Biền quyết định đắp Thành Đại La, mong trụ vững nơi đây.

Để hiểu gốc tích Thành Đại La và Hà Nội cổ ra sao, người kể chuyện thắp nén tâm nhang, mời anh linh giáo sư sử học Trần Quốc Vượng trở về.

Ông kể:

- Ngôi làng chài nho nhỏ bên sông Tô người Việt cổ từng sống mấy nghìn năm trước CN. Khảo cổ học tìm thấy rìu đá, trống đồng, những dấu tích thời đồ đá, đồ đồng thời vua Hùng dựng nước Văn Lang chìm ẩn dưới nhiều lớp đất đá Hà Nội. Giữa ngôi làng có một gò cao nổi lên, gọi là núi Nùng. “Nùng sơn chính khí” là chất khí thiêng liêng của đất Hà Nội cổ. Núi Nùng ngự giữa Đất Trời linh thiêng được dân gọi là Long Đỗ (Rốn Rồng). Dân lập đền thờ thần Long Đỗ, tôn thành Thần Hoàng Làng Hà Nội cổ.

Từ thế kỷ I đến đầu thế kỷ VII, làng chài Hà Nội cổ chưa phải là trung tâm đất nước. Thời vua Hùng, trung tâm đất nước là miền đồi núi xứ Đoài.

Thời vua Thục đến đầu thế kỷ VII, trung tâm là miền đất cao xứ Bắc.

Giữa thế kỷ V, từ một làng chài ao hồ sông lượn, rừng rậm, đầm lầy, Hà Nội cổ trở thành một huyện mang tên Tống Bình do nhà Lưu Tống (454- 456) thời Hiếu Vũ Đế cai trị.

Năm 545. Thế kỷ VI. Lý Nam Đế dựng thành luỹ bằng tre, gỗ ở cửa sông Tô Lịch để chống quân xâm lược nhà Lương. Hà Nội cổ có thành từ đó.

Sang thế kỷ VII. Đất nước ta lệ thuộc nhà Tuỳ, rồi nhà Đường. Nhà Tuỳ bỏ hết các quận nhỏ thời trước, khôi phục quận Giao Chỉ đời Hán (gồm cả miền Bắc Bộ, trung tâm đời Hán là Luy Lâu -Thuận Thành- Bắc Ninh).

Năm 607 nhà Tuỳ rời Trung tâm Luy Lâu đến huyện Tống Bình (Hà Nội cổ).

Nhà Đường chiếm được nước ta từ tay nhà Tuỳ. Năm 679, lập An Nam đô hộ phủ, lấy Hà Nội cổ làm Trung tâm.

Nhà Đường tập trung xây một hệ thống thành quách mọc lên trên đất Hà Nội cổ để quân xâm lược được bao chắn, êm giấc ngủ, trước sự phản kháng mãnh liệt của dân ta.

Bắt đầu là Tử Thành (thành con) xây năm 621 bên bờ sông Tô Lịch.

Năm 757. Xuất hiện La Thành trên đất Hà Nội cổ do Kinh lược sứ Trương Bá Nghi đắp để ẩn nấp sau phong trào Mai Hắc Đế, thành cao vài thước, nhỏ hẹp và không chắc chắn.

Năm 791. Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng vùng dậy cùng dân ta đánh nhà Đường, làm rung chuyển đất trời Hà Nội cổ.

Năm 801. Lão già quỉ quyệt Triệu Xương thay tên quan đô hộ tham ô Bùi Thái đã sửa dựng thêm La Thành gọi là “An Nam La Thành” .

Hà Nội 863- 865. Hàng vạn giặc Nam Chiếu đánh phủ thành An Nam. Lũ đô hộ nhà Đường hèn yếu, bỏ thành, chạy về Bắc.

Ba năm dân Việt đánh du kích giữ làng quê.

Sau đó nhà đường sai Cao Biền sang đuổi giặc Nam Chiếu. Cao Biền cùng viên tiết độ sứ Tĩnh Hải Quân Tiết Trấn, tướng bắn giỏi kiêm đạo sĩ phù thuỷ, quay ra đàn áp nhân dân.

Cao Biền đắp lại “An Nam La Thành” thường gọi là Thành Đại La , chu vi hơn tám cây số, có năm mươi lăm lầu vọng dịch. Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ gọi thành Cao Biền là Thành Đại La.

Cao Biền đắp Thành Đại La đâu có dễ dàng.

“Đất có Thổ Công/ Sông có Hà Bá”.

Truyện Thần Chính Khí Long Đỗ kể Cao Biền đắp Thành Đại La.

Cao Biền dù là phù thuỷ cao cường thì cũng không thắng nổi sức mạnh “Linh khí nước Nam, tràn ngập không thể lường” mà Biền đã cảm nhận được.

Cao Biền những tưởng mắt cú vọ của hắn, tài thuật phong thuỷ của hắn, có thể ngự trị đất Việt một cách yên ổn. Không ngờ, Thành Đại La vừa đắp xong, một sớm sương mù bao phủ mênh mông, Biền thức dậy, dạo xem phía ngoài cửa Đông thành. Bỗng mưa to gió lớn đùng đùng nổi dậy. Cao Biền choáng váng nhìn thấy vầng mây ngũ sắc từ dưới đất dâng lên, ánh sáng chói loà xuyên vào mắt hắn. Cao Biền loạng choạng, liêu xiêu. Biền cố bình tĩnh mở to mắt cú nhìn vào đám mây kỳ lạ.

Một dị nhân mặc quần áo sặc sỡ, trang sức trông kỳ dị, cưỡi con rồng đỏ, tay cầm chiếc giản vàng, lơ lửng trong mây khói, khí thế ngùn ngụt, hừng hực bay lên, lượn xuống, hồi lâu mới tan.

Biền kinh ngạc. Linh tính báo cho hắn biết điều chẳng lành. Hắn nghĩ là ma quỉ về quấy phá, muốn lập đàn cúng bái.

Đêm ấy, Biền nằm mộng thấy có thần nhân đến nói:

- Xin ông đừng có bụng nghi ngờ. Ta không phải là yêu khí đâu. Ta chính là Long Đỗ Vương Chính Khí Thần đó. Ta muốn xem kỹ thành Đại La ngươi mới xây mà hiện ra đó thôi. Đây là đất trời của ta, do ta cai quản. Ngươi đang làm những gì, nghĩ những gì, ta đều biết. Ngươi không che nổi mắt ta đâu. Ta không để yên cho ngươi dày xéo lên non sông đất nước của ta đâu. Ngươi hãy chờ đấy!

Biền kêu ú ớ mấy tiếng, rồi tỉnh dậy. Tim đập thình thình. Biền không thể nào ngủ tiếp được. Hắn lo sợ. Mọi trò pháp thuật phong thuỷ của hắn, dường như những quả núi đá chổng ngược, khổng lồ, quay lộn, xoắn tít mù, đổ ụp xuống đầu hắn. Khí núi sông, khí đồng đất, lòng người nơi đây nổi giận, uất hận trào dâng, tụ thành những khối khí lửa thiêng khổng lồ, hừng hực vô hình vây bủa hắn.

Sáng hôm sau, Biền vội họp quần thần than:

- Ta không khuất phục được người phương Nam này chăng? Mà đến nỗi nội khí của ta bị tà yêu yếm khí quấy phá đêm ngày. Ta ăn không ngon, ngủ không yên. Không biết tính sao đây? Ta bối rối. Ta hỗn loạn tâm trí. Khí chất của ta bị tan chảy tơi bời. Lòng ta xáo xác. Ta bị tấn công dồn dập nơi trí não. Biết làm sao bây giờ? Ta không được yên thân. Dân Nam Việt này đáng sợ. Họ không tiêu diệt ta bằng vũ khí, cuốc, thuổng, gậy, gươm, đao, giáo, mác. Họ tiêu diệt ta trong cân não thần kinh. Ta không chịu nổi.

Quần thần nghe Cao Biền than thở vậy, nghĩ mà sởn gai ốc. Lạnh xương da. Họ còn yếu bóng vía và kinh sợ hơn Cao Biền gấp tỷ lần, mà không dám nói ra. Mặt họ xám ngoét. Tim đập, chân run. Tiếng nói xồm xồm như ma ám. Họ thường bị hồn ma bóng quỉ của chính quân Hán chết như rạ trên đất Lĩnh Nam này dồn đuổi. Và linh khí của đòan quân vua Bà Trưng ám ảnh đêm ngày. Đoàn quân vua Bà Trưng đông lắm, chạy rừng rực trong não tuỷ từng người lính xâm lăng.

Đêm đêm cú rúc chòi canh. Họ nghe tiếng hát bên sông vọng về, lạnh gáy:

Tại tích phù Trưng nghiệp triệu thành
Công thuỳ vũ trụ đãng nan danh
Huy lai tướng lệnh tiêu Tô tặc
Phi xuất thành lâu khước Hán binh
Trung nghĩa nhất lâm năng bất tử
Anh linh vạn cổ lẫm thư sinh
Lưu đồn thử địa di từ miếu
Lịch đại ba chương lũ biểu tinh


(Từng giúp vua Trưng nghiệp lớn thành
Công ngang trời đất sáng ngời danh
Vung cờ tướng lệnh xua Tô Định
Vọt cửa thành lâu đuổi Hán binh
Trung nghĩa một lòng không thể chết
Anh linh muôn thuở tựa bình sinh
Đồn quân nền cũ nay đền miếu
Phong tặng bao đời dấu hiển linh)

Cao Biền không thể nào hiểu nổi những cái mặt nhợt nhạt, những quầng mắt xám đen của lũ quần thần đang lo sợ như thế nào? Biền muốn nương tựa vào họ.

Có người khuyên Biền lập đàn, và dùng nghìn cân sắt đúc tượng theo hình dạng thần nhân để làm bùa yểm. Biền hối hả nghe theo kế đó.

Biền làm xong tượng yểm bằng sắt, vừa mới đọc thần chú, bỗng trời đất mịt mù, mưa xối xả quất đá vào mặt Biền, gió giật đùng đùng, sấm sét nổ tung lửa. Tượng sắt nát vụ, bay tứ tung, mảnh lớn, mảnh nhỏ quăng vào bốn cửa Thành Đại La. Quan và dân ta thừa cơ xông vào phá Thành Đại La.

Biền sợ hãi ngửa cổ lên than:

“Linh khí phương Nam, tràn ngập không thể lường. Ôi! Vượng khí nước này không thể nào hết được. Ta phải mau mau trở về Bắc phương thôi. Ở lâu nơi đây, tất chuốc tai vạ”.

Năm 868. Biền chuồn về Trung Quốc. Năm 878. Cháu y là Cao Tầm cũng chuồn nốt. Tên Tăng Cổn sang thay.

Chuyện Cao Biền xây Thành Đại La, bị linh khí thần nước Việt ám ảnh, làm hắn phải ôm đầu chạy về nước, loang khắp chốn cùng quê. Người Việt lấy làm lạ, đã dốc hết tâm trí thờ cúng Thần Long Đỗ linh thiêng. Tương truyền Đền Thờ Thần Long Đỗ tức “Rốn Rồng” nằm trên núi Nùng. Núi có khe sâu thông xuống đất, tiếp nhận khí thiêng sông núi. Nay là dấu tích Điện Kính Thiên Hoàng Thành Thăng Long.

Năm 880. Quân sĩ làm binh biến. Nam Chiếu lại sang xâm lược. Cổn chuồn về nước. Chu Toàn Dục sang thay. Hắn bất tài, tháng 3- 905 bị bãi chức. Độc Cô Tổn sang thay tàn bạo ngang ác thú. Ác giả Ác báo. Hai tháng sau Độc Cô Tổn bị biếm chức, đày ra đảo Hải Nam và bị giết. Chính quyền nhà Đường ở An Nam cũng bị chết theo hắn.

Tháng 5- 905. Hà Nội cổ sạch bóng quân thù.

Mùa hè lịch sử ấy, người hào trưởng yêu nước, khoan hậu, thương người, được nhân dân mến phục là Khúc Thừa Dụ (quê ở Hồng Châu nay là vùng Văn Giang- Ninh Giang- Hưng Yên) kéo quân về phủ Thành Đại La, giành chính quyền về tay người Nam.

Khúc Thừa Dụ tuyên ngôn:

“Từ nay nước Nam là của người Nam”.

Chiến thắng Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa. Chấm dứt sự xâm lược của Trung Hoa mười một thế kỷ, kể từ khi An Dương Vương đánh mất Nỏ Thần.

Ngày 23 tháng 7- 907. Khúc Thừa Dụ mất tại Hà Nội cổ.

Chưa hết tang, ngày 1-9- 907, con ông là Khúc Hạo thay cha cầm quyền trị nước.

Từ Thành Đại La, chính lệnh được ban bố: “Tha bỏ lao dịch. Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, sao cho mọi người dân đều được an vui”.

Chính quyền dân chủ đầu tiên tại Hà Nội cổ là chính quyền “thân dân” với câu tuyên ngôn giản dị vang vọng từ Thành Đại La năm 907. Lấy dân làm gốc. Sự an vui của mọi người dân là lý luận cao nhất, là mục đích cao cả của Chính quyền Hà Nội cổ. Chính quyền dân tộc và dân chủ, là thành quả của loài người thủơ sơ khai. Là hạnh phúc của chung loài người. Không phải tốn nhiều lời, không phải học đâu xa. Từ thượng cổ đến bây giờ cũng chỉ giản dị là Chính quyền phục vụ Nhân Dân, sao cho mọi người Dân đều được an vui” mà thôi. Từ thượng cổ đến nay, con người luôn tự đứng lên, tự dựng xây cuộc sống an vui cho mình và cho mọi người. Chính quyền chỉ đơn giản là những con người tài năng, đức độ, được chính người dân cử ra, thay mặt dân, tổ chức Dân cùng nhau chăm lo sự sống an vui cho mình và cộng đồng. Có gì đâu mà quan với quách. Người được cử ra chăm Dân không tròn trọng trách thì Dân yêu cầu họ về vừơn để cử người xứng đáng thay thế. Có gì đâu.

Sự giản dị là món quà Thượng đế ban cho nhân loại thủơ nguyên sinh. Khúc Hạo xây dựng chính quyền dân chủ theo Thượng đế. Ông không tốn thì giờ đọc sách nọ viết sách kia theo những ải, những ai.

Tam Toà Thánh Mẫu giáng:

Trò đời giống như quân rối nước
Đứa kia ra, đứa khác tụt vào
Chập chờn trong giấc chiêm bao
Vinh hoa chớp mắt, phong lưu kiếp vờ
Của đời ví phù vân tán tụ
Chốc tay mình, chốc ở tay ai
Cuộc đời như ván cờ người
Bày ra lại xoá, được rồi lại thua.

Hơn hai chục năm sau. Tháng 10 năm 930. Con Khúc Hạo là Khúc Thừa Mỹ để mất Thành Đại La cho giặc Nam Hán.

Vua Nam Hán cát cứ ở Quảng Châu, đem quân đánh Thành Đại La, bắt sống Khúc Thừa Mỹ.

Hà Nội cổ bị tái chiếm, là vùng địch tạm chiếm.

Xứ Thanh Nghệ tụ nghĩa. Mùa đông năm 938. Ngô Quyền cùng quân dân ta làm nên chiến thắng Bạch Đằng vang dội, lấy lại đất nước.

Chấm dứt một nghìn năm Bắc thuộc.

Mùa Xuân 939. Ngô Quyền xưng vương định đô tại Cổ Loa nối tiếp quốc thống xưa của An Dương Vương. Ngô Quyền xây dựng Nhà Nước đầu tiên tính từ đó đến các thời Đinh, Lý, Trần, Lê…

Năm 944. Ngô Quyền mất. Đất nước không có vua . Các nhóm thế lực khắp nơi nổi lên tranh quyền lực. Ai cũng đòi cướp quyền lực của Nhân Dân. Không ai chịu ai. Không ai nghe ai. Chẳng ai khá giỏi, tử tế tốt đẹp hơn ai. Mạnh ai nấy nổi binh làm loạn. Đất nước lâm vào loạn chưa từng có.

Loạn mười hai sứ quân. Nhân Dân điêu linh, hỗn loạn. Các thế lực các vùng miền đua nhau tàn sát dân lành, dày xéo non sông. Suốt hai mươi ba năm ròng rã, Nhân Dân bị kéo vào các cuộc đánh nhau phe nhóm kinh hoàng. Đẫm máu. Vô phương cứu chữa.

Cuối năm 967. Thế lực Đinh Bộ Lĩnh thắng. Đinh Bộ Lĩnh làm vua, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình).

Năm 1010 nhà Đinh và Tiền Lê suy tàn. Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lấy Thành Đại La làm kinh đô. Đổi tên là Thành Thăng Long .

Vua Lý Công Uẩn khởi công xây Hoàng Thành Thăng Long. Nhiều lần Thành đắp lên bị đổ. Vua cho người cầu khấn ở đền Long Đỗ, thấy vị thần Ngựa Trắng từ trong đền đi ra. Vua lần theo vết chân Ngựa Trắng, vẽ đồ án xây thành. Thành đứng vững. Vua Lý Công Uẩn phong Thần Long Đỗ làm Thành Hoàng của Kinh Thành Thăng Long.

Vua chuyển đền thờ Thần Long Đỗ trên núi Nùng, ra xây trên đất phường Hà Khẩu, tổng Đông Thọ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay là số 76 phố Hàng Buồm- Hà Nội. Đền thờ Thần Long Đỗ ghi tạc hình tượng Thần Ngựa Trắng giúp vua xây thành Thăng Long, nên lâu nay, nhân dân vẫn gọi đền thờ Thần Long Đỗ là đền Bạch Mã.

Trên núi Nùng, nơi toạ lạc của Thần Long Đỗ, vua Lý Công Uẩn xây Điện Kính Thiên thờ Trời Đất.

Đền Bạch Mã là một trong “Thăng Long Tứ Trấn” của kinh đô Thăng Long. Đền Long Đỗ trấn phía Đông kinh thành.

Lý Thái Tổ xây xong điện Kính Thiên và Hoàng Thành Thăng Long theo chỉ dấu của Thần Ngựa Trắng trên núi Nùng. Ông dâng lễ lạy tạ Thần Long Đỗ.

Một đêm, vua mộng thấy vị Thành Hoàng của kinh thành Thăng Long đến chúc mừng.

Vua ngập ngừng hỏi Thần Long Đỗ:

- Thần có thể sẽ được hương lửa trăm năm không?

Thần Long Đỗ đáp:

- Mong Thánh thượng trường thọ ức vạn năm.

Vua tỉnh dậy, sai dâng đồ tế lễ Thành Hoàng Thăng Long- Thần Long Đỗ.

Đền thờ Thần Long Đỗ rất linh thiêng. Các vua triều Lý và nhân dân Thăng Long ngày đêm hương khói, phụng thờ.

Sang thời Trần. Cửa Đông thành Thăng Long mở chợ buôn bán sầm uất. Những dãy phố mọc lên. Những mái nhà tranh tre san sát. Phố phường hay bị hoả hoạn. Gió dữ thổi cháy rất nhiều nhà tre, mái lá. Duy ngôi đền Bạch Mã thờ Thần Long Đỗ không bị lửa bén tới. Các vua Trần cảm ứng sự linh thiêng, chọn đền Bạch Mã là nơi nghênh xuân, lễ tế bốn mùa.

Chứng kiến ngôi đền thờ Thần Long Đỗ ba lần bị hoả tai mà vẫn không bị cháy. Thái sư Trần Quang Khải có thơ rằng:

Tích văn hách trạc đại vương linh
Kim nhật do tri quỉ đảm kinh
Hoả tức tam diên thiêu bất cập
Phong lôi nhất trận triển nan khuynh
Chỉ huy đàn áp chư tà chúng
Hồ hát tiêu trừ bách vạn binh
Nguyện trượng thần uy thôi bắc lỗ
Đốn linh hoàn vũ yển nhiên thanh.


(Hiển hách nghe nức tiếng đại vương
Đến nay mới biết quỉ thần phải sợ
Lửa cháy ba lần thiêu chẳng tới
Sấm sét ran một trận chuyển không nghiêng
Ra tay đàn áp loài ma quỉ
Hét lớn tan tành bách vạn binh
Xin hãy ra uy trừ giặc Bắc
Dựng xây thiên hạ mãi thanh bình)

Chuyện Cao Biền xây Thành Đại La và Cao Biền trấn yểm đất nước ta thuộc về khoa học phong thuỷ mà người Việt Nam hiện nay đều hiểu.

Phong thủy là một bộ môn văn hóa cảnh quan đặc thù của Trung Quốc. Là quan niệm của người Trung Hoa với môi trường sống. Là học vấn về lựa chọn nơi con người ở. Các tư tưởng triết học truyền thống của Trung Quốc như: khí luận, âm dương ngũ hành, bát quái, thiên địa nhân hợp nhất là nguyên khối sinh ra phong thủy. Phong thủy chẳng những ảnh hưởng lớn đối với cư dân Thủ đô, thành phố, làng mạc, mà còn có quan hệ sâu sắc với luân lý Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo.

Tiền đề triết học sản sinh ra phong thủy- “Đất là mẹ”. Khí luận trở thành cột trụ lý luận của sự hình thành phong thủy “Thiên địa hợp khí… vạn vật tính trí”. Đất phong thủy là nơi “Tập trung của tinh, tích tụ của khí”. Là những khu đất có hình thế “tàng phong”, “tụ khí”, cảnh quan núi cao phát mạch, nhấp nhô uốn lượn, lớp lớp điệp trùng, rừng núi đẹp, núi ôm nước bọc… Tạo ra “Linh khí của trời đất”, “Cảm ứng linh quang của nhật nguyệt”, “Nảy sinh nội khí, ngoại khí hình thành”, “Địa linh nhân kiệt”, “Thành được sơn thủy thì linh”…

Việc chọn phong thủy làm Thủ đô cực kỳ quan trọng. Hơn ba nghìn năm trước, các vua chúa Trung Hoa đã biết dựa vào thuật phong thủy để tìm kiếm những vùng đất tốt đẹp cho việc đóng đô lập quốc. Điều này giải thích lý do tại sao các triều đại Trung Hoa tồn tại lâu dài, dù phải trải nhiều thăng trầm. Và nền văn minh cổ của họ vẫn duy trì tiếp tục phát triển cho đến bây giờ, không bị lụi tàn như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, Ả Rập…

Một nhà nghiên cứu phong thuỷ Việt Nam đã nghiên cứu phong thuỷ Hà Nội. Ông nói:

- Phong thủy Hà Nội được nhìn trực tiếp ngay từ bản đồ Thăng Long- Hà Nội. Là thành phố nằm gần như ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, trên dải đất hẹp giữa con sông Hồng phía Đông và sông Tô Lịch phía Tây. Đối với phong thủy, mảnh đất này chính là chân long. Là nơi kết tụ được nhiều nguyên khí của địa hình sông núi vây quanh. Thăng Long- Hà Nội có rất nhiều hồ ao để “dưỡng khí” và “tụ tài”. Địa hình Thăng Long- Hà Nội vững chãi, lưng dựa vào dãy núi Tản Viên- Ba Vì, trước mặt là dòng sông Nhị Hà chảy trôi, trong lòng thành phố, sông Tô Lịch chuyển động êm đềm. Thăng Long- Hà Nội xứng là “Thành phố sơn thủy” có đầy đủ những đặc điểm phong thủy điển hình.

Nhờ vậy, Hà Nội luôn nắm được những vai trò quan trọng về chính trị và kinh tế đối với đất nước. Trong thời kỳ hưng thịnh còn sản sinh ra những lãnh tụ tài ba, những anh hùng kiệt xuất. Nếu nhìn lên bản đồ miền Bắc, ta thấy những con sông lớn như: sông Cầu, sông Lô phía Bắc, sông Đà phía Tây chảy dài khắp nơi, cuối cùng đều nhập vào sông Nhị Hà chảy về Hà Nội. Xa xa, dọc biên giới Việt- Hoa, những dãy núi trùng trùng điệp điệp xuất phát từ miền Nam Trung Hoa đâm thẳng xuống dọc theo các phía Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc, tất cả đều như muốn hướng về. Đây chính là thế “núi sông chầu phục” của Thăng Long- Hà Nội. Một địa thế phong thủy tuyệt đẹp đến nỗi không một Thủ đô nào của các nước trong vùng Đông Nam Á có thể so sánh được. Không những thế, ngoài xa nơi phía Đông và Đông Nam Á, Hà Nội còn được đại thủy của vịnh Bắc Việt và Thái Bình Dương chiếu tới, nên thần lực rất lớn, xứng đáng là Thủ đô muôn đời của một quốc gia văn hiến hùng mạnh.

Nhìn lại lịch sử, ngay từ thời Bắc thuộc, một số tướng lãnh cai trị Trung Hoa có tầm hiểu biết sâu rộng về phong thủy như Cao Biền bắt đầu để ý tới địa thế tốt đẹp của Hà Nội cổ, đã xây thành Đại La. Nhưng ngôi thành này thường bị người Việt bỏ trống, ít được chú ý… cho đến khi Lý Thái Tổ lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về Đại La đổi tên Thăng Long. Từ đó, Thăng Long như có thế Rồng bay. Lý Công Uẩn hiểu sâu sắc phong thủy thành Đại La. Ông viết trong Chiếu dời đô “Ở vào nơi trung tâm Trời Đất, được cái thế Rồng cuộn hổ ngồi”. Ông nhìn thấy hướng núi sông hòa hợp bề thế “Địa thế bằng phẳng, đất cao mà thoáng, là nơi tụ hội của bốn phương”…

Thăng Long- Hà Nội với thế núi, thế sông quá lớn , quá hùng vĩ, dài hàng mấy trăm dặm tiến tới, tất cả đều hướng về, phủ phục, triều bái. Quả là thế đất quân vương, có thể điều khiển, sai khiến được chư hầu. Trước khi Thăng Long được chọn làm Thủ đô, nước ta chỉ là một quốc gia nhỏ, như các nước nhược tiểu: Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao… Đã vậy còn bị Trung Hoa đô hộ suốt gần mười thế kỷ. Khi Lý Thái Tổ định đô tại Thăng Long, đất nước ta dần trở nên hùng mạnh. Đó chính là do địa thế đặc biệt của Thăng Long- Hà Nội mà người dân gọi là “Đất Thánh” ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ có những dãy núi hùng vĩ, trùng trùng điệp điệp từ xa tiến tới, phủ phục triều bái.

Sông Hồng Hà khi chảy ngang qua Hà Nội, tuy có hơi cong một chút nhưng thế nước vẫn chảy nhanh và mạnh, làm tiêu tán đi rất nhiều nguyên khí của Thăng Long- Hà Nội. Nếu như khúc sông này được sửa lại thành thế uốn lượn êm đềm như sông Hương hay sông Sài Gòn, thì thần lực của những dãy núi hùng vĩ xung quanh mới được tích tụ đầy đủ tràn trề ở Hà Nội. Khi đó, chẳng những đất nước ta sẽ trở nên giàu có, thịnh vượng, mà còn áp đảo được thế lực khác nhăm nhe bên cạnh.

Mỗi người Việt Nam ngày nay đều đã ít nhiều biết phong thuỷ. Nhất là khi ai đó làm nhà, hay trang trí nội thất, trồng cây, hoa. Các quan chức và đại gia, trọc phú thường khuân về nhà mình rất nhiều đá quí, xoay tròn bốn phương, tám hướng để tụ phong thuỷ, trừ tà ma. Để mong mình sống mãi mãi không chết, bổng lộc chật nhà, luôn thăng quan cao, chức lớn, vàng chôn xuống đất, con cái kế chỗ, giàu ú giàu ụ, đạp lên đầu mọi người mà sống vênh vang.

Nhưng buồn thay! Xả ra nhà đầy rác/ Ma quỉ ngự trong lòng/ Hung khí tràn từ bụng/ Bốc hơi tung lên trời/ Rồi lại thở vào phổi/ Thải ra bầu không khí/ Làm ung thư bao người/ Khí độc của mình giết người khác/ Lại quay sang giết mình/ Tránh làm sao? Làm Sao?

Phong thuỷ là khí chất của con người hoà vũ trụ. Những ý nghĩ tham ác, tạo ra hung khí. Hung khí ấy, trước hết tiêu diệt chính mình rồi lan không khí, tiêu diệt người khác. Phong thuỷ nào cứu nổi?

Thăng Long- Hà Nội Nghìn Năm Tuổi.

Trên giảng đường, sinh viên hỏi bà giáo phong thuỷ là gì?

Bà giáo đã đi qua cuộc đời, yêu từng gốc cây, ngọn cỏ, màu hoa lá, tiếng chim đêm, màu trời đêm huyền thoại của Thăng Long- Hà Nội, thắt lòng nói trước những gương mặt sáng trong:

- Ngày nay, người Việt Nam không còn xa lạ với phong thủy. Vượng khí núi sông đã và đang tác động trực tiếp đến từng người, từng nhà, từng con phố đường làng, ngõ hẻm. “Thứ nhất cận thị, thứ nhì cận sông”. Đó là chuyện may của ngày xưa. Còn nay, nhà ai có cơ may gần sông, hồ ao, có khi thành rủi. Bởi nguồn nước ở những nơi đó đã bị ô nhiễm quá nặng. Khí độc bốc lên hủy hoại không khí từng ngày. Nói gì đến chuyện con người thu linh khí Đất- Trời, giữ gìn sức khỏe, góp vào sự trường tồn của sơn hà xã tắc.

Chúng ta ai cũng thấu chuyện này. Ai cũng kêu ca thống thiết. Nhưng ai mó tay làm sạch sông hồ? Ai giang tay giữ lấy núi sông đại địa thời bình? Rác bẩn xú uế, nước thải xả xuông hồ ao, sông suối từng giờ. Rừng bị chặt phá không thương tiếc. Rừng bị rơi vào tay người nước ngoài thuê! Núi đổ ầm ầm vì đào vàng, bới mỏ. Sông suối bị ngăn làm thủy điện quá nhiều, gây mất cân bằng phong thủy… Đau thắt lòng từng người, từng người dân Việt trẻ già, gái trai.

Từ trong cổ tích, người Việt đã biết trồng rừng giữ đất. Đắp núi cao thêm. Đào sông sâu rộng. Mơ tạo ra núi cho đồng bằng. Tổ tiên ta giữ phong thủy bằng những cuộc chiến không bao giờ ngưng nghỉ giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Họ trồng cây mây trên rừng, thả khuôn sắt trồng cây tre giữa dòng nước xoáy ngăn lũ, trồng cây đước, phi lao, sú vẹt giữ đất biển bồi, đắp đê chống lụt, lũy tre xanh chằng chịt bờ đê chống sụt lở, vỡ đê… Tổ tiên đã truyền lại những kinh nghiệm máu xương cho nòi giống để sống, để giữ gìn núi sông đất nước, qua những truyện cổ tích, mà mấy ai tiếp nhận. Coi đó là chuyện mua vui cho con trẻ.

Gần hai thế kỷ trước, ông quan, nhà thơ Nguyễn Công Trứ bỏ Thăng Long về Thái Bình mở mang đất mới. Biến bãi đất biển bồi thành vùng lúa trù phú, dân cư đông đúc. Vậy mà ngày nay, có người đòi phá lúa, moi than bùn. Lợi bất cập hại. Đời cha xây đắp. Đời con phá. Còn đâu linh khí? Đau lòng dân. Thiệt đời dân.

Còn giấc mộng xây thành phố chọc trời bên bờ bãi sông Hồng- Hà Nội đã thực hiện chưa? Nghĩ mà kinh. Người ta định phá “thế Rồng cuộn hổ ngồi”, triệt tan “linh khí núi Nùng sông Nhị” của Thăng Long- Hà Nội nghìn tuổi một cách “nhung lụa” vậy sao? Thăng Long xưa lấy “núi Tản lám án, sông Nhị làm đai”. Sông Nhị là sông Cái, sông Hồng, sông Mẹ… là tấm lụa đào, thắt đáy lưng ong Hà Nội, là nơi tụ linh khí núi sông, trời đất. Ai dám cả gan làm điều xằng bậy? Ai dám giơ tay lấm bùn chặn linh khí của dòng sông? Ai dám cả gan gây tội ác phá khí núi sông như Cao Biền tàn bạo?

Cao Biền đã chết. Vậy mà âm mưu phá phong thuỷ, trấn yểm nước Nam cứ lơ lửng đâu đây. Ai dám liều chết như Cao Biền phá phong thuỷ, triệt linh khí Rồng Tiên?

Phong thủy Thăng Long- Hà Nội núi sông, ao hồ đọng đầy linh khí, giờ đây ô nhiễm bốc mùi. Chẳng lẽ chúng ta chịu bó tay? Thời Lý- Trần- Lê ông cha đã nhiều lần nạo vét sông Tô Lịch. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã viết những lời cảm động: “Đánh thắng giặc Mỹ người Hà Nội sẽ bảo nhau làm sống lại dòng sông Tô Lịch “vừa trong vừa mát”, cho “Thuyền em ghé sát thuyền anh”.

Sông Tô Lịch nay đã được xây kè lại, nhưng dòng nước đen ngòm, khí độc xông lên. Chẳng lẽ chúng ta không thể làm nước sông trong sạch lại? Mỗi người dân Việt Nam hãy trình bày dự án làm sạch nước sông Tô. Hãy mở rộng cánh cửa UBND thành phố, tiếp nhận các dự án và thử nghiệm công khai, chọn phương án tối ưu để xử lý nguồn nước ô nhiễm Hà Nội và sông Tô Lịch, Hồ Tây, Hồ Gươm… Trước mắt, làm sạch nguồn nước bẩn và sau đó từng người dân phải chung sức bảo vệ sự sạch đẹp lâu dài cho các sông hồ ao Hà Nội. Đây là cách tích cực nhất để bảo vệ phong thủy, giữ nguyên khí Thăng Long- Hà Nội, tác động đến sự hưng thịnh, trường tồn của đất nước và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Buồn thay! Ai cũng chỉ lo phong thuỷ cho cái góc nhà mình. Còn núi sông đại địa thì mạnh ai nấy phá. Còn đâu linh khí nước non?

Song hãy nhớ đừng quên. Kẻ thù Việt tộc từng kêu lên: “Vượng khí nước Nam không thể nào hết được”.

Thần Chính Khí Long Đỗ vẫn còn đây. Ngài hiện ra và bảo:

Nước non gấm vóc tình ca
Rừng vàng, biển bạc, sơn hà của ta
Bốn mùa mưa thuận gió hoà
Càn Khôn Nhật Nguyệt Âm- Dương mặn mà
Gạo rau tưới máu ông bà
Nguyên sinh linh khí Tiên Rồng hồng hoang
Cái nôi loài người lớn rộng
Văn minh lúa nước Thần Nông Trống Đồng
Đau lòng lệ chảy cuộn sông
Tinh Hoa Việt tộc dạt trôi bồng bềnh
Đánh tráo, huỷ diệt, bôi ma
Bị cướp tất cả, ta còn cái chi
Linh thiêng hoá sự thần kỳ
Đạo Mẫu Mẹ Việt dắt ta đi tìm
Giống nòi rực rỡ thiên di
Da vàng máu đỏ bình yên tụ về
Nâng niu gìn giữ sơn khê
Cháu con muôn thuở lời thề Rồng Tiên.



Hồ Gươm Những Mùa Hoa 2010 - 2012
___________________________________________




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 11.06.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com