Thánh Gióng Lòng Dân







Thời Hùng Vương có một bà. Tuổi nhiều, sống một mình. Không dính bận một chàng nào cả.

Một sớm đi thăm nương. Thấy vết chân khổng lồ. Ai nhẫn tâm, giẫm nát mấy luống cà. Bà kinh ngạc kêu giận dữ:

-  Bàn chân ai to thế, ối giời ơi!

Tò mò, bà đưa chân ướm thử. Lạ lùng thay, bổi hổi bồi hồi. Hân hoan rạo rực, tình hoan ca, bà mang thai. Chín tháng mười ngày, vui chờ đợi. Sinh bé trai bụ bẫm, đặt tên Gióng.

Thằng bé lên ba, lừ đừ chẳng nói, không cười. Nằm ngửa đòi ăn. Nằm nghiêng không biết lật. Nói không thèm nói. Cười không thèm cười. Sức mạnh ngầm chảy trôi. Không lời. Chờ hành động.

Giặc Ân sang cướp nước ta. Hung hăng tàn ác khôn lường. Ân Vương viên tướng cầm đầu. Hình dạng cổ quái dữ tợn. Chúng đốt phá nhà dân. Giết người cướp của khắp nơi. Quân tướng của Hùng Vương đánh quyết liệt. Nhiều phen thua, không thắng. Vua rất đau buồn.

Vua phẫn uất.

Vua Hùng lo lắng phái sứ giả. Tìm hiền tài cứu nước giúp vua. Sứ giả mệt nhoài chạy tứ tung. Thôn làng, rừng núi, thị thành, góc sâu… im phăng phắc. Chưa tìm ra vị tướng tài ở ẩn. Người anh hùng đó đang ở đâu? Anh hùng hỡi! Anh hùng ở đâu?

Sứ giả ngày ngày, lại đêm đêm, lầm lụi trên đường tìm anh hùng cứu nước. Ông vừa đi vừa nghĩ miên man, suýt vấp ngã giữa bụi rậm cây rừng. Những ý nghĩ bùng lên như sóng trong đầu ông, không gì ngăn cản nổi. Nó cứ bùng dậy dữ dội. Hết đợt sóng bùng này, đến lớp sóng khác.

Bùng rằng:

“Lúc lâm nguy, vua mới vỡ ra. Tìm tướng tài rất khó. Ai trung thành với vua, liều mình cứu vua, cứu nước? Ai dám hy sinh tính mạng của mình bảo vệ vua đây? Ai dâng kim khí vũ trang diệt thù? Ai gom cơm áo gạo tiền nuôi quân hùng, tướng mạnh? Ai góp con mình đi lính chiến chinh? Ai xả thân còn cái lai quần cũng đánh giặc?

Bọn quần thần nịnh hót rất đông. Thời bình họ ung dung tìm mưu ma chước quỉ mua quyền, chiếm thế lực. Có quyền lực tối thượng trong tay, họ làm mọi trò giả dối, lừa vua, nạt dân, vơ vét của cải để vinh thân, phì gia. Hành hạ dân đủ trò, đủ kiểu. Mánh khoé mưu mô, chẳng coi dân ra gì. Dân chỉ là đám đông thất thế. Chịu quằn mình dưới roi sắt, dùi cui và sưu cao, thuế nặng. Không ai dám can vua điều hay lẽ thiệt. Dân càng thất học, càng dễ cai trị. Dân đói khổ, ốm thiếu thuốc. Dân đói, dân đau, dân chịu. Dân bị lừa bán mua đất ruộng vườn, không còn chỗ trồng cấy sinh nhai lâu dài, chẳng ai thương. Dân chỉ là đám đông. Không được quyền làm người Tự Do, tự đứng lên xây xã hội công bình, dân chủ. Vua là cha Trời cai trị. Dân là con chịu sống tôi đòi, nô lệ. Dưới vua còn một hệ thống chằng chịt rừng gai mây nhọn hoắt bao bọc, nắm lợi quyền. Dân chỉ còn là một đám đông thụ động, lầm than.

Ôi! Xứ sở lạ lùng. Dân chẳng ai dám nói ra những chữ “Tự Do, Dân Chủ, Quyền Con Người”. Những chữ Thượng đế ban từ thuở sinh ra con người, bỗng trở thành cấm kỵ. Những chữ ấy nhẹ bay như gió, như trăng sao, như hơi thở, đẹp như hoa, thơm như nước trong nguồn, để con người sống. Có gì đâu mà “nhạy cảm” đáng gờm. Có gì đâu mà ta phải bảo nhau kiêng với kỵ. Dân càng có quyền Tự Do, Dân Chủ, Quyền Con Người thì nước càng mạnh, càng giàu. Làm vua một đất nước có Nhân Quyền thật sung sướng biết bao! Mọi chuyện đại sự quốc gia trở nên minh bạch, đàng hoàng. Đám quan tham không dám lộng hành. Mưu ma quỉ đến mấy cũng đều phải kinh sợ trước tai mắt Nhân Dân. Mọi cá nhân đều đủ trí đức, đủ sức mạnh, tự đứng thẳng lưng, vững vàng trên chính đôi chân của mình, toan lo đời sống cho mình, góp tri thức xây đắp, bảo vệ quốc gia. Làm vua một đất nước với muôn dân Tự Do như thế, tuyệt vời biết bao. Ôi! Đức vua! Đức vua! Tôi yêu ngài biết mấy. Nên sóng tràn đôi môi.

Tiếc thay! Lúc đất nước thái bình, vua không để tâm chăm sóc Sức Mạnh Tự Do Nhân Quyền cho dân. Đợi đến khi nước nhà bị giặc xâm lăng, vua mới vời đến dân làm cứu cánh. Tình cảnh thật trớ trêu.

Giặc tấn công, quần thần không chống cự nổi. Họ đều béo bệu, mắt phệ, bụng to, đầu rỗng, trí khí nhụt, chạy lụt cụt phía sau. Họ còn lo giữ đống vàng bạc của cải, nhà lầu tham cướp được.

Có người ôm đầu kêu thầm thĩ:

- Bất tài. Vô dụng. Vô dũng khí. Thân còn không giữ nổi, giữ vàng bạc, nhà đất làm sao đây?
Những cô vợ lớn, bồ nhí ơi!
Liệu mà cao chạy xa bay/ Yêu đương nhăng nhố có ngần này thôi/ Thân tàn ma dại mất rồi/ Tôi lo cho cái xác già chưa xong/ Thôi thôi đừng có trông mong/ Chức quyền nhão nhoét một thời đi tong.
Đức vua ơi! Đức vua! Những người như thế! Vua không thể cậy trông vào họ. Nếu thế này thì mất nước ngay. Vua phải tìm đến Dân. Vua cần phải có Nhân Dân với sức mạnh Tự Do sừng sững làm thành đồng giữ nước…”

Quả thật, điều sứ giả nghĩ thấu đến tai vua, theo sóng cảm ứng truyền năng lượng. Vua đang một mình, lúng túng, âu lo. Lúc này vua cần Dân biết bao. Ngài vội vã ra lệnh:

- Sứ giả ơi! Hãy mau mau. Về với Dân, tìm hiền tài đánh giặc, cứu nước, cứu nhà, cứu thân ta. Ta vẫn tin trong biển người dân Việt. Nhân tài như lá mùa thu. Hiền nhân đời nào cũng có.

Sứ giả tuy có suy nghĩ lan man, nhưng lòng ông vẫn mang theo Niềm Tin của đức vua và của chính ông.

Ông cứ kiên nhẫn lặn lội thôn cùng, xóm vắng xa xôi, không mệt mỏi. Ngày lại đêm, tiếng ông vang tiếng loa cấp báo, tìm tướng tài diệt giặc, cứu muôn dân.

Một hôm, sứ giả đi đến một làng quê xanh bóng tre, ngân rung tiếng chuông chùa. Làn gió đưa hương la đà níu bước chân cụ ngựa già. Sứ giả hạ mã dưới luỹ tre xanh. Ông sai tiểu đồng giải chiếu, bầu rượu trong tay, sứ giả ngả nghiêng say luỹ tre làng.

Ông thấy luỹ tre già như cổ tích. Những cây tre già, trẻ, những mầm măng, quấn lấy nhau thành chùm, thành hang ổ, rễ xoắn quyện cắm sâu trong lòng đất. Không biết điểm đầu điểm cuối nó ở đâu? Không thể tách cây khỏi gốc nó. Không thể đào bật một mầm măng non mọc lên từ đám rễ gai chằng chịt. Khám phá sự sống của đời tre, ngạc nhiên thấy nó giống đời người. Một vòng tuần hoàn không ngưng nghỉ. Vòng luân hồi. Cây tre như từ trời xanh tung xuống, tụm nhau mọc thành lũy, thành rừng, thành chòm, thành khóm, bốn mùa xanh, tỏa bóng mát lành khắp nơi trên đất nước ta. Xuân, Hạ, Thu, Đông cây tre đều xanh tươi màu lá cây. Đời tre không có mùa lá rụng, cứ xanh ngọn, xanh cành đến khi từ giã cuộc đời, lá vẫn còn xanh, gốc lại nẩy thành măng mập tròn trắng nuột. Tre già măng mọc. Măng bật nụ mầm nhú dần lên từ gốc tre mẹ bao dung dưới lòng đất. Một ngày gặp nắng trời, măng vượt đất chồi lên thành thân tre dài, vàng óng, ngấn lên từng đốt vàng, nhẹ nhàng hiến dâng đời tre cho đời người. Măng già thành tre. Một lá tre già vàng úa rụng xuống là trên đầu cành một búp lá dài nhỏ như cái tăm xòe ra thay thế. Lá tre nảy ra từ các đốt tre, thành chùm, thành tán, xòa che bóng mát cho người. Bất kể đất đồi sỏi đá, đất rừng, đất đồng ruộng, thôn làng, đất bờ sông, bến bãi…chỗ nào cây tre cũng mọc lên thẳng ngay, xanh tốt, quấn lấy nhau tồn tại muôn đời, chẳng cần bàn tay người chăm bón sớm hôm. Hồn tre là hồn đất, hồn người Việt Nam đời này qua đời khác vượt lên gió mưa, bão tố, xích xiềng, đạn bom…mà vươn ngọn xanh thẳng tắp lên trời cao đón nắng mặt trời, là sức sống bất diệt của dân tộc.

Cao hứng giữa hồn tre bay bổng trầm lắng tiếng sáo diều. Rượu một bầu. Thơ một túi. Ngà ngà, say ngả, say nghiêng, sứ giả cất tiếng hát: 

Ta Là Dân

Thái cực một vòng, Âm- Dương hai khối
Tạo hoá chuyển vần, Nhật Nguyệt sáng soi
Tinh huyết Rồng Tiên sinh nòi giống
Được rất ít Người “Thuộc về Dân”
Vua Hùng xuống đồng cùng Dân
Bước đi, sóng dậy, chớ ngại ngần
Sông, núi, làng, Dân quây quần vui sống
Ta là Dân, Nước cũng là Nhà
Tình yêu rộng lớn, hoá sơn hà
Trồng cây, cấy lúa, vạn vật hoan ca
Giặc tà ma biết nhục, tự lùi xa
Đạo Mẹ Đất Trời sáng hồn ta
Chữ Tình, Tính Thiện, Lòng Nhân
Hạnh phúc đời ta, dâng Dân Nước
Ta Là Dân Hoa Lúa Hát Muôn Đời.

Sứ giả cất cao tiếng hát Ta Là Dân Hoa Lúa Hát Muôn Đời . Ông quên cả tiếng rao cầu hiền tài lanh lảnh khắp núi sông.

Nhưng kỳ lạ thay! Xa xa trong làng tre xanh, cậu bé Gióng ba tuổi thức dậy nghe được tiếng Dân Hoa Lúa hát ca. Hình như từ lúc cậu sinh ra đến giờ, lần đầu tiên cậu nghe thấy tiếng một vị quan lớn trong triều đình hát “Ta Là Dân Hoa Lúa Hát Muôn Đời”. Gióng bỗng bật lên tiếng nói. Cậu hỏi mẹ:

- Mẹ ơi! Bên luỹ tre làng, có tiếng người hát rất hay. Ai hát đấy mẹ ơi!

Mẹ Gióng đang ầu ơ ru con. Lần đầu tiên mẹ nghe được tiếng nói của con trai sau bao năm ròng chờ đợi trong vòng tay đẫm nước mắt. Tiếng Gióng cất lên, ấm áp, chứa chan âm lượng của yêu thương, của tình bác ái, tự do lan truyền từ hỗn mang vọng về. Từng giọt nước mắt rơi thấm trên môi, trên má, mẹ Gióng âu yếm nói với con:

- Đó là sứ giả của nhà vua cầu người tài đi đánh giặc đấy con ạ.

Bà bùi ngùi xa xót ôm chặt Gióng vào lòng thầm thì:

- Con ơi! Con của mẹ chậm đi, chậm nói. Biết bao giờ, đi đánh giặc giúp vua.

Gióng thương mẹ bật lên tiếng nói vang như tiếng của người anh hùng mà muôn dân mong chờ:

- Mẹ gọi sứ giả vào đây cho con!

Nói xong cậu lại im như thóc. Mẹ vừa mừng, vừa sợ, vội kể xóm giềng. Mọi người xô tới, ngẫm sự lạ.

Một người liều nói:

- Ta mời sứ giả xem cậu muốn gì.

Sứ giả bước vào nhà. Nhìn chú bé, cười khinh bỉ:

- Đứa trẻ lên ba, mới học nói. Mày đi không vững, đứng không xong. Mày mời ta đến để làm gì? Mất thời gian ta hạ cố đến đây. Nhà quạnh hưu, đứa trẻ không cha. Mày biết gì về chuyện quốc gia đại sự, mà dám xưng xưng mọc ngược lạm bàn ý kiến.

Gióng nhìn sứ giả mỉm cười, bình thản. Gióng thừa biết bọn quan khinh rẻ dân thường yếu thế. Không thèm để ý, coi thường lớp trẻ, lúc nào cũng tưởng họ ngây thơ không biết gì. Nhưng thực tế, họ đã biết gấp nhiều lần điều quan nghĩ.

Gióng không chấp ông sứ giả mắc bệnh quan liêu, kiêu căng. Cậu chững chạc, ra lệnh thần thông:

- Về bảo vua rèn cho ta một con ngựa sắt. Một thanh gươm sắt. Một áo giáp sắt và một nón sắt. Ta sẽ đánh đuổi giặc dữ cứu dân làng, cứu mẹ của ta!

Sứ giả giật mình. Ông choáng lạnh, hình như thần nhân hiện. Sức mạnh phi thường giữa lòng dân. Hay lòng dân là sức mạnh Thánh Thần. Dân vùng lên đánh giặc, cứu nước non nguy biến. Cứu xóm làng, cứu mẹ già, con dại, cứu muôn vật, muôn người, chứ đâu phải cứu vua quan tham ác.

Lập tức sứ giả phi ngựa về tâu vua. Ông tỏ rõ nỗi sợ về sự vô tâm, vô cảm, bất trung, bất nghĩa, tàn hại của mình và của triều đình với nhân dân. Lòng dân như sóng thuỷ triều. Dân đưa thuyền vượt qua sóng lớn. Không thể coi thường. Chỉ có sức mạnh lòng dân mới cứu được nước nhà qua cơn nguy biến.

Hùng Vương mừng vui, nhận biết tín hiệu nhân dân quyết ra tay diệt thù, cứu nước, liền ra lệnh:

- Gom sắt rèn ngựa, gươm, nón, áo giáp, như lời cậu bé lên ba phán.

Mọi thứ rèn xong, nặng không ai vác nổi. Hàng chục người lính cung đình xúm xít. Gươm không nhúc nhích.   Vua phải ra lệnh lan rộng toàn dân, chiêu tập hàng vạn quân sĩ, chở ngựa sắt, các đồ sắt đến cho Gióng.

Tin quân sĩ khiêng ngựa sắt về làng. Mẹ Gióng sợ hãi bảo con:

- Chết rồi con ơi! Chuyện nhà vua không phải đùa. Quân sĩ ầm ầm ngoài bãi. Con còn nhỏ dại. Biết làm sao bây giờ. Mẹ con mình dính tội chết rồi con!

Xót mẹ, Gióng vụt ngồi dậy:

- Việc đánh giặc mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều.

Mẹ vội thổi cơm Gióng ăn. Nấu nồi nào, ăn hết nồi ấy. Ăn một nồi cơm. Gióng lớn thêm trông thấy. Lại ngốn hết ngay nồi khác. Mẹ cho ăn, Gióng lớn như thổi. Thành chàng trai khỏe mạnh.

Một mình mẹ không đủ sức nuôi Gióng lớn nhanh. Hết gạo, mẹ kêu gọi xóm làng góp gạo nuôi Gióng mau lớn khoẻ, để đi đánh giặc. Dân nô nức đem gạo khoai. Hoa quả, củ, bánh đầy một sân. Đưa đến bao nhiêu, Gióng ăn hết. Vẫn đòi ăn không nghỉ. Dân vét đến hạt gạo, củ khoai, bắp ngô cuối cùng của mình nuôi Gióng.

Sau đó, Gióng bảo tiếp:

- Mẹ kiếm vải cho con mặc.

Dân làng này sang làng khác đua nhau mang vải lụa, may áo quần Gióng mặc. Gióng lớn lạ kỳ. Quần áo may xong đã chật. Dân khắp xóm vắng thôn cùng, dốc lòng mang vải lụa, chắp nối thêm.

Gióng lớn bùng lên trước sức mạnh lòng dân. Đầu Gióng chạm nóc nhà. Ai nấy đều kinh ngạc.

Quân sĩ hợp lực lòng dân, khuân ngựa gươm, nón áo sắt đến nhà cùng Gióng vùng đứng lên diệt thù.

Gióng bước ra vươn vai một cái. Người bỗng cao to sừng sững. Chân dài hơn trượng. Hét lên một tiếng như sấm “Ta là tướng nhà Trời!”

Gióng mặc áo giáp sắt, đội nón sắt. Tay cầm gươm múa mấy vòng. Từ biệt mẹ, dân làng yêu dấu. Nhảy lên lưng ngựa sắt chồm lên. Phun thẳng luồng lửa đỏ rực về trại lính thù.

Gióng thúc chân, ngựa phi như bay. Sải những bước hàng chục con sào. Rung chuyển Đất Trời. Bùng cháy sơn khê. Lòng dân hừng hực dồn đánh kẻ thù bốn phương, tám hướng.

Trong chớp mắt, ngựa xông lên. Đồn giặc đóng ba bốn khu rừng. Lưỡi gươm Gióng vung lên loang loáng. Giặc tiến chừng nào, chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa, thiêu cháy đồn trại. Lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng. Khói mịt mù, giặc la khóc như ri. Tướng giặc vẫn hò hét xông tới. Gióng càng đánh khỏe. Thây giặc nằm ngổn ngang đầy rừng.

Bỗng gươm sắt gẫy. Không bối rối. Gióng thuận tay nhổ tre bên đường. Quật tới tấp vào tụi giặc. Chẳng mấy chốc, giặc tẩu tán. Ân Vương bị quật ngã tan xác. Tàn binh chạy lục tục xin hàng. Quân dân vua Hùng quật cường, xông ra trói chúng.

Không đầy một buổi. Gióng trừ xong giặc. Ngựa Gióng tiến đến chân núi Sóc Sơn. Gióng cởi giáp bỏ lại. Cưỡi ngựa bay thẳng lên Trời! Không kể công lao. Không đòi quyền cai trị nhân dân. Không vơ vét bạc vàng của cải của nhân dân.

Trên Trời cao vời vợi, Gióng ngậm ngùi thương mẹ. Những đêm không trăng không sao, trên đỉnh ngọn núi Sóc Sơn, Gióng hát ru mẹ già: “Mẹ ơi! Mẹ ơi! Một đời lầm lụi/ Trong chớp mắt/ Mấy cuộc binh đao/ Tiễn chồng con vào trận đánh/ Nước mắt mẹ rơi, máu trào hạt gạo/ Quẩy gánh sang sông chờ chồng biền biệt/ Tóc bạc đơn côi/ Bồng cháu về núi, tránh nạn kiêu binh/ Một mình mẹ chịu bao tủi hờn, cay đắng/ Máu rong một đời/ Nuốt hận vào trong/ Mẹ ôm cháu non ấm lòng/ Mẹ ơi! Mẹ ơi! Gióng luôn bên Mẹ/ Trao truyền sức mạnh Lòng Dân không bến bờ”.

Vua Hùng lập Đền thờ Gióng ở làng. Phong Phù Đổng Thiên Vương. Một trong bốn vị thần bất tử Việt Nam .

Nay còn dấu tích những dãy ao. Kim Anh, Đa Phúc đến Sóc Sơn. Những vết chân ngựa Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa. Mang tên làng Cháy còn đây. Những cây tre Gióng nhổ quật lũ giặc. Lửa đốt màu xanh ngả màu vàng. Giống tre vẫn còn. Gọi là tre ngà hay đằng ngà.

Người Việt Nam muôn đời truyền nối, kể truyện Thánh Gióng, là câu chuyện Lòng Dân Việt đánh giặc giữ nước. Là bản hùng ca Nhân Dân đánh giặc. Giặc đến nhà, vua tìm tướng tài ẩn trong dân. Dân góp kim khí, lương thực, áo quần, quân lính. Sức mạnh lòng dân như sức mạnh Thánh thần, truyền kỳ năm tháng. Thời nào vua cũng phải dựa vào sức mạnh lòng dân mới đánh đuổi được giặc xâm lăng. Thiên nhiên lợi thế là rừng. Lửa là vũ khí bí ẩn. Sông núi phong thuỷ bủa vây quân thù. Người Việt Nam mọi thời đại ngợi ca Thánh Gióng mang thông điệp: 

Lòng Dân Giữ Nước

Giặc Ân xâm chiếm nước ta
Hùng Vương hỏi kế muôn dân giữ nhà
Tâu rằng phải cầu Long Vương
Âm- Dương bày sách phương tìm Đại Nhân
Sứ giả khắp chốn vua sai
Đột nhiên cậu bé lên ba lớn dài
Ngựa sắt, kiếm sắt dân mài
Gạo, thịt, bánh, nón, vải, lính dân gom
Nuôi anh hào thành tướng tài
Dồn quân, vung kiếm, phi thương giặc hàng
Roi sắt gãy, nhổ tre làng
Lửa thiêu loang loáng chết khô trại đồn
Ân Vương tan quân hết hồn
Thánh Gióng cởi giáp bay vào ngàn phương
Dân phong Phù Đổng Thiên Vương
Thần Tứ Bất Tử thương dân diệt thù
Vị Thần Sức Mạnh Lòng Dân
Đồng Tâm trên dưới, Âm- Dương song trùng
Thiên nhiên, phong thuỷ oai hùng
Núi sông cây cỏ, vạn vật cùng đứng lên
Giặc tan bởi lực dân bền
Thánh Gióng Tri Thức Nhân Dân muôn đời
Tâm linh Trời Đất huyền thiên
Kinh nghiệm chống giặc cha ông trao truyền
Thánh Gióng Sức Mạnh Lòng Dân
Đời đời truyền kiếp vua quan tôn thờ

Trải mấy nghìn năm nước Việt luôn bị giặc xâm lăng. Dân Việt như Thánh Gióng luôn bùng dậy đánh giặc gữi nước, giữ làng. Các triều đại vua quan đều phụng thờ Thánh Gióng. Nhưng mấy ai hiểu thờ Thánh Gióng nghĩa là thờ Sức Mạnh Lòng Dân. Có người hiểu lại cố tình lờ đi.

Đất nước hoà bình, vua quan quên Lòng Dân đánh giặc. Họ cứ ngỡ đứa bé lên ba tự nó lớn thành Phù Đổng Thiên Vương. Đứa bé lên ba đó, bỗng lớn khổng lồ bởi gạo thịt dân góp, dân nuôi. Ngựa sắt, roi sắt dân gom từng cân. Quân lính trùng điệp do dân hiến con mình dâng đất nước. Sức Mạnh Nhân Dân là sức mạnh Thánh Thần. Hình tượng Thánh Gióng là hình tượng Nhân Dân Việt hoà cùng vũ trụ. Tôn thờ Thánh Gióng là tôn thờ Sức Mạnh Lòng Dân.

Thánh Gióng Lòng Dân! Sức mạnh Thánh Thần. Vua quan bất kỳ thời đại nào cũng phải tôn thờ và phụng sự Nhân Dân. Nhân dân là Thánh Gióng- Là Sức Mạnh, là vị cứu tinh của dân tộc Việt Nam. 




Hồ Gươm Mùa Hoa Phượng 2012.
___________________________________________




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 27.05.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com