TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái;
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).




















THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN


Chân thành cảm tạ anh Thế Phong đã cho phép đăng tải.
Từ Vũ



lá thư E-mail 3.

___________________

son tien nguyen@juno.com.





Ngay tên của người bạn trẻ gần bốn mươi năm, nay đổi sang tên Mỹ, nhìn trên phong bì và chữ ký, nó hơi kỳ kỳ. Nguyễn Tiến Sơn nay là Sơn Tien Nguyen, cảm tưởng của tôi như bạn ta cùng họ với ông Sơn Ngọc Thành, người Campuchia hoạt động chính trị trước 75 ở Sài gòn. Như vậy, anh em mình bắt lại liên lạc với nhau từ mấy tháng nay, nhờ nhà văn nữ Hàng Ngọc Hân điện thoại cho biết, có tấm ảnh Sơn gửi từ Mỹ về. Sang bên nhà, gặp phu quân nhà văn, phê bình gia Uyên Thao đang ngồi trước vi tính lay out (dàn trang) mấy tác phẩm của vợ và của chính anh, những truyện ngắn đăng rải rác trên các báo Sài gòn xưa, với nhiều bút danh khác nhau. Anh Uyên Thao, người đổi tên thật nhiều nhất, đầu tiên là Vũ Loan, rồi Vũ Viết Loan, rồi Vũ Hoàng Hà, rồi…, rồi cuối cùng Chương Lĩnh Thao và hiện tại lại là "…cho tôi nói chuyện với ông Vũ Quốc Châu". Điện thoại của anh lắp song song với chủ nhà. Vui, người ta báo gọi lên gác – không vui (bởi người thuê thường chậm trả tiền nhà), buộc gọi lại lần nữa. Cú điện thoại thứ hai này, bà Ngọc Hân hoặc ông Uyên Thao mới được cầm máy lên nghe. Tôi cảm động nhìn tấm ảnh chụp vào năm 1959, tháng 11 với Sơn. Thời kỳ này, mang kính râm hiệu Rayban, chẳng nhìn thấy tròng mắt đâu cả, còn thắt cà-vạt buông thõng – bà Cao Mỵ Nhân viết trên Saigon Times báo gọi: cái thòng lọng chưa hay chờ thắt cổ. Anh bạn cùng học một lớp với Sơn là Đinh Ngọc Mô, lớp 2C Chu Văn An Sài gòn, như thư viết cho biết; sau giờ học hai bạn trẻ tuổi đến gặp thầy dạy tân văn, hỏi: "Thầy có đọc tập thơ Nếu anh có em là vợ của Thế Phong in ronéo không?". Ông thầy Vũ Khắc Khoan nói ngay: "Vóc dáng hay, được, bướng bỉnh và ngang tàng!". Và nay thầy Khoan của em đã qua đời tại Mỹ 86. Còn anh Mô, sau là người sáng lập chương trình Đố Vui Để Học trên đài Truyền Hình SGN, xưa học giỏi nhất lớp, cũng qua đời ở Pháp năm 85. Nay em đọc lại cuốn thơ anh mới tái bản có ý kiến về cuốn này, như vậy là quá đầy đủ. Nhưng em thích nhất là ý kiến của Bùi Giáng nhận xét; giống như thầy Khoan nhận định từ ngày xưa "Thế Phong hùng hậu ngang tàng bướng bỉnh. Bài thơ đi ào ào, lúc chan hòa tâm sự, lúc cộc lốc phiêu nhiên. Thơ cảm động vô cùng mà cũng lắm phen người ta phải bật cười thành tiếng. Thơ của ông Thế Phong là chỗ kết tụ của một tâm hồn tế nhị khôn hàn và nỗi gàn bướng khó tả. Ông làm giầu cho thi ca hiện đại không phải là ít…". Bùi Giáng qua đời ở Sài gòn rồi, ngày 7 tháng 11 năm 98, sau nhà phê bình nổi tiếng tiền chiến, Thượng Sỹ, hai ngày. Trước cửa chùa Vĩnh Nghiêm, một tấm băng-đơ-rôn màu gụ kẻ hàng chữ lớn LỄ TANG THI SĨ BÙI GIÁNG. Rất nhiều văn nghệ sĩ đủ miền: Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam. Buổi đưa tang vào ngày chủ nhật, gặp nhà thơ Phổ Đức dắt cả vợ đi, nhà văn Dương Nghiễm Mậu (chàng này rất ít khi xuất đầu lộ diện, chỉ ở nhà làm tranh sơn mài bán và nếu có bạn rủ đi uống cà phê, yêu cầu không quá hai người), một người bạn mới quen được Chinh Văn giới thiệu, tên Phan Đắc Lữ. Ông bạn này đọc ngay cho nghe hai câu thơ của thầy Bùi Giáng: "Chim quyên làm tổ dưới biền/ Vợ thì có đó nhưng tiền thì không". Ông bạn này còn nói nhiều đến Bùi Giáng nhưng tôi lại nghĩ miên man đến câu chuyện cách đây cả năm sáu năm. Một chiều, tôi và nhà tôi, mỗi người một xe đạp đến đường Mai Xuân Thưởng, quận Bình Thạnh, thăm tín hữu Hội thánh Báp tít Ân điển. Bởi chúng tôi là nhân viên trong ban Chăm sóc thăm viếng, hàng tuần nhận phiếu thăm theo khu vực. Khi rẽ qua đường Phan Văn Trị, bỗng có tiếng gọi tên tôi thật lớn. Quay lại, một lão niên tóc dài, áo quần không thẳng thớm, ngồi bên vệ đường với xị rượu, chiếc đĩa nhỏ hết mồi. Thấy tôi ghé lại, bà chủ tiệm chạp phô liền đi ra hỏi:

- Ông là bạn ông này?.
- Vâng, có gì không ạ?.
- Từ sáng đến giờ, ông này uống rượu, nói lảm nhảm, ám quẻ tiệm tôi, ai cũng sợ, không dám vào mua hàng. Ông làm ơn chở ông ta đi dùm, tôi xin đội ơn. Còn mươi ly rượu, đồ nhắm, tôi xin không tính tiền.
- Thưa, nhiều lắm không, khoảng bao nhiêu tất cả?.
- Khoảng mười ly rượu đế và con mực nhỏ, bốn ngàn thôi.
Tôi trả tiền xong, nhà thơ ngồi sau xe đạp, tôi chở về hướng Sài gòn. Ông bảo tôi:
- Mày cho tao đến Cầu Kiệu gặp thằng Hùng dạy đàn, sáo. Thằng cháu tao ở Đức về, hẹn tại đây.

Khi gần đến Cầu Kiệu, đường Phan Đình Phùng (xưa Võ Di Nguy), Bùi Giáng ngồi nhấp nha nhấp nhổm, lúc đứng lên, xe đôi khi mất thăng bằng, suýt ngã. Một ông xích lô nhìn thấy, nói lớn:

- Thi sĩ lão niên Bùi Giáng hôm nay không mặc quần áo đủ màu múa ngoài đường nữa sao?.
- Tao thích thì múa, không thì không múa.

Phải rồi, từ lâu, Bùi Giáng mặc quần áo đủ màu, áo sống vá đụp hàng chục mảnh, đeo túi bên hông, cầm gậy múa, miệng cười rất tươi. Ông đi đến đâu, trẻ con theo đến đó, miệng ông la toáng, chửi bới bất kể kẻ đó là ai, ông thích ông lôi tên ra sỉ vả. Cảnh tượng này quen với dân Sài gòn. Nay thấy ông ở Ngã Bảy, mai Tân Định, mốt Phú Nhuận, nhưng đặc biệt tôi chưa lần nào gặp ông ở Trung tâm Sài gòn. Lúc thấy vợ tôi rẽ sang Huỳnh Văn Bánh (Nguyễn Huỳnh Đức cũ), Bùi Giáng hỏi:

- Vợ mày đi đâu?.
- Đến Hội thánh Báp tít Ân điển, đường Nguyễn Văn Trỗi.
- Thế không đi Hội Thánh Trần Cao Vân nữa à?.

Bùi Giáng nhớ lần đến Trần Cao Vân nghe truyền giảng Tin lành, ông giơ tay lên xin tin Chúa. Mục sư Hồ Hiếu Hạ, chủ tọa thật mừng rỡ, bởi ông nhớ tới trước đó là Anh Quân, ký giả, rồi Kiều Giang, con nhà văn Hoàng Hải Thủy nữa. Lúc này Hoàng Hải Thủy đang học tập cải tạo. Khi được tha về, Hoàng Hải Thủy và Alice đều là tín hữu đấng Christ, thường đi thờ phượng Chúa ở Hội Thánh Hoà Hưng, truyền đạo Nguyễn Quốc Dũng chủ tọa. Tôi không trả lời cho Bùi Giáng biết Trần Cao Vân sau bị đóng cửa, mục sư Hạ từ Trại Cải Tạo về, đã ra thẳng phi trường Tân Sơn Nhất sang Huê Kỳ.

Đến Cầu Kiệu, hỏi thầy dạy đàn đi vắng, Bùi Giáng bảo tôi chở đến nhà ai đó bên Nguyễn Phi Khanh, gặp Bùi Kiến Thành ở Đức mới về. Tôi lắc đầu, nhìn đồng hồ, bởi trễ giờ nhóm. Bùi Giáng bảo tôi:

- Mày phải đưa tao đi, nghe không?.
- Tao bận, mày cầm ít tiền đi xe ôm tiện hơn.
Thấy ít, lắc đầu, nhất định buộc tôi chở đến Nguyễn Phi Khanh. Tôi cũng lắc đầu, gằn giọng:
- Không phải, trái gì cả. Tao không nghe lệnh của bất cứ thằng nào. Mày chê ít tiền, tao chỉ có vậy thôi chịu khó đi bộ vậy. Mày là vua đi bộ kia mà. Thôi xuống đi, chần chờ gì nữa. Tao đi đây.
Tôi đi một khúc, quay lại nhìn thấy Bùi Giáng còn đứng đó và giơ quả đấm lên không trung như đấm gió về phía tôi.

Cho đến năm 1993, một buổi sáng gần Tết Trung Thu – tôi đến Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, chi nhánh phía Nam – thời kỳ này, cửa hàng trên đường Hai Bà Trưng bán đầy đèn trung thu. Gặp Ý Nhi, đang trò chuyện, Bùi Giáng tới. Lữ Quốc Văn giơ máy lên bấm: Nguyễn Lộc ngồi đầu, Bùi Giáng, tôi và Ý Nhi trên ghế sa-lông. Ý Nhi tưởng tôi chưa gặp Bùi Giáng, nên giới thiệu tên. Bùi Giáng chỉ vào mặt tôi:

- Không phải Thế Phong. Thế Phong đi Mỹ rồi.
Như vậy, làm mặt lạ với nhau. Tôi trả lời:
- Ý Nhi giới thiệu đây là ông Bùi Giáng làm thơ phải không?.
- Vâng, anh Bùi Giáng. Ở Sài gòn từ trước đến nay cũng chỉ có một anh Bùi Giáng thôi ạ.
- Bà nói đúng. Chỉ có một Bùi Giáng làm thơ. Đúng, nhưng Bùi Giáng làm thơ của Sài gòn trước kia chết ở cầu Trương Minh Giảng ngay vào ngày đầu sau 30 tháng tư 1975 rồi.
Bùi Giáng trợn tròn mắt nhìn tôi, cái nhìn thật khinh bỉ, không nói ra. Ý Nhi hỏi:
- Anh nhầm rồi, đây chính anh Bùi Giáng. Anh không biết anh Bùi Giáng thật sao?.
- Biết, nhưng qua đời rồi. Nếu còn, là Bùi Giáng giả. Sau 30.4.1975, Bùi Giáng từ Viện Đại Học Vạn Hạnh với bộ quân phục, đeo lon đại tá chế độ cũ, huy chương đầy ngực, đi bộ qua cầu Trương Minh Giảng. Bộ đội gác trên cầu ách lại, lên đạn. Bùi Giáng sợ quá, đưa tay vào túi lấy khóa còng số tám ra khóa vào hai tay mình, vứt chìa khóa rồi nhảy ùm xuống kinh nước đen dưới chân cầu.
- Anh nói chuyện tiếu lâm đấy phải không? Ý Nhi tiếp. Em mới tái bản tập thơ Mưa Nguồn của ảnh. Vợ Bùi Giáng là họ hàng với gia đình nhà em.
Bùi Giáng gọi:
- Nương tử đem ra đây cho ta năm cuốn hỉ!.
Ông quì xuống, mở cuốn thơ, đặt lên bàn sa-lông, loay hoay viết. Rồi ông lại giở sang trang, viết tiếp, sau trao lại cho Ý Nhi. Ý Nhi cầm tập thơ, trang 1 tặng nương tử Ý Nhi. Qua trang 2, đề tặng Thế Phong đại ca. Ý Nhi thấy vậy, đưa tập thơ cho tôi. Tôi trả lời chỏng:
- Thế Phong thật đi Mỹ như ông vừa cho biết. Vậy sao lại tặng Thế Phong?. Thế Phong này là giả đấy.

Bùi Giáng không nói năng gì, cầm một bó tiền từ tay cô Hà (thư ký Nhà xuất bản), đếm cẩn thận rồi người cháu chở đi. Ý Nhi hỏi tôi, chuyện này sao ly kỳ thế. Tôi kể lại cho Ý Nhi nghe lần chở Bùi Giáng đi xe đạp, tôi nhấc ông ta bỏ xuống đường, ông giận tôi, làm mặt lạ từ đó.

Sao, ông Tiến Sơn?. Chuyện kể về Bùi Giáng, một kỷ niệm buổi sinh thời, giữa tôi và ông sau 1975 có vui không?. Còn tôi quen Bùi Giáng thời 1960, lúc ông đến thăm bạn cũ là Lam Giang (Nguyễn Quang Trứ) và vợ (bây giờ là Hoa Phương, mới in được hai tập thơ). Ông thuê hay mua (?) một căn nhà trệt ở trong hẻm Trương Tấn Bửu, ở với các em. Một buổi, ông đọc cho tôi nghe lần đầu tiên:

Con sẽ về thưa Thượng đế rằng
Trần gian có lắm chuyện lăng nhăng
Trần gian lắm kẻ không cơm áo
Mà con thơ thẩn cứ nhìn trăng…


Ở đây, tôi gặp rất nhiều người, nào Phạm Công Thiện, Sao Trên Rừng, Hồ Thành Đức vv…. Và buổi đưa tang Bùi Giáng, nhà thơ Chinh Văn nhắc tôi, lần đầu tiên anh biết tôi là gặp ở nhà Bùi Giáng.
Năm 1968, Chinh Văn ra khu, sau 75 trở về, hiện nay anh làm công tác biên tập cấp giấy phép xuất bản (Nxb TRẺ, TP/HCM). Và cũng năm 1960, Uyên Thao về Rạch Giá hoàn tất cuốn phê bình thơ, lúc đầu mang tên Lược khảo về thơ in ronéo, sau chín năm in typo lại, đổi tên là Thơ Việt Hiện đại (Nxb Hồng Lĩnh của Trần Tuấn Kiệt), sách dầy 500 trang, bìa trình bày đẹp mắt. Bốn câu thơ này được Uyên Thao trích, cho thơ Bùi Giáng có giọng bạt (chắc là bạt mạng) hơi hướng châm biếm Tú Xương. Ông này ra đi cũng một mình, người vợ lấy từ thuở ở Quảng Nam khi xưa qua đời – ông vào Sài gòn, làm bạn tình với Marilyn Monroë, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, …như là người tình trong mộng thơ, có lúc quá đà, làm thơ van nài nàng Kim Cương hãy đái lên mồ chàng thi sĩ điên, cho cỏ chóng mọc. "Cô Kim Cương ơi/ Nếu ngày mai tôi chết đi, mà cô không thể giỏ cho một giọt nước mắt/ Thì cô có thể giỏ cho một giọt nước tiểu cũng được/ Nhớ giỏ ngay trên nấm mồ/ Ở dưới suối vàng tôi sẽ ngậm cười mà đón nhận" (Sa mạc phát tiết, thơ). Lần đưa tang này, tôi thấy Kim Cương mặc bộ đồ đen, chắc nàng cũng có đôi chút mủi lòng giỏ nước mắt với người quá cố. Hoàng Hương Trang có bài thơ khóc Bùi Giáng:

TRƯỚC MỘ BÙI GIÁNG

Bùi Giáng thơ anh chẳng Bán Dùi.
Búi Giàng, Bàn Giúi mãi rong chơi
Ta bà tám cõi ngày vui múa
Chiều vơi trở lại mái hiên chùa
Nốc đế, vểnh râu cười cõi tạm
Ôm thơ, ngạo nghễ chốn xa mờ
Yêu em mọi nhỏ trong rừng rú (2)(*)
Bóp vú Liên Xô giữa thành đô (2)(***)
Mẫu thân, Kỳ nữ, Ni cô đó
Kim Cương, Trí Hải, Mông-rô ơi!
Gẫm thân anh sướng nhất đời
Vốn dăm ba vận, thu lời nhiều ghê!
Thơ anh cười ghẹo, chọc quê
Thơ anh lái líu, ê hề hôn mê
Anh về lội suối vàng khe
Bàn chân với nước có đè lên nhau? (2)(*)
Ngàn thu rớt hột, còn đâu? (2)(*)
Lá hoa cồn, vẫn đượm mầu an nhiên (2)(*)
Anh nằm đây, có ưu phiền?
Có nghe giọt nước… đỡ ghiền cõi âm? (2)(**)
Biết rằng rồi sẽ biệt tăm
Nhưng đêm nay chỗ anh nằm rất đông
Anh nghe không? Anh biết không?
Nào thơ, nào rượu, vang âm mộ phần
Anh còn sướng hơn cõi trần
Bạn anh còn mãi gieo vần kiếm cơm
Khói hương nghi ngút chập chờn
Mừng anh đi, với cõi hồn điên thơ.
Cái còn là cái đã cho
Anh cho nhân thế một kho thi tài
Anh đã vui suốt cuộc đời
Coi như quả đất nụ cười tròn vo
Cái đau, cái khổ, đói no
Anh đều đã trải, hư vô mịt mờ
Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương ()(*)

Dạ thưa xứ Quảng vẫn buồn
Thiếu anh, thiếu một nguồn hương diệu kỳ
Thôi anh ở lại, tôi
( … )

Hoàng Hương Trang
Sài gòn 1999

Trở lại với đời sống thường ngày của nhà phê bình Uyên Thao, chắc Tiến Sơn cũng muốn biết người bạn bậc tuổi anh sống như thế nào? Có những điều ông không biết, như tôi từng không hay. Chẳng hạn, năm 1957, Uyên Thao thuê nhà ở gần cuối đường Đoàn Thị Điểm nối dài, gần nhà Sơn, tôi chẳng nhớ là số mấy. Nay, Sơn cho biết đó là số 15B, nhà sàn, cất trên kinh Nhiêu Lộc, nơi này tôi có rất nhiều kỷ niệm và phản ánh trong văn chương đậm nét. Cả những dòng hồi ức rất sâu sắc Tiến Sơn viết trong thư, như: "…Em chỉ biết anh vào đầu năm 1957, lúc đến thuê nhà (cạnh nhà em) ở 15B Đoàn Thị Điểm nối dài, nhà sàn. Nhưng thực ra, em đã biết, từ năm 1953,54 ở Hà Nội. Lúc đó, em đang theo học tiểu học ở Trường trung tiểu học tư thục Dũng Lạc. Hàng ngày, em phải đi qua Trường trung học chuyên khoa Hàn Thuyên ở đường Hai Bà Trưng, Hà Nội. Anh thường ngồi trên xe đạp đờ-mi cuốc với vài người bạn học trò chuyện. Lúc này khỏi nói, dáng anh to con, như lực sĩ, cánh tay to vì tập tạ, thân hình rất đẹp. Cả đám học sinh đứng ở cửa trường, anh là nổi nhất. Nên đến năm 1957, các anh đến thuê nhà gần nhà em là em nhận ra anh ngay. Thời đó, anh có nhiều bạn gái, cô Oanh y tá trong thơ Nếu anh có em là vơï, em biết mặt là cô gái đẹp, có nước da ngăm đen…".

Sở dĩ tôi nói rằng ông Tiến Sơn nhớ lâu, cả mấy chục năm qua đi, có điều tôi không nhớ nổi nữa, như trường hợp tôi đứng ở cửa trường chuyên khoa Hàn Thuyên có dáng lực sĩ chẳng nói làm gì. Quan trọng nhờ đó, tôi nhớ lại khi học đệ nhị C, dạy sử là giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu. Thầy mặc quần soọc trắng, lại không mặc quần lót, giảng bài, chân ghếch lên bàn học trò. Cuối lớp, một cậu nghịch ngợm viên giấy làm đạn, lấy hai ngón tay làm ná, bựt dây thun. Con cu của thầy bị trúng đạn, thầy la lối om sòm, chửi thật tục, thế là giờ ra chơi kháo nhau: "Hôm nay, giáo sư Letourneau trúng đạn, kêu oai oái, như một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó". Thầy Lâu đeo kính trắng, người to con, đầu hói, giống hệt Cao Uỷ Pháp Letourneau hồi ấy. Bây giờ, tôi còn nhớ, thầy giảng: "Các anh phải nhớ là Nhĩ Hà, chứ không phải Nhị Hà". Có anh lên trả bài, cứ Nhị Hà, thầy nổi cáu "anh này óc bùn, mai sau ra đời làm trò trống gì được?".
Dạy Việt văn, lúc này không gọi là tân văn như ông Sơn, Mô học thầy Khoan đâu – một giáo sư ăn vận rất đúng mốt, thường là complet trắng, ngày nắng; màu xám, ngày mưa, giảng văn thao thao bất tuyệt, học trò lắng tai nghe như uống lấy. Đó là Đoàn Phú Tứ, tác giả Màu thời gian:

Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dịu vương hơi ấm thoảng xuân tình
Ngàn xưa không lạnh nữa Tần phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngắt
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh
Tóc mây một chiếc dao vàng
Ngàn trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng
Duyên trăm năm đứt đoạn
Tình một thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngắt.
(trích báo Ngày Nay)


Đọc thơ phải kèm theo CHÚ; đây là chú giải, những 10 chú giải độc giả yêu thơ mới phăng ra ý, tứ, hàm xúc như thế nào trong thơ Đoàn Phú Tứ, nói riêng; Xuân thu Nhã tập, nói chung.

Sau 1975, Đoàn Phú Tứ vào Sài gòn, có đến thăm họa sĩ Thái Tuấn. Anh kể cho nghe nhiều giai thoại về thầy Đoàn Phú Tứ của tôi. Có một giai thoại, chẳng biết có bao nhiêu phần trăm sự thật, ông đói quá, mỗi sáng lê lết trước tiệm phở quốc doanh để chờ những khách ăn còn thừa nước, xin và cầm bát húp, có khi cả cặn. Quần áo luôn chỉnh tề, có khi mặc complet, kính trắng nữa. Giỏi tiếng Pháp, sau được Thủ tướng Đồng (lúc ấy chưa gọi là Thủ tướng) giới thiệu với NXB Văn học dịch truyện dài Đen và Đỏ của Stendhal. Thời kỳ ấy, khó khăn gấp trăm lần, bản dịch được xuất bản với bút danh Tuấn Đô. Cả hai ông thầy đều qua đời, một ở Sài gòn - giáo sư Lâu vào 1967 và Đoàn Phú Tứ ở Hà Nội vào 1989, thọ 79 tuổi. Giáo sư Lâu tác giả Quốc Sử Tạp Lục, Nxb Khai trí Sài gòn in vào năm 1960.
Nếu không có Tiến Sơn nhắc lại giai đoạn tôi học Hàn Thuyên hẳn không có những dòng hồi ức về hai người thầy dạy tôi vào đệ nhị chuyên khoa văn chương (Ban C). Không biết ông Sơn có nghe tiếng hát của ca sĩ luật sư Khuất Duy Trác bao giờ không?. Hồi tôi học 2C, anh ấy học cùng trường, dưới một lớp.
Trở lại với anh Uyên Thao, cách đây vài năm, tôi sang chơi với anh chị ở Xóm Đình (gần Ngã Năm Liệt Sĩ bây giờ) là khu nhà nằm lọt giữa hai đường Đinh Bộ Lĩnh và Xô Viết Nghệ Tĩnh (con đường này mở sau 75) gặp một cô gái Việt kiều Mỹ khoảng hai mươi tuổi, quần soọc, da bánh mật, rất ư là Mexican. Thiếu nữ gọi anh Thao là ba, chị Hân là mẹ, ngọt sớt – tôi không dám tin là con gái anh Thao ở một dòng khác.
Cô có tên Tiêu Dao (phiên âm tiếng Việt), sống đời tự lập, theo học đại học. Khi trở về Mỹ rồi, cô gửi ảnh chụp chung bố mẹ cô và tôi, anh Thao cho biết đúng con gái anh. Cũng chưa tiện hỏi con gái anh với bà nào?. Cho tới một buổi, anh Thanh Thương Hoàng (Sơn có biết anh ấy không), từng là Chủ tịch Nghiệp đoàn Ký g iả Việt Nam, Trưởng Phóng viên nhật báo Chính Luận, nhà văn tác giả Kiếp Phong Sương, Lành Rách, …được Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia ưu ái ký giả, cho Nghiệp đoàn vay hàng trăm triệu xây cư xá Làng Báo Chí. Gọi anh là Thần Hoàng của Làng Báo Chí bên kia cầu Sài gòn chẳng có gì quá đáng. Lại được phu nhân Tổng Thống Thiệu đặt cục đất đầu tiên xây dựng Làng Báo Chí, một điều: "Ông Chủ tịch Nghiệp đoàn Ký giả…" hai điều "ông nhà báo lớn nhật báo Chính Luận…". Và phu nhân số 1 dự định đề bạt với Tổng Thống để anh làm Thứ trưởng Thông Tin. Nhưng anh Hoàng bị gạch tên vì có kẻ súc siểm: Chủ tịch báo chí cưới cô thư ký xinh đẹp tại văn phòng ông đặt trên lầu khách sạn Catinat, đại lộ Nguyễn Huệ làm vợ bé. Điều này bị đệ nhất phu nhân cho là thiếu đạo lý. Có một buổi, Thao, tôi, Hoàng cùng đi ăn cơm tây bụi (ở thành phố nay mở nhiều tiệm cơm tây rẻ tiền lại ngon). Hoàng hỏi:

- Mày làm thế nào lại có con gái với Trùng Dương?. Vợ mày không biết sao?.

Uyên Thao đành phải kể: Quen với Trùng Dương song hành với việc cưới Ngọc Hân chính thức. Chính Ngọc Hân đã lui tới thăm nom khi Trùng Dương lâm bồn và nhận Tiêu Dao là con ngay từ đó. Tiêu Dao tốt nghiệp Đại học Iowa được giữ lại trường giảng dạy và vừa đoạt giải văn học Mỹ trước khi về thăm Việt Nam. Giải thưởng này do báo The Chicago Tribune tổ chức hàng năm, là một trong những giải văn chương quan trọng luôn có sự tham dự của nhiều tác giả đã thành danh trong văn học Mỹ. Tôi có tặng Tiêu Dao tập thơ dịch ra tiếng Anh Asian Morning, Western Music. Cô ta đem theo về Mỹ. Bây giờ nhờ Lý Lan cho biết, rất nhiều sách tiếng Anh của tôi có trong thư viện Iowa đành lại phải nhờ Tiêu Dao photo dùm, gửi về cho tác giả ở Việt Nam.

Chị Ngọc Hân chưa thể viết văn tiếp nữa. Chị bị nhiều bệnh, nào là tim mạch lẫn thần kinh (nhẹ). Hai con trai của anh chị có việc làm nhưng chưa đủ cung dưỡng cha mẹ. Nhờ làm việc cật lực, dịch bộ truyện của Laura Ingalls Wilder ngót ba ngàn trang in, sang bản tiếng Việt mang tên Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, anh nhận được số tiền nhuận bút đủ để cho con trai lớn cưới vợ. Sau 1975, đi học tập cải tạo về, anh dịch sách võ thuật, làm báo võ thuật, cho đến bộ truyện dịch này với bút danh Lạc Việt. Lại tham gia làm từ điển Anh-Việt với Phạm Hữu Khánh, nhà thơ của Hà Nội trước 1954, cũng cho Công ty Phát hành sách Thành Phố (Fahasa), giám đốc Đỗ Thị Phấn, bạn thân Nguyễn Quốc Thái - qua sự giới thiệu được tin cậy. Nguyễn Quốc Thái ở trong nhóm Trình Bày của Thế Nguyên. Có giới thiệu lòng vòng vậy, Sơn ở xa mới hiểu được. Nên, quà tặng của Sơn cho anh chị Thao thực sự là ân tình thân thiết của bè bạn nhớ đến nhau. Cả anh Hoàng, anh chị Thao đang tiến hành thủ tục xuất cảnh, theo diện H.O. Hai người đi trước theo diện ODP vào cuối năm 1998 đến Cali, Tiến Sơn chắc biết tin rồi: Nguyễn Đình Toàn, nhà văn độc nhỡn và nhà thơ Thanh Chương của Không Quân xưa đang ở California.

Tiến Sơn cho biết tháng 12 vừa qua, California lạnh kinh khủng, luôn từ –5°C, -6°C, -10°C (dưới không độ), lạnh nhất từ hai chục năm nay, dùng máy sưởi mới chịu nổi. Rồi trả tiền điện, mệt nghỉ. Mặc áo jacket ba, bốn cái mới đủ ấm. Suốt ngày tuyết trắng rơi, thỉnh thoảng lại chịu cơn động đất rung chuyển. Ở trong nhà, tìm thức ăn cho ngon miệng, cho sướng thân. Và, ông Tiến Sơn nhất định không muốn nhớ quê hương nữa. Đủ rồi!. Nhưng chính nhờ trong thư, ông không thèm nhớ quê hương – riêng tôi gửi lời cảm ơn, ông đoán được điều nào không?. Đó là số nhà 15B Đoàn thị Điểm nối dài, Sài gòn 3 – căn nhà Uyên Thao, và một bạn nữa thuê, tôi ở nhờ – lại gợi cho tôi thật nhiều kỷ niệm, như vừa nhắc lại trên kia.

Anh Uyên Thao đang bổ túc hồ sơ xuất cảnh, anh Hoàng đến hai mươi này đi phỏng vấn. Điều không nói ra, nhưng vợ chồng anh Uyên Thao trong tình trạng không biết có đủ điều kiện xuất cảnh không? Mong dự định anh Uyên Thao về Biên Hoà trồng hoa hồng không là sự thật. Còn anh Hoàng, cũng mong không rơ vào trường hợp: "Nếu trong vòng hai năm, đến cuối năm 2000 chưa xuất cảnh được, thì mày biết sao không?. Tao đành mua một vuông lụa, bắt chước nhà văn Tam Ích vào thập niên 70 – dây thòng lọng lụa buộc lên xà nhà, tao đưa đầu chui vào, dưới chân chồng tự điển, lấy chân đạp ra xa…"(). Và đây là tóm tắt cốt truyện chưa kịp viết về Chú Tư Gà. Dự tính và viết được; hai chuyện khác hẳn nhau. Nhớ đến chuyện Đỉnh đồi hoa đào khởi sự từ 12 tháng 12 năm 1966, ở Đà lạt, vẫn chỉ có tên truyện cộng với ngày tháng ghi trên trang giấy đầu. Phải đến cuối năm 1998, mùa Giáng sinh, trong vòng một tuần mới hoàn tất được nó, với tên Truyện hoa đào năm ngoái, in ra gáy sách chẳng dầy dặn gì cho cam!. Viết xong được là may mắn với tôi, nhưng cũng phải cảm ơn nhiều lá thư của Hồng Dương đốc thúc, nào "chuyện hoa đào của ông tới đâu rồi; sao lâu quá vậy?". Nên tôi mới có hàng chữ trên trang đầu Truyện hoa đào năm ngoái, như lời cảm ơn H. ở Stockton là thế!.


( còn tiếp ... )


THẾ PHONG

THƯ VIẾT Ở SÀI GÒN
do VĂN UYỂN xuất bản và phát hành

Điạ Chỉ Liên Lạc Mua Sách :
Nhà xuất bản VĂN UYỂN
PO Box 1882
San José, Calofornia 95109, USA
Email: ttbg@sbcglobal.net


© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ

___________________________________________________________________

CHỈ DANH

. CAO Mỵ Nhân (1939- ), nhà thơ, tác giả Thơ Mỵ (S.61), Thơ Mỵ (nội dung khác với Thơ Mỵ năm 1961 in ở Mỹ 1992). Hiện sống ở Mỹ. (SG)

. DƯƠNG NGHIÊM MẬU Phí Ích Nghiễm (1936- ), nhà văn, hiện sống ở quận Phú nhuận, độ nhật bằng nghề làm tranh sơn mài thương mại. (SG)

. GIÁNG Bùi (1926-1998), nhà thơ qua đời ở Sài Gòn. (SG)

. GÀ Chú Tư tên gọi đùa nhà văn Thanh Thương Hoàng. (SG)

. PHỔ ĐỨC Lê Phước Độ (1940- ), nhà thơ, hiện sống ở quận 3. Trước 1975, cộng tác với Đinh Hùng trong Tao Đàn và chủ trương nhà xuất bản Nhân Chứng. Có trong tay nhiều tác phẩm chưa in. (SG)

. TỨ Đoàn Phú (1910-1989), kịch tác gia, trong nhóm Xuân Thu Nhã Tập. Tác giả bài thơ Màu Thời Gian rất nổi tiếng. Sau 1954 ở lại Hà Nội, dịch tiểu thuyết của Stendhal, ký Tuấn Đô. Hội viên Hội Nhà văn VN.

. TIÊU DAO Dao Strom (1973- ), con gái Uyên Thao và Trùng Dương, hiện ở Huê Kỳ, tốt nghiệp Đại học. Trường Iowa giữ lại làm thỉnh giảng. Được giải văn học Mỹ 1995 do báo The Chicago Tribune .

. THẾ NGUYÊN Trần Gia Thoại (1942-1989, Sài gòn), nhà văn, chủ nhiệm tạp chí Trình Bày, chủ trương NXB Trình Bày. Sau 1975, tham gia sớm Hội Văn Nghệ Giải Phóng, cán bộ biên tập tuần báo Văn Nghệ TP.HCM, cùng với Nguyễn Nguyên, Thái Bạch v.v…. (SG)

. THAO Uyên Vũ Quốc Châu (1933), còn có nhiều tên thật khác nhau như: Vũ Loan, Vũ Viết Loan, Vũ Hoàng Hà, Chương Lĩnh Thao …. (SG)

. TRANG HOÀNG HƯƠNG Hoàng Thị Diệm Phương (1938- ), nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, giáo sư hội họa Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định trước 1975 ở Sài Gòn. Hiện sống ở quận Bình thạnh. (SG)

. Ý NHI (1944- ), nhà thơ, hội viên Hội Nhà văn VN. Hiện sống ở quận Gò Vấp. Trưởng chi nhánh NXB Hội Nhà văn ở TP.HCM, 371/16 Hai Bà Trưng, quận 3. (H)

____________________________________________________________________________________



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC