PHẦN I
1
Thằng Lộng đặt can rượu vào đuôi thuyền rồi giục ông:
- Ông ơi! Người ta nhổ neo cả rồi!
- Hượm đã. Ông lấy cái túi nhựa cho bật lửa và thuốc lào vào kẻo bị ướt, rồi như hôm nọ chỉ nhai cho đã thèm - Ông Cát nói với cháu, bị cơn thèm ho lên vài tiếng:
- Hụ … Hụ … u … u
- Cháu can ông mà uống rượu còn được, hút thuốc thì béo bở gì. Lần nào ông hút chẳng ho, Lộng không sao cầm được nước mắt. Ông lại bảo mặc kệ họ, ra biển khơi mù tít tắp, không có điếu thuốc lào nó tanh cái miệng.
Hai ông cháu đi như chạy ra lưỡi cát vàng mênh mông. - Chặc! Trời loe loe thế này, chắc vớ được mẻ cá to đấy! Cháu nhớ cho cái đài vào túi ni lông rồi chứ?
- Cháu cho vào rồi, cả mấy cái bánh chưng người ta biếu ông nữa để để phòng lúc không thổi nấu được.
Cha cháu, ông Cát nghĩ trong bụng mà không nói ra lời. Nó gọi mẹ ruột là người ta, người ta… Làm như người dưng nước lã không bằng. Ừ thì nó không lên thành phố đi đánh giầy, ở nhà đi biển với ông. Nhưng ông Cát vẫn thấy xót trong lòng. Đáng lý ông phải cho nó đi học. Đang tuổi đến trường mà phải đi làm. Mà có phải là làm cỏ khoai, cỏ lúa trên đất bằng. Đi khơi, đành là dân vùng cát này, ai chả quen chuyện đi khơi. Nó còn non dại quá, thế mà khổ. Đằng nào nó cũng không theo bọn trẻ lên thành phố nữa là may rồi. ông mong mình còn sống lâu, còn đi biển được, rồi xuay chuyển tình thế… -Ông ơi! ta cho thuyền ra chếch mũi Chồng mấy sải? Không chờ ý kiến, Lộng cho lái vát về phía mặt trời hai sải. Mắt Lộng nhìn mặt trời một cách thoả thích. Một màu ngọt lừ toả ra. Ngày này quá ngày khác khảm vào người dân vùng cát thành màu đồng thau. Cái mặn mòi của biển cả, cùng ánh mặt trời đêm lại cho tiếng nói khoáng đạt của đại dương, lại có âm điệu du dương như tiếng sóng rì rào, dịu ngọt…
- Thế con nhất định không đến lớp nữa hả Lộng?
- Cháu không đi học nữa ông ạ !
- Thế sau này cháu đem cái lớp bốn…Ông Cát nén lại , không ra cái ý nghĩ mà phải nói lúc khác, ở trên bờ ông dậm chân bình bịch như người duyệt binh.
- Cháu đi học, mình ông làm sao kiếm ra cho đủ tiền để sống.
- Mày nói đúng…. Nhưng mà….
- Ông có để cháu lên thành phố đánh giầy, bán báo có thiếu gì cái đọc. Nói chứ còn hay hơn đến lớp.
- Ông thì cấm tiệt cháu có cái ý nghĩ ấy… Ông mà còn sống - Ông Cát nói đến đoạn đó thì lại tắc trong cổ họng. Thương cháu rồi lại thương thân, ông không sao vực được cái gia đình khốn khó này. Ừ thì giàu nghèo là do số. Nhưng cả đời ông lao động cật lực đầu tắt mặt tối không một ngày được nghỉ ngơi. Con ông cũng quanh năm xuay chong chóng ngoài khơi, ngoài lộng, rồi cái thằng cháu ông nữa, hỉ mũi chưa sạch lại ra khơi… - Ông, sao ông rầu rĩ vậy hở ông? – Lộng thấy day dứt không yên.
- À ông đang nghĩ xem mùa tới nhà mình có nên chặt thêm ít phi lao dặm lại căn nhà. - Ông ạ, mất non chục gốc đổi lấy cái đài bán dẫn rồi còn gì.
- Thì ông nói vậy, thật ra còn phải lo cho cháu đến lớp. Đi biển lúc nào chả được, nhưng học hành thì nó có lứa có thì. Để lớn tồng ngồng lại thẹn.
- Cháu biết vậy, nhưng mà không thể để mình ông đi với người khác được. Người ta bắt nạt cháu thì còn chịu được, chứ ông làm còn gấp ba người khác ấy chứ, ông nể, cứ bị thiệt.
- Ừ thì thiệt một tí, đời nó bù vào chỗ khác. - Bù đâu chả thấy, họ cứ đẽo vào ông. Còn chuyện phỉnh phờ làm như ông là nhà báo thời tiết không bằng.
- Mà cháu, nghe đài nó báo thế nào?
- Trời nắng, gió nhẹ… Ông chả nói câu mực và câu tôm đều được là gì.
- Thì cũng tin vào nhà báo thời tiết chứ… Này, con mẹ mày nó nói sao?
- Còn sao nữa,, ra thành phố làm thuê… Rửa bát, quét nhà….
- Thì cháu cũng phải thương cho hoàn cảnh của mẹ chứ!
- Ông bảo cháu mà không thương còn cầm mấy cái bánh chưng và trăm bạc làm gì.
- Mẹ cháu cực chẳng đã mới phải bước chân ra đi… Ông Cát không nói hết câu, đưa ngón tay chuối mắn ra chấm giọt nước mắt khô như hạt muối nơi kẽ mắt.
- Cả ông và mẹ cháu không muốn cháu ra thành phố đánh giầy. Thế bà ấy còn ra đó làm gì? Chấu lạ gì mấy bà rửa bát, hầu hạ khách hàng… Nét mặt Lộng có vẻ bực bội. Một làn gió làm hất ngược mái tóc vàng hoe như người ta chổng ngược chiếc chổi quét lên một hòn than đen bóng…
- Ta cho chạy vát về phía nam cháu ạ !- Ông Cát dịu giọng nhắc cháu.
- Ông xem kìa!… Hôm nay cả làng ra biển, lại chả ê hề tôm cá! – Lộng không dấu nỗi niềm vui, thoắt chốc em đã thành người lớn, can dự với ông chuyện làm ăn.
Thì ông đã bảo cháu mà… Kiếm được con tôm, con cá là ăn cái lộc biển cho mình . Ba cái thằng mất dạy nó dí chân vào mặt bảo cháu đánh giầy, có sướng không chứ?
- Ông nói thế chứ… cháu chỉ loáng cái là được vài ngàn đồng. Gặp người hào phóng không có tiền lẻ, mà vui tính lại cho thêm cả tiền, còn dặn dò lần sau gặp tao là cứ gọi nhé!
- Thế mà cái lần ông lên thành phố tìm cháu. Mặt mày thâm tím, bọn nó chả tẩn cho thừa sống thiếu chết mà chưa cạch.
- Đó là dạo đầu tiên cháu mới lên, còn bị bắt nạt. Chứ khi quen thổ rồi. Ông lại gọi về – Giọng Lộng ra chiều tiếc rẻ…
Ông Cát vỗ về: - Thôi mà… cũng tại ông không đủ tiền nuôi cháu… Khốn khổ cái thân ông…..
Ông không nhận ra làng quê, bờ cát đâu nữa. Biển mênh mông cùng lúc ùa về trong cặp mắt già nua của ông. Ông đón luồng gió mát, có sức cám dỗ lạ lùng. Bao giờ cũng vậy đôi cánh của biển cả mở ra làm cho ông quên đi mọi vất vả của đời người . Trái tim ông lại khát khao được đi khơi đi lộng. Khát khao dang đôi cánh ra che chở cho đứa cháu tội nghiệp.
2
Cha của Lộng là một tay đánh cá giỏi có hạng. Lặn xuống đáy biển căng đường đáy không hề biết mệt. Lại có tài nữa, cho điếu thuốc lá vào lòng bàn tay úp chặt lại, lặn xuống đáy biển khi ngoi lên vẫn phì phèo làm cháy điếu thuốc phun khói ra phì phì . Năm Lộng lên bốn tuổi, đã được cha cho lên thuyền chở phăng phăng ra ngoài khơi. Cha bảo, thằng Lộng là đứa con mẹ đẻ rơi đẻ rụng ngoài biển cả, nó là con của đại dương, phải cho ra biển sớm, Sau này, sẽ là thằng bơi lội có hạng. Mày mà vào được thủy quân thì làm trưởng soái của biển cả. Mẹ nhiều lúc không đừng được dòng hồi ức, chép miệng:
- Lần ấy, cũng khổ lắm cơ… Ông thì ốm nặng, mẹ bụng mang dạ chửa thế mà vẫn liều lĩnh cùng bố Khơi con đi biển. Mẹ cũng tin rằng con phải tháng nữa mới sinh.
- Có đúng là tháng sau nhà mới ở cữ chứ? – Bố hỏi mẹ
- Chắc là phaỉ hơn tháng nữa! – Mẹ trả lời không chắc chắn lắm.
- Thôi được. Ta cứ phải đi thôi! Kiếm lấy ít tiền mua thuốc cho ông.
Mẹ giấu bố đưa đi ít vải làm tả lót cho trẻ con và ít thứ lặt vặt khi có việc.
Con thuyền băng bổ gặp gió lao ra gần đảo Đàn Bà. Bố bảo mẹ cầm tay lưới cho chắc. Mẹ tỳ vào mạn thuyền lấy sức. Bố văng người cho sóng nuốt chửng lấy mình. Chà mẻ lưới mới ra mẻ chứ. Ê hề là cá cho xuống đáy khoang. Chú Bỉnh bảo mẹ: - Chị làm cho cẩn thận kẻo quá sức đấy. Nói đến chú Bỉnh, ai chả thương, vợ bảo vào Bình Dương tìm người nhà làm ăn. Chú nghe vợ bán hết cả cơ nghiệp theo vào đó. Ở nhờ, ở đợ người ta, sau tuyên bố thằng thừng, anh có về thì về. Em khổ không chịu được…Đành phụ lại tình anh thôi … chú về hôm trước thì hôm sau nhận được ở bưu điện giấy ly hôn của vợ. Thương tình, bố rủ chú đi phụ với nhà mình. Kéo được mấy mẻ lưới, trời đã sập xuống. Trời hơi oi. Mấy con thuyền bạn đã xuôi xuống xa mạn đảo Chồng. Chắc cũng vào bữa tối rồi. Mùi cá nướng ở đâu đó thoáng trong gió. Bố thái con cá thu ù còn giãy đành đạch ra từng nhát như người cắt ở chợ bán lẻ. Chú Bỉnh nhón lửa để nướng cá. Món cơm nắm còn ủ trong đám đồ đưa ra. Bố bảo mẹ: - Mình ăn cái món cá nướng này tẩm bổ. Còn anh và chú Bỉnh nhắm rượu bằng cá sống. Mà em có làm ngụm rượu cho con nó khoẻ.
Đêm ấy trời không trăng sao. Gió lùa từ đại dương lên mơn man, mát rượi. Hai gã đàn ông nằm ôm nhau. Mệt mỏi của ban ngày và xoa bóp của rượu làm cho thần hồn tan ra cùng biển cả.. Những vệt sóng từ trùng khơi chạy như đuổi nhau thành từng tia lạ lùng và man dại. Những khúc nhạc lạ lẫm, thoảng cất lên, chỉ ở đại dương về đêm mới có, dâng lên theo hơi thở cảu biển cả i ầm.. ì ầm xa xôi… hư thực…
Đến nửa đêm thì mẹ đau bụng…. Đầu tiên mẹ tưởng là do ăn mấy nhát cá nên mới ra nông nổi ấy. Đau dữ quá không nín được, mẹ đập ngay vào tay bố, kéo bố dạy:
- Anh Khơi ơi! Dạy mau đi!
- Có chuyện gì hở em?
- Không biết được. Em đau bụng lắm!
- Đau thế nào?
- Không biết được … Lạ lắm.
- Hay là em đau đẻ?
- Làm sao mà đẻ được?
- Chị đau đẻ à? – Chú Bỉnh lo lắng hỏi.
- Chả hiểu nó làm sao… Mẹ cố kìm cơn đau. Nhưng càng kìm cơn đau càng keo lên dữ dội.
- Làm thế nào hở anh Khơi – Chú Bỉnh hỏi giọng run run.
- Ta dương buồm lên, tranh thủ còn ít gió mau mau chạy vào bờ thôi.
Mẹ cố gượng dậy giúp bố và chú Bỉnh dương buồm. Cơn đau làm mẹ đổ sập xuống như người ném mẻ lưới. Thuyền chạy vào hướng bờ. Mẹ cứ ân hận một điều là không biết có đau thật hay bỡn, lỡ lại làm mất một mẻ lưới. Ông thì nằm ốm quay ốm quắt trên bờ, không thuốc thang. Vay mượn ngân hàng chưa trả kịp, người ta đưa giấy về xã nhắc ê cả mặt.
Đi về gặp mấy người đang ra khơi. Họ hét hỏi bố:
- Nhà Khơi chắc trúng lưới nên về hả?
- Kể là liều đấy, ai bảo bụng mang dạ chửa lại dám ra biển. Bố cười, buông lời đùa lại … ừ đẻ thì làm con của thần Biển … càng giỏi chài lưới chớ!
Mẹ rên rẩm. Bố cho thuyền dừng lại cắm neo. Chú Bỉnh, không nói không rằng nhóm lửa đun nước sôi.Mẹ đau quặn thắt cả người. Chú Bỉnh quát:
- Anh lặn qua thuyền đi … Lặn ba lần cho chị ấy dễ đẻ. Sau này mỗi lần có chuyện vui, lúc uống rượu chú pha trò. Không hiểu sao chú lại bày ra trò ấy. May quá mẹ tròn con vuông, bố đặt ngay nó cái tên là Lộng. Kỷ niệm lần đi lộng ấy, bố bảo chắc sau này Lộng là tay thạo nghề chài lưới. Vì mấy ai sinh ra đã đi thuyền đâu. Thế mà năm bốn tuổi bố cho Lộng lên con thuyền chở băng băng ra biển cả. Nghe tiếng sóng biển sớm nó gan lì không biết sợ.
-Cháu à! - Ông Cát thấy cháu ngồi ngật ngưỡng ngủ gật hỏi như quát vào tai.
- Dạ! Lộng giật mình trả lời ông như gào lên trên sóng biển.
- Thế mấy đứa lên phố đánh giầy đã đứa nào về chưa?
- Chưa ông ạ!
- Rõ khổ!
- Khổ gì mà khổ hở ông?
- Còn không biết khổ à!
- Loáng một cái đã kiếm được ngàn bạc … Ông bảo cân cá được bao nhiêu?
- Bao nhiêu … cá mình thu hoạch, của đất trời tổ tiên, còn cái kia là của bố thí.
- Ông nói thế … Bằng công lao động đấy. Đánh không ra gì người ta còn đá đít.
- Đúng là quân thâm độc … Con nhà người ta thế mà cũng dám đá à!
- Ông bảo, có lão còn quỵt tiền chứ lại.
- Thế cơ à! mày nói rõ ông nghe thử xem nào.
- Cái hôm ấy cháu đang sách cháp đi thì gặp ba gã vào quán Carao ôke gọi: Ê nhóc, đánh giầy. Sướng quá đi mất. Từ sáng chưa mở hàng đôi nào. Cháu cặm cụi đánh toát mồ hôi xong, lại còn thắt nút giầy cho từng người. Một gã chừng tuổi bố dí giầy vào mũi, nói: Cái quân lười nhác …. Mày đánh thế này à? Tên khác phụ hoạ: Cái món xi chết tiệt này xỉn cả giày của người ta. Xi tốt, ngoại đấy chú ạ. Tốt gì cái của này. Nói rồi cả bọn vào quán Karao ôke. Bụng đói cồn cào, chết không khéo nó quỵt thật. Cháu mếu máo chạy vào theo. Một thằng định giơ tay tát cháu. May có một cô ăn mặc loè loẹt, chớt nhả: Kìa anh sao lại đánh nó. Anh phải đánh cho bọn đánh giầy này biết tay.Xem nào. Ấy chết. Nó là em của em đấy. Em có cả em hả, sao không nói từ đầu. Này em lần sau, đánh cho anh nhé. Anh cho tiền đây. Ông biết không, nó nói nhỏ vào tai cháu: có cút mẹ mày đi, ông đá đít cho bây giờ …. Cái cô bênh cháu ấy, chắc là dân nhà quê mới lên. Kể thì cũng còn tốt chán, khẽ nháy mắt: Thôi em đi đi … Để chị cho lão ra bã… Ông Cát húng hắng lo. Lần này ông không hút thuốc mà vẫn ho rũ rượi, đoạn lấy can tợp một hớp rượu. Nói một mình nghe: Đời cùng còn người tốt… Ông đã bảo với cháu mà lại.
- Ông bảo sao? – Lộng gặng hỏi lại ông.
- Ông bảo không thiếu gì người tốt. Nói rồi ông chép miệng, tu hớp rượu. Ngay như ông đây này nếu không gặp người tốt thì hôm nay đâu còn ngồi đây với cháu mà câu mực, câu tôm ở biển quê mình …
Lộng nhìn ông khẽ mỉm cười … Ông lại sắp kể câu chuyện bị địch bắn rồi đấy, biết vậy nhưng vẫn giục ông:
- Ông kể đi. Cháu nghe nào, kẻo cháu buồn ngủ díp cả hai mắt đây này! …
- Cha anh, anh lại đùa ông rồi hả? - Ông đưa can rượu tu một hơi. Tiện tay buộc vào dây thừng bện bằng vỏ dừa ném tủm xuống biển. Ông vẫn khoe với Lộng - Ông ném xuống đó làm lạnh đấy! …
Vào cái năm một ngàn chín trăm sáu bảy ấy … Giặc Mỹ ra bắn phá vùng ven biển nhà mình giữ lắm. Trên không địch dùng máy bay của hai lực lượng không quân và hải quân. Dưới biển dùng tàu khu trục và tuần dương hạm cho pháo kích vào vùng biển quê mình.Thời đó đi biển khổ lắm. Lỡ không gặp may gặp người nhái. Bọn biệt kích của Mỹ – Ngụy ấy mà không làm sao mà trốn thoát được. Chúng bắt bớ, cho lên thuyền, có khi là mất mạng …Mặc kệ, chết chóc ta cũng phải có cách gì chứ. Chà chà, ta kéo pháo cao xạ xuống sát mép nước, bắn soi đường cho pháo mặt đất nả vào tàu chiến. Thế chưa đủ, các thuyền đánh cá của ta ra khơi, gặp tàu của nó phát hoả làm điểm sáng co pháo mình ở trên bờ điều chỉnh tiêu cự mà nả đạn.
Thời đó ông cũng mới vừa trao khăn quàng lại cho các bạn, được kết nạp vào đoàn. Vinh dự lắm. Lại được vào đội du kích cảm tử bảo vệ vùng biển. Ông được biên chế vào tổ ba người: Đồng chí Cát (ông đấy), đồng chí Hùm (bố chú Bỉnh) và đồng chí Lèo (đẻ ra chú Lái) là tay súng trường cừ lắm.
Hượm đã, rồi ông kể cháu nghe. Tại sao bố chú Bỉnh lại có tên là Hùm, cái lão Hùm ấy mà, là chúa giỏi. Hai bàn tay không mà lặn xuống biển bắt được mỗi tay một con tôm hùm tổ bố, cả nửa cân ấy. Tài thật, ở cái vùng biển này lúc nào cũng có người tài …. Nhiệm vụ của tổ cảm tử ấy à, phải áp sát tàu địch. Dùng địa lôi và ống nứa, hoặc ống tre nhìn bên ngoài tường là phao, nhưng lúc gặp tàu địch là phóng hoả sang cho tàu ta ở bên bờ bồi pháo vào cho nó chừa đời.
Lần ấy căng lắm. Mà thằng địch có phải là thường. Nó cũng tìm cách đề phòng chứ. Với lại quân mình ra khơi cũng phải tìm cách trà trộn vào thuyền bè của dân thì mới che nổi mắt địch được. Trên mặt đất có khu phi quân sự, vĩ tuyến ngăn cách bằng cầu Hiền Lương, chứ ở biển thì chúng chịu. Ra đến biển là dân hai miền có thể gặp mặt nhau. Nói tiếng là chúng nghe thấy nhận ra. Nhưng bằng ánh mắt thì chúng chịu.
- Lộng? Tao ru cho mày ngủ rồi hả?
- Không cháu vẫn còn thức đấy, ông kể đi!
- Cha mày. Mắt díp lại, cái tay phải thức mà kéo câu đấy.
- Ông kệ cháu. Mà ông đừng hút thuốc lào nữa, kẻo ho lại khốn. Cá tép nó chả chịu cắn câu.đâu.
Thế là lần ấy tổ của ông. Đồng chí Cát, đồng chí Hùm và đồng chí Lèo được trang bị AK, B40… tạc đạn ra khơi … Phải đánh chúng nó mà giữ lấy vùng trời vùng biển chứ. Đêm ấy trên bãi biển các đồng chí chỉ huy làm lễ xuất kích. Các bà, các cô không nhịn được khóc,khóc thút thít. Nếu không chê tui đen thì sau đợt ni về sẽ làm lễ vợ chồng. Thằng Lộng không được cười, trêu ông: Thế mà người ta bảo, ông lì như Cát.
- Cha cái thằng, lúc trước ông của mày ai chả mê về cái tài đánh bắt cá … Cái thằng Khơi còn giỏi hơn ông cơ mà chỉ cái tội liều …
- Chắc bố cháu cũng bắt chước ông đấy!
- Thì cháu bảo, dân làng Cát mấy ai được học hành chữ nghĩa. Cả đời lặn ngụp với sóng gió. Như con cá ngoài biển khơi, lên bờ còn vẫy vùng làm sao được.
Thằng Lộng thấy nhúc nhắc cần câu vội lẫy khuỷ tay cuộn từng vòng từng vòng. Bàn tay xoè ra nom chẳng khác gì cành phi lao gầy guộc. Bất thần, bàn tay khoát tròn dẻo như người múa trên đầu, đặt con mực to bằng cái vung nồi trong khoang. Hở cả răng lợi ra hỏi ông: Có được cân hở ông?
- Cũng khá khá đấy! - Ông Cát nuốt cái ực nước miếng vào trong cổ, coi bộ rất thèm được nhắm rượu với mực sống.
- Hay cháu cắt nhỏ ra để ông nhắm?
- Hượm đã, ông vừa bươi thì rồi còn gì?
Tiếng sóng vỗ ì ọp vào mạn thuyền như rủ rỉ. Nhìn thấy thằng cháu ngồi thu lu, vùi đầu vào mớ vải buồm, ông Cát cất giọng khàn khàn, xa xôi như thể tiếng nói ỉ âm từ đại dương dội lên, kể về trận chiến với tàu biệt kích Mỹ.
3
Đêm ấy trời tối mịt mùng. Ở biển trời lại càng mau tối. Phải nhận ra hướng đi bằng các ngôi sao. Những ngôi sao thật thân thuộc với người đánh cá biển. Nhìn vào sao, người ta biết mình ở xa đất liền bao nhiêu cây số. Biết mình đã vào gần lắm, ở Phương Nam có người bà con trong vùng địch hậu. Biết con thuyền còn cách xa bờ biển đảo Hải Nam bao xa. Nhìn sao nhận ra con đường còn phải bơi chèo, mệt mỏi, cũng phải gắng gượng mà sải tay, kiên nhẫn mãi vượt sóng gió để còn vô số những bè mảng, thuyền của ngư dân đi khơi. Không có họ thuyền cảm tứ sẽ bị địch tóm gọn, không tài nào mà tiếp cận được tàu chiến địch. Cát cùng với Hùm và Lèo thả lưới. Hàng chục thuyền khác cũng thả lưới như thể không có chuyện gì sảy ra.
Hùm sốt ruột nói:
- Hay hôm nay chúng không đi hở Cát?
- Bậy nào … Trên báo chiến dịch của chúng mới bắt đầu.
- Kệ nó, mình cứ làm vài mẻ lưới có sao! – Lèo có vẻ bực mình vì động tác rời rạc của Hùm. Câu nói của Lèo chưa dứt thì cả một vùng biển sáng rực lên. Trên trời bỗng pháo sáng bùng ra như thể bọn giặc cùng lúc bật công tắc đèn trời. Tiếng động cơ phản lực và tàu thuỷ cùng lúc ập đến đè lên ngực và tai muốn xé nát cả màng tai, đè bẹp những con thuyền và người dân đánh cá. Thoắt một cái tàu khu trực lù lù nổi lềnh bềnh trên mặt biển. Tiếng máy tàu im bặt. Rồi tiếng rèn rẹt của xuồng máy quét lia lịa, bao vây toàn bộ thuyền bè lại, vòng hẹp dần.
- Ê tụi bay ai cho ra biển? - Tiếng quát từ loa phóng thanh trên tàu khu trực:
- Yêu cầu bà con dừng ngay việc đánh cá xa bờ.
- Yêu cầu dừng ngay công việc!
- Yêu cầu có vũ khí phải nộp lại!
- Ai không tuân lệnh sẽ bị bắn bỏ.
Có tiếng nói to cốt át tiếng loa từ thuyền ngư dân:
- Chúng tôi đi đánh cả ở biển không đụng đến các ông!
- Chủ quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!
- Chúng tôi có quyền được đánh bắt cá!
Ánh đèn pha lướt từng con thuyền, một giọng nói đặc sệt của địa phương vùng cát: - Yêu cầu bà con đem nộp bọn du kích ngay cho!
- Mẹ thằng nào đi liếm gót giặc.
- Đầu hàng đi không bắn bỏ! – Tiếng lên đạn loạt xoạt!
- Đã đảo xâm phạm vùng biển Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tiếng Hùm nói nhỏ vào tai Cát: - Bây giờ phải áp sát vào tàu giặc. Anh bảo với tụi nó là đại diện lên thương thuyết. Tôi và Lèo sẽ trèo lên, anh ở dưới này bắn B40.
Một chiếc xuồng máy chạy ngoằn ngoèo như con rắn làm các con thuyền nhỏ bị xô nghiêng ngả chực chìm nghỉm trong nháy mắt. Cát nói với Hùm: Tôi lặn giỏi để tôi lên tàu giặc, hai đồng chí cứ nhằm vào buồng máy mà nã B40.
Chiếc thuyền cảm tử lại áp mạn tàu. Cát cầm đoạn ống tre bên trong có chứa chất phát nổ, một tay với lấy thành tàu đu người nhảy lên, miệng gào lên cố tỏ vẻ khiêm nhường:
- Đề nghị để bà con tôi được yên ổn làm ăn.
- Bắt lấy thằng này … du kích đấy!
- Mày … - Cát cố dương mắt ra nhìn xem đứa nào làm phản. Thì ra thằng Hứ cái thằng nhát như cáy bỏ trốn đi biệt tích từ lâu nay; Cát gào to cho dân làng ở các thuyền nghe: Thằng Hứ! Đồ phản bội dân làng - Đồng thời cùng tiếng nói của Cát là lửa bật ra từ ống tre. Cùng lúc Hùm và Lèo nả đạn vào khoang máy tàu giặc. Phía bờ đạn pháo vạch từng đường thẳng căng vào điểm phát sáng. Tiếng máy bay bổ nhào néme bom. Đạn rốc két nhằm vào những chiếc thuyền đánh cá vạch từng đường lửa … Cát hét lên: Bắn bỏ mẹ chúng nó đi – Lao ống nổ và bất ngờ nhảy xuống biển lặn mất tăm.
Ông Cát bị thói quen cám dỗ. Kéo sợi giây buộc can rượu từ đáy biển lên làm một ngụm. Vẻ mặt không dấu nổi niềm vui: Uống rượu trên biển thích thật. Say từ bàn chân say lên … Mắt nhoà vào dòng ký ức, xa xôi mà như mới ngày nào.
4
Biển cho làng Cát bao hải sản quý giá. Cho người dân làng cát dũng cảm đời này qua đời khác. Lòng khát khao tìm hiểu về biển cả nguồn sức lực dồi dào của đời người. Lấy nơi biển sự mặn mòi của cá tôm, thơm phức và bổ béo. Nuôi sống cho con người, dâng hiến cho con người không biết ngừng biết nghỉ. Con người dựa vào biển cả để sinh tồn, đời này qua đời khác. Với biển khơi dù mệt mỏi nhưng cũng không được chán nản. Từ lúc lọt lòng mẹ vừa cắt rốn oa oa chào đời đến khi nhắm mắt đã có tiếng biển reo trong máu và trào dâng trong mỗi phút giây sống. Trong bàn tay ấu thơ vọc cát, trong bàn tay tráng kiện khoát nước biển, ôm biển vào lòng, lặn ngụp trong biển cả đầy thân thiện và xa lạ biết bao … Đời ông bà tổ tiên của ông Cát sinh lập cơ nghiệp, gắn bó với biển cả. Đời ông Cát vọc cát biển và chèo chống không ngơi nghỉ. Từng chiến đấu với giặc giã, từng ước mơ chinh phục biển cả bằng con thuyền, bè mảng, rồi thời gian cứ lướt dần buột qua như bàn tay như sợi dây thừng. Phút chốc trong tay còn đầu gút kéo co với biển cả, không hề chán nản nhưng cũng không thể kéo được biển vĩ đại trở thành nhỏ bé, thành ao nhà, mặc sức làm theo ý mình. Chỉ biết dặn con cái nhà. Yêu lấy biển, núp mình trong biển cả, mò trong đó tìm lấy nguồn thức ăn vô tận, nguồn sống không bao giờ biết chán nản. Mệt mỏi của lần đi biển, với lấy chai rượi, vùi trong giấc ngủ, vùng dậy khỏi lá buồm, lại căng buồm, kéo cột ra khơi. Biển quen biết mà lạ lẫm xiết bao …
Lộng được cắt rốn và tắm rửa bằng nước biển, khóc tiếng khóc chào đời nơi đại dương mênh mông. Tưởng là biển bao la chờ cậu khôn lớn, mới đón người cha dũng mãnh đi gặp thuỷ thần. Ai ngờ cơn bão quái ác, đã cướp mất cha em. Ông dắt Lộng đi khắp lượt người nằm đắp chiếu trên bãi biển để nhận mặt. Thằng Khơi bố cháu đấy. Nó không ở với ông cháu mình đã ra khơi rồi. Bố cháu gã trai có trái tim cực lớn. Rời bộ đội về làng, tay dắt theo người con gái, ông hỏi, Khơi mày đưa con nào về đấy. Con đưa nó về làm dâu thầy mẹ. Nó là đưa con gái côi cút. Cha mẹ bị thần biển cướp đi rồi. Về làm dâu nơi làng Cát nhà ta thôi. Nó có biết phơi cá không. Vợ con còn biết nướng cá cho đàn ông nhắm rượu. Nó có biết ra bãi biển ngóng đợi con thuyền côi cút của người chồng đi khơi về không? Nó có biết nhảy lên thuyền ra biển để tìm chồng không. Mẹ con đấy, cái con Khoai, có bộ đa đỏ au của khoai làng Cát. Nó siêng năng như con sóng biển. Biết dậy cùng lúc với mặt trời. Biết đi ngủ cùng con nước lên đợt cuối. Và nó đẻ ra cháu nơi biển cả, nơi lộng xa kia và cho cháu cái tên Lộng vậy đấy. Bão dữ quá đã đem cha cháu đi hầu hạ thủy thần dưới đó. Ông biết mà cái số ông chưa được ngồi trên bờ ngắm trăng sao mà uống rượu, mà cười đùa với sóng biển. ông phải ra khơi thôi. Cháu đừng bỏ học, còn ông đây. Còn sức, ông còn cho cháu con tôm con cá. Cháu phải kiếm được cái chữ học lấy cái nghề lái tàu. Vùng biển quê ta, đời này qua đời khác chỉ có con thuyền nhỏ, ăn mày con tôm con tép ven bờ. Ôi biển cả, có cơ man là cá to, cá lớn … vậy mà dân làng Cát, cái bụng vẫn lép. Cái gan đâu có bé, mắt lại không nhìn được xa …
Một chiều, ở lớp về không thấy mẹ và ông đâu, Lộng đứng thẩn thờ nhìn ra biển. Bao giờ cũng vậy, buồn hay vui Lộng đều ra biển. Thầy cô trách mắng không có tiền học, ra biển,. Lúc được điểm mười ra biển. Bố mẹ cãi nhau về túng bấn không đủ tiền sửa lại tàu thuyền. Lộng ra biển. Biển không hề nghe thấy lời than vãn của em, sóng từng đợt vùi lấp đi nỗi đau khổ, dằn vặt và bỗng nhiên oà lên cười vui. Đừng buồn rầu … Đừng buồn rầu làm chi. Con Tuyết nhọ nó chả, nói với Lộng rồi sao? Mày đẻ ra nơi biển cả mà nhút nhát hơn con gái. Thiếu gì cách kiếm sống. Ra biển mà hôi rùng, cũng được bát tép mà kho. Hay là mua lấy ít hương vàng bán cho người tắm biển lên lễ chùa. Đi làm thuê đấm bóp cho mấy lão Tây ba lô mà không sợ à. Sợ gì? Sợ bọn nó bắt cóc bán cho nước ngoài. Đen như tao có ai ngó đến. Lòng phải kìm mới không thốt ra, bảo mày như hòn than nhưng bù lại có mái tóc cháy màu nắng không khác gì con bé trong phim. Hơ, mày bảo sao. Hay tao với mày lên thành phố làm thuê kiếm sống. Còn ông. Ông ở lại một mình thương lắm. Mẹ tao bỏ đi biệt tăm rồi. Để ông lại, nhỡ xảy ra chuyện gì thì ân hận lắm. Không việc gì đâu, kiếm được tiền gửi về cho ông, sợ gì. Mới lại cậu có tiền đâu mà theo học. Để ông cậu đi làm cửu vạn cho mấy lão tham lam à. Kiếm được ít tiền bị nó trấn đằng đầu lột đằng đuôi. Lại phải cõng trên lưng một thằng cháu vô tích sự. Nhưng bỏ học thì tiếc lắm. Tuyết nhìn thẳng vào mặt bạn tỏ vẻ thông cảm, nhưng không nhịn. Cậu chế giễu mình rồi, lấy đâu ra tièn mà đi học. Mình học còn kém cả Tuyết cơ. Cả đời vất vả trận mạc. Bây giờ lại phải thay cha mẹ mình …
Hai đứa lặng lẽ đi trên bãi cát. Mặt trời đã khuất ở dãy núi mờ xa. Tận đẩu tận đâu, trong câu chuyện ông hay kể đó là Trường Sơn quanh năm mây phủ. Rừng Trường Sơn đằng đặc từng vùng cát này vào cực Nam xa xôi. Lộng nhìn ra biển khơi, không khỏi thở dài vì thấy mình bất lực. Một con thuyền vừa xuất hiện ở phía chân trời … Con thuyền cô độc đang chạy thi cùng thời gian, chạy vào bờ kịp tối.
-Cậu nghĩ gì thế? – Tuyết hỏi gặng.
- Phải xa xóm chài này, mình nhớ lắm!
- Bọn mình còn trở lại cơ mà!
- Liệu ở trên ấy có sống nổi không?
- Lo gì, rửa bát, đánh giày, hoặc nhận ít sách báo theo tàu xe đi khắp đó đây…
- Kể ra cũng có thích đấy ….. Nhưng còn nơi ăn ở?
- Lo gì, nhà mình có người bà con bán phở trên phố, ta xin ở nhờ…
- Họ lại có thể cho bọn phất phơ như tụi mình ở nhờ?
- Cậu cứ nghĩ chín đi, mình sẽ đợi.
5
Ông Cát thấy nằng nặng ở đầu ngón tay, chẳng nói chẳng rằng kéo vội đây câu. Miệng khẽ gọi: Lộng ơi! Không có tiếng trả lời. Chép miệng, tưởng Lộng ngủ nên nói rõ thành tiếng. Đó có phải là thói quen của người đi biển, hay riêng ông lúc cô đơn thèm nói, nói một mình cho mình nghe. Biết là một mình, cứ thích nghe như nói chuyện với ai đó – Chắc chú chàng lại nhớ cái bọn đánh giầy, bán báo, ở phố xá chả rộng chân rộng cẳng. Nằm chi mà nằm. Cứ như người ta xếp cá ở chợ mà bán. Sướng chi cái kiểu ấy chứ. Nóng bức ngột ngạt. Chả biết cái thể thống dân biển. Chật hẹp hôi hám. Chứ ra biển muốn hít thở không khí quanh năm không biết chán. Lại còn ăn uống, vài con cá tạp nhạp. Chứ ở đây à, muốn ăn gì thì ăn. Cá đấy, mực đấy cứ việc. Vài ba nhánh tỏi, tí chanh, rắc với ít rượu là cứ ê hề. Trời, biển và mình. Ai bảo đời không sướng. Nói chứ cái ông trời, thằng Lộng cháu bảo có lạ không. Lại sinh ra cái biển, rộng hếch rộng hoắc. Không cho người ta biết đáy biển nó ra sao. Mò được xuống chỗ này thì mất chỗ kia. Biết nơi đâu mà mò đáy biển. Cả đời toàn đánh đố. Đời nọ sang đời kia, đánh cá, câu mực mà không tài nào hiểu được. Lạ thật!
- Thế sao ông hứa với cháu là dạy cháu lặn?
- Á chà chà! Ông tưởng cháu ngủ rồi? - Cháu ngủ được lúc. Ông hút thuốc lào đánh thức cháu dậy đấy.
- Cái thằng từ chập choạng ông đã hút điếu nào đâu.
- Rõ ràng ông kéo sòng sọc, lại còn nói chuyện với ai nữa!
- À ông đang nghĩ đến cái đoạn đánh tàu giặc và bị bắt. - Nó chở ông vào tận đâu hả ông.
- Xa lắm … Cólẽ tận Đông Hà, Cửa Việt thì phải.
- Thế nó không giam ông lại à?
- Sao lại không. Nó cột ông vào cột buồm. Và định hạ thủ mà lại…
Sóng đập vào con thuyền bé nhỏ. Chỉ có sóng cứ trẻ mãi. Từ lúc ông Cát biết biển vẫn thế. Bây giờ vẫn thế. Lên đến bờ rồi ông lại nhớ, nôn nao … Đi trên cát mà ông cứ tưởng dưới bàn chân bập bềnh sóng biển, ru rỉ thì thầm.
6
Pháo mặt đất từ trên bờ nhờ có ống phóng của ông Cát mà điều chỉnh cự ly bắn ròn rã. Hai ông bạn Hùm và Lèo nhằm vào khoang máy nã B40. Một chiếc tàu biệt kích và cả bọn nhảy sang lia đạn như điên. Tiếng đồng bọn hô:
- Phải bắt sống bọn Việt Cộng!
- Không cho chúng nó thoát!
- Sẽ thưởng cho thằng nào tóm được chúng nó.
Cả ba người cùng nhảy khỏi thuyền lặn một mạch. Xuồng máy chạy ràn rạt trên mặt biển, xối đạn uy hiếp. Lần này chúng không thèm vây bắt thuyền của ngư dân, mà vây bắt bằng được con thuyền cảm tử. Ông Hùm bị ngay loạt đạn đầu tiên của giặc bắn trúng, màu đỏ lan ra mặt biển. Ông Cát lặn một mạch ra xa tránh đeo bám của tàu và xuồng máy biệt kích. Vừa ngoi lên mặt biển lấy hơi đã bị ngay một ánh đèn pha cực mạnh dọi vào làm nẩy đom đóm mắt. Những nắm đấm tới tấp đánh thằng vào mặt. Không để cho ông kịp chống cự hoặc lặn ngụp xuống biển. Chúng chụp lấy ông như người ta dùng vợt vớt cá. Phải bắt sống bằng được thằng ném ống phóng lên tàu chỉ điểm cho Pháo Việt Cộng. Không để cho ông tỉnh dậy, đã trói nghiến vào cột buồm. Hai thằng lăm lăm hai khẩu súng canh chừng. Sẵn sàng nổ súng nếu có hành động chống đối.
Lúc mặt trời lên cao bằng cột buồm thì ông tỉnh lại. Tàu vẫn chạy băng băng vào phía nam. Một thằng sĩ quan ăn mặc sạch sẽ, chắc là chỉ huy, tháo đôi găng tay trắng toát, lấy ngón tay út nuôi móng dài khẽ gại vào tinh mũi ông Cát, hất hàm:
- Tụi bay tưởng vài thứ vũ khí thô sơ có thể diệt được tàu khu trục sao?
- Thưa đại uý, thằng này phóng hoả vào tàu đấy ạ!
- Tụi bay cho nó ăn uống tử tế nhé!
- Dạ …
- Nó mà chạy trốn thì bắn bỏ!
- Bắn bỏ … Đến địa phận của mình rồi. Nó chạy đâu cho thoát.
Được thằng chỉ huy ra lệng, bọn giặc tháo dây trói. Chúng nó cần cái lưỡi của ông Cát. Đặt đồ ăn trước mặt ông Cát quát: Ăn đi … Liệu hồn, dở trò là ăn đạn đó nghen. Ông Cát chẳng nói chẳng rằng ngồi ăn. Ông nghĩ, khó có thể thoát khỏi mũi súng của giặc. Thấy ruột gan cồn cào, phải ăn để cầm cự, chờ thời cơ. Mới mười bảy tuổi đầu, ông đâu có kinh nghiệm chiến đấu gì. Ngay địa lý vùng biển này ông đâu biết. Đi biển cũng chỉ nhìn sao, đoán hướng là biết vào nam hay ra bắc. Ông đâu rành đâu là Vĩnh Linh, Quảng Trị là biển của miền Trung và Nam Bộ … Nhưng lòng gan dạ thì ông có thừa. Ông dám trèo lên tàu giặc phóng hoả. Dám cướp súng bắn lại giặc rồi nhào xuốn biển để thoát thân … Ông là cậu thiếu niên vừa dời khăn quàng đỏ, vừa được kết nạp đoàn. Ông lúc đó thật tự hào được chiến đấu bảo vệ vùng trời vùng biển quê nhà. Ông phải ăn để lấy lại sức, sẵn sàng chịu đựng mọi tra tấn của giặc, quyết không khai những bí mật của mình. Ngày mai, ngày kia địch có thể rải truyền đơn rêu rao: Thằng Cát đã phản bội. Khai những việc sau đây…
Tàu chạy sáp vào bờ. Tiếng loa chỏ vào thuyền bè của dân đi biển quát: - Đồng bào chú ý, mau dẹp đường cho tàu quân lực VNCH vừa bắt được địch. Sẽ triển lãm để bà con biết bộ mặt quân lực Việt Cộng.
Đằng nào thì cũng chết, quyết không để cho tụi giặc làm nhục. Nghe thằng Đại uý vênh váo trả lời: Không cần trói, nó chạy đâu cho thoát. Ông Cát bụng bảo dạ. Hãy chờ xem, bọn mày có dám bắn trước mặt đám đông người kia không. Cũng may mà ông kịp ăn bánh mỳ và thịt hộp lấy lại được sức lực. Cái mùi thịt hộp hôi như cá chết. Nhưng kệ, miễn là sống được cái đã. Chúng vẫn réo loa: Mời đồng bào xem mặt tên Việt Cộng biệt kích từ ngoài bắc vừa bị bắt … Ông nhảy tùm xuống nước, lặn một mạch vào gần những con thuyền ken xít vào nhau. Tiếng đạn lia bụp bụp xuống nước đuổi theo ông. Đạn bắn dưới nước có ăn thua cái mẹ gì. Một hơi… một hơi nữa…cố lên nào Cát, đằng nào mày cũng phải cố thoát khỏi bọn giặc. Gặp một con thuyền có người đàn bà và trẻ nhỏ. Ông cố làm cho họ yên lòng. Tôi … Là dân chài lưới … Bị bọn giặc bắt … Người đàn bà, chắc là mẹ, mặt hoảng sợ biến sắc. Nhưng cậu bé thì tỏ ra rắn rỏi: Chú cứ bám vào cạnh thuyền … cháu cho áp vào ven cửa sông … Đợi đêm … Trời ơi! Thật ông trời có mắt … Người tốt … Người tốt không thiếu ở trên đời này. Chiếc ca nô của địch áp sát chiếc thuyền tép. Tiếng nói xổ ra: Chúng mày có thấy đứa nào bơi qua đây không? Dạ thưa ông, có đứa nào bơi được từ cảng tới đây. Chắc trúng đạn chết chìm rồi. Một tiếng thằng khác nói. Thế là ta đã gặp may rồi … tụi nó tưởng ta bị trúng đạn … Đêm đó không hiểu bằng cách nào, mẹ con người đàn bà lại đưa được ta thoát lên bờ. Chân đã bị thương chảy máu mà ta nào biết được. May mắn làm sao ông Cát gặp được người mình. Ông khai báo họ, tên, quê quán và sự việc, chắc người mình đã biết rõ chuyện trên cảng Cửa Việt nên thông cảm cho hoàn cảnh của ông. Một đồng chí chỉ huy còn rất trẻ hỏi: Đồng chí có theo đường dây quay ra bắc. Hoặc chúng tôi chuyển đồng chí về đơn vị chiến đấu?
- Đồng chí ơi! Cho tôi được đi chiến đấu – Thật có trời mới biết ông Cát lúc ấy sung sướng nhường nào. Ông đã làm một cuộc hành quân vào tuyến lửa mà không hề phải vượt Trường Sơn.
CÒN TIẾP...
__________________________________________________________
TỪ NGUYÊN TĨNH
© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ